May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
LỜI NÓI ĐẦU
Thị trường chứng khoán Việt Nam có lịch sử không lâu đời. Ngày 11-7-1998
Chính phủ đã ký Nghị định số 48/CP ban hành về chứng khoán và TTCK chính
thức khai sinh cho Thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó cho đến 2005, thị
trường luôn ở trong trạng thái gà gật. Mốc thời gian kể từ đầu năm 2006 được coi
là mang tính chất phát triển “đột phá”, tạo cho thị trường chứng khoán Việt Nam
một diện mạo hoàn toàn mới với hoạt động giao dịch sôi động tại cả 3 “sàn”: Sở
giao dịch Tp.Hồ Chí Minh, Trung tâm Giao dịch Hà Nội và thị trường OTC. Năm
2007 đánh dấu một giai đoạn thị trường chứng khoán bùng nổ. Cùng trong xu thế
chung của nền kinh tế, TTCK Việt Nam khép lại năm 2008 với sự sụt giảm mạnh.
Cùng với những diễn biến phức tạp cả trong nước và trên trường quốc tế, năm
2009 trôi qua với những sự lên xuống khó lường của những mã cổ phiếu. Vậy là,
chỉ trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, thị trường chứng khoán đã trải qua hầu
như mọi giai đoạn thịnh suy kéo theo đó là đủ cung bậc cảm xúc của nhà đầu tư.
Tuy nhiên, có một thực tiễn là nhà đầu tư chứng khoán ở Việt Nam khá đông
nhưng số người thực sự hiểu biết về phương pháp đầu tư chứng khoán lại không
nhiều. Đa phần trong số họ đều hành động theo cảm tính và bị tâm lý số đông lấn
áp. Điều này chính là một trong những nguyên nhân gây rối loạn thị trường khi
không thể định giá cổ phiếu theo đúng cách.
Từ thực tiễn đó, nhóm sinh viên xin mạnh dạn thực hành những kiến thức được
tiếp thu vào việc định giá một mã cổ phiếu trên thị trường. Cổ phiếu chúng tôi
chọn là mã HOM của công ty Cổ phần Xi măng Hoàng Mai - một mã cổ phiếu mới
chính thức được lên sàn vào tháng 7/2009 và đã ngay lập tức thu hút được sự quan
tâm của các nhà đầu tư.
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
1
May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
MỤC LỤC
Công ty Cổ phần Xi măng Hoàng Mai là doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc
Tổng Công ty xi măng Việt Nam, trụ sở tại Thị trấn Hoàng Mai, huyện Quỳnh Lưu
tỉnh Nghệ An. Tiền thân là Công ty xi măng Nghệ An được thành lập ngày 07
tháng 10 năm 1995, sau các bước triển khai theo quy định về đầu tư xây dựng,
ngày 15 tháng 4 năm 1996, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 216/TTg phê
duyệt đầu tư dự án nhà máy xi măng Hoàng Mai - Nghệ An công suất 4.000 tấn
clinker/ngày (tương đương 1,4 triệu tấn xi măng/năm). Hiện nay, Công ty là thành
viên duy nhất thuộc khu vực Miền Trung của T ổng công ty Công nghiệp xi măng
Việt Nam (VICEM).
Ngày 09/03/2007, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 367/QĐ-BXD về việc
thực hiện cổ phần hóa các công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng Công
ty Xi măng Việt Nam (nay là Tổng Công ty Công nghiệp Xi măng Việt Nam).
Thực hiện chủ trương của Nhà nước về việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà
nước, công ty xi măng Hoàng Mai đã thành lập Ban cổ phần hóa phối hợp với
Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt triển khai thực hiện các thủ tục ngay từ
đầu năm 2007. Đến tháng quý III/2007 các thủ tục cổ phần hóa hoàn thành, ngày
30/11/2007 Công ty tổ chức bán đấu giá cổ phiếu cho các cổ đông. Ngày
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
3
May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
03/3/2008 Công ty tổ tức Đại hội đồng cổ đông lần thứ nhất và thành lập Công ty
cổ phần xi măng Hoàng Mai và bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát Công
ty.Ngày 01/04/2008, Công ty Cổ phần Xi măng Hoàng Mai đã chính thức đi vào
hoạt động với số vốn điều lệ 720 tỷ đồng . Là một trong 9 thành viên của VICEM,
tỷ lệ sở hữu của VICEM trong HOM là 70.96% tương đương 510,918 tỷ đồng
trong đó đại diện sở hữu là các cá nhân.
Công ty cổ phần xi măng Hoàng Mai là đơn vị đầu tiên của Tổng Công ty CN
xi măng Việt Nam áp dụng mô hình tiêu thụ sản phẩm qua nhà phân phối chính, xi
măng Hoàng Mai đã tận dụng được năng lực của xã hội và xác lập lợi ích hài hòa
bố tiếp nhận hồ sơ đăng ký niêm yết của Công ty Cổ phần Xi măng Hoàng Mai.
Theo đó, Công ty cổ phần Xi măng Hoàng Mai sẽ được chấp thuận và chính thức
niêm yết cổ phiếu của mình tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong thời gian
tới.
Ngày 02/07/2009 ,CTCP Xi măng Hoàng Mai gửi công văn số 1226/TB-TTLK
đến Trung tâm Lưu ký Chứng khoán về việc đăng ký cổ phiếu.
Ngày 03/07/2009 Sở GDCK Hà Nội đã có Quyết định chấp thuận niêm yết cổ
phiếu của CTCP Xi măng Hoàng Mai.
Ngày 9/7/2009, cổ phiếu HOM của CTCP Xi măng Hoàng Mai giao dịch tại Sở
GDCK Hà Nội (HNX). Theo bản cáo bạch của Xi măng Hoàng Mai và thông tin từ
HNX, số lượng cổ phiếu HOM đã đăng ký niêm yết là: 72.000.000 cổ phiếu, tương
ứng với 720.000.000.000 VND. Trong đó, số cổ phiếu thuộc diện hạn chế chuyển
nhượng (cổ phiếu của các thành viên HĐQT, Ban TGĐ, Ban KS) chiếm tới trên
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
5
May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
70%. Như vậy, số lượng cổ phiếu thực tế được phép giao dịch chuyển nhượng chỉ
là gần 30%.Kết thúc phiên giao dịch đầu tiên, giá khớp lệnh cao nhất của HOM đạt
18.000 đồng/CP, thấp nhất 15.500 đồng/CP và giá khớp lệnh bình quân đạt 16.600
đồng/CP. Cổ phiếu Hoàng Mai đã có phiên chào sàn khá thành công với mức giá
bình quân trong phiên giao dịch đạt 16.600đ/cp, là mức giá cao nhất trong số các
mã cổ phiếu của công nghiệp xi măng Việt Nam. Kết thúc phiên giao dịch, đã có
367.800 đơn vị cổ phiếu HOM được chuyển nhượng, tương đương với giá trị 6,1 tỷ
đồng, dư cầu còn lại là 478.100 cổ phiếu. Tương quan cung cầu của Hoàng Mai
trong phiên đầu giao dịch là khá tích cực khi khối lượng đặt mua lên tới 845.900
đơn vị, bằng tới 1,69 lần khối lượng đặt bán. Khối lượng đặt mua và khối lượng
giao dịch của Hoàng Mai ở mức cao trong bối cảnh tính thanh khoản toàn thị
trường hạn chế hiện nay thể hiện sự quan tâm của nhà đầu tư đến mã cổ phiếu này.
Điều này cũng có thể giải thích bởi nhiều nhà phân tích chứng khoán cho rằng với
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
Tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Việt Nam:
• Về ngắn và trung hạn:
Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế suy giảm. Xu hướng suy giảm tốc độ tăng trưởng
GDP đã bộc lộ rõ qua 2 tháng đầu năm 2009: sản xuất công nghiệp chỉ tăng 2,5%,
trong đó riêng khu vực nhà nước còn giảm – 4,4% so với cùng kỳ 2008.
Thứ hai, thương mại giảm sút. Nền kinh tế nước ta có độ mở khá lớn (kim
ngạch xuất nhập khẩu trên GDP vượt quá 170%) nên tác động của việc suy giảm
tăng trưởng thương mại thế giới có tác động tiêu cực với tăng trưởng kinh tế trong
nước. Đặc biệt là việc thu hẹp các “đầu ra” chính cho xuất khẩu hàng hoá của ta là
Mỹ, EU, Nhật Bản (thường chiếm tổng cộng trên 50% kim ngạch xuất khẩu) sẽ
làm giảm động lực tăng trưởng quan trọng này. Trong khi đó, Trung Quốc, hiện
chiếm khoảng 7% kim ngạch xuất khẩu và 20% kim ngạch nhập khẩu của ta, lại
đang giảm nhập khẩu nguyên liệu từ Việt Nam, đồng thời tăng mạnh áp lực cạnh
tranh về giá cả lên các doanh nghiệp của ta.
Thứ ba, đầu tư nước ngoài sụt giảm. Dòng FDI đang giảm mạnh trên toàn cầu,
sẽ gây khó khăn cho việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam
trong thời gian tới. Tính đến 20/2/2009, số dự án FDI giảm 65% còn vốn đăng ký
chỉ đạt 1,5 tỷ USD, giảm 69% so với cùng kỳ 2008. Trong khi đó, dòng vốn đầu tư
gián tiếp gần như cạn kiệt. Dòng kiều hối cũng sẽ sụt giảm.
Thứ tư, du lịch và xuất khẩu lao động sa sút. Lượng khách nước ngoài vào Việt
Nam tháng 1/2009 ước tính đạt 370 ngàn lượt người, giảm 11,9% so với cùng kỳ
2008. Trong khi, nhiều lao động xuất khẩu buộc phải về nước trước thời hạn.
Thứ năm, mất cân đối vĩ mô trầm trọng hơn. Về vấn đề thất nghiệp, nhiều
doanh nghiệp xuất khẩu phải giãn thợ hay sa thải công nhân góp phần làm giảm
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
8
May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
việc làm, tăng tỷ lệ thất nghiệp và giảm thu nhập của một bộ phận người lao động.
trong lĩnh vực sản xuất. Kinh tế Hoa Kỳ đã tăng trưởng 2,2% trong quý III/2009.
Ngoài ra, theo thông tin từ Chính phủ nước này, mới đây, tỷ lệ nộp đơn xin trợ cấp
thất nghiệp đã giảm xuống mức thấp nhất kể từ tháng 9/2008.
Với khu vực EU, hầu hết các nước đã bắt đầu tăng trưởng từ quý III/2009. Kinh
tế Nga đã tăng trưởng tốt trong quý IV/2009 và dự đoán năm 2010 sẽ đạt mức tăng
trưởng khoảng 3 - 5%. Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng dự đoán các nền
kinh tế đang phát triển trong khu vực sẽ đạt mức tăng trưởng khoảng 6,6% năm
2010; Trung Quốc sẽ tăng trưởng 8,9%, Ấn Độ 7%.
-Kinh tế khu vực cũng vẫn đang gặp khó khăn, chưa có dấu hiệu của phục hồi rõ
rệt và tăng trưởng mạnh trở lại
Khi thị trường xuất khẩu toàn cầu sụp đổ, đầu tư trực tiếp của nước ngoài giảm
mạnh, những nước ASEAN nào có nền kinh tế càng mở càng bị tác động nặng nề.
Đa số các nền kinh tế trong ASEAN thuộc nhóm 50 nước xuất khẩu lớn nhất thế
giới. Trong đó,Malaysia (xuất khẩu bằng 100% GDP), Singapore (xuất khẩu bằng
200% GDP) và Thái Lan (xuất khẩu bằng 60% GDP) nằm trong danh sách 10 nước
phụ thuộc nhiều nhất vào xuất khẩu.
Tháng 10/2008, Singapore đã trở thành nước châu Á đầu tiên bước vào suy
thoái. Tình hình ngày càng nặng nề sau khi các nền kinh tế lớn trên thế giới lâm
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
10
May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
vào khủng hoảng, trong đó có các thị trường xuất khẩu chủ chốt của Singapore như
Liên minh châu Âu, Hoa Kỳ, Nhật Bản.
Trong cùng một cảnh ngộ tại vùng Đông Nam Á, có thể kể đến Thái Lan. Nếu
trước lúc xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, tỷ trọng xuất khẩu
trong nền kinh tế nước này chỉ là 40 %, thì hiện nay, tỷ lệ đó đã tăng lên mức 60%.
Với tình trạng kinh tế khó khăn tại ba thị trường nhập khẩu chủ chốt là châu Âu,
Hoa Kỳ và Nhật Bản từ sau khi khủng hoảng tài chính bùng phát, rõ ràng xuất
khẩu của Thái Lan, Singapore và của các nước châu Á khác đều bị tuột dốc.
Trong bối cảnh kinh tế thế giới suy thoái, nhiều nền kinh tế tăng trưởng âm thì
mức tăng GDP của Việt Nam năm 2009 là 5,32% là một thành công lớn. So với
mức 6,18% của năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm nay thấp hơn, nhưng đã
vượt mục tiêu.
Nếu như hai quí đầu, sức tăng trưởng kinh tế vẫn bị chững lại, chỉ dưới 5% do
còn độ trễ của đà suy giảm kinh tế những tháng cuối năm 2008, thì hai quí sau, tốc
độ đã nâng dần lên 6,04% và 6,9%.
Trong cơ cấu GDP, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,83%, khu vực
công nghiệp và xây dựng tăng 5,52% và khu vực dịch vụ tăng 6,63%.
Ông Nguyễn Đức Hòa, Thứ trưởng Bộ KH-ĐT, Tổng cục trưởng Tổng cục Thống
kê nhận định, Việt Nam là một trong số ít các nước giữ được tốc độ tăng trưởng
dương tương đối cao.
-Các chính sách vĩ mô của Chính phủ trong thời gian gần đây là tương đối đúng và
cơ bản là kịp thời nhằm kiềm chế lạm phát .
Trong bối cảnh kinh tế thế giới lâm vào suy thoái, hàng loạt quốc gia tiến hành
thực hiện những gói kích cầu nhiều nghìn tỷ USD. Trong khi đó, Chính phủ lựa
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
12
May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
chọn giải pháp hỗ trợ lãi suất mà không chọn giải pháp như gói kích thích kinh tế
các nước, và không chỉ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa mà còn hỗ trợ cho cả hộ sản
xuất
Theo lý thuyết kinh tế vĩ mô và kinh nghiệm kích thích kinh tế của các nước, để
chống suy giảm kinh tế, chính sách tài khoá đóng vai trò cơ bản, còn chính sách
tiền tệ là hỗ trợ.
Tuy nhiên, việc sử dụng các gói kích thích kinh tế ở các nước cũng khác biệt
nhau, tuỳ thuộc vào khả năng của ngân sách nhà nước, tình trạng khủng hoảng tài
chính và mục tiêu kinh tế vĩ mô của mỗi nước.
Gói kích thích kinh tế của Anh tương ứng 5% GDP, Mỹ (30%), Trung Quốc
cho thấy quyết sách của Chính phủ là đúng đắn.
Tuy nhiên, theo lý thuyết kinh tế vĩ mô, việc thực thi chính sách tiền tệ “nới
lỏng” để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nếu sử dụng dài hạn thì không làm tăng trưởng
kinh tế mà tác động làm tăng lạm phát, tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn hơn sản
lượng tiềm năng, nói cách khác lớn hơn mức tăng sản lượng mà nền kinh tế sử
dụng tối đa các nguồn lực, sẽ dẫn đến lạm phát cao, ngược lại thì lạm phát thấp.
Bảy tháng đầu năm 2009, kinh tế nước ta dần lấy lại được đà tăng trưởng khi 6
tháng GDP tăng 3,9%, tháng 7, sản xuất nông nghiệp - công nghiệp và dịch vụ tiếp
tục gia tăng, lạm phát là 3,22%.
Trong những tháng cuối năm, mặc dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng
sản xuất - kinh doanh có chiều hướng thuận lợi hơn, nhưng lạm phát có xu hướng
tăng do tác động của chính sách tài khoá, tiền tệ nới lỏng, Nhà nước điều chỉnh
tăng lương và giá một số vật tư đầu vào.
2.1.2 Phân tích ngành:
-Sơ lược về lịch sử phát triển của ngành xi măng trên thế giới:
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
14
May 20, 2010
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CỔ PHIẾU CTCP XI MĂNG HOÀNG MAI
Từ xa xưa, con người đã biết dùng những vật liệu đơn sơ như đất sét, đất bùn
nhào rác, dăm gỗ, cỏ khô băm …để làm gạch, đắp tường, dựng vách cho chỗ trú
ngụ của mình.
Có thể tóm lược các bước hình thành xi măng như sau:
Người Ai Cập đã dùng vôi tôi làm vật liệu chính.
Người Hy Lạp trôn thêm vào vôi đất núi lửa ở đảo Santorin, hỗn hợp này đã
được các nhà xây dựng thời đó ưu ái nhiều năm.
Người La Mã thêm vào loại tro – đất núi lửa Vésuve miền Puzzolles. Về sau
này, phún – xuất – thạch núi lửa được dùng làm một loại phụ gia hoạt tính
chịu cách nhiệt và cách âm, và trở thành danh từ chung “Pozzolana” (Anh),
“Pouzzolane” (Pháp)
vai trò quan trọng ngành công nghiệp xi măng. Chính phủ đã khuyến khích các nhà
đầu tư nước ngoài đầu tư vào ngành công nhiệp này dưới hình thức liên doanh.
Năm 1994, các tập đoàn Chinfon Global, Lucksvaxi, Holderbank đã nhảy vào và
lập những dự án liên doanh : Chinfon, Văn Xá, Sao Mai. Sự bước vào hoạt đọâng
của các công ty liên doanh năm 1997 làm thay đổi cơ cấu thị trường, từ một thị
trường độc quyền chuyển sang thị trường thiểu số độc quyền. Nền tảng và cơ sở
cho việc phân tích thị trường và chiến lược doanh nghiệp ở thị trường thiểu số độc
quyền này dựa trên ba yếu tố chính: chi phí sản xuất, hàng rào ngăn cản các nhà
đầu tư nhảy vào và sự phản ứng mang tính chiến lược giữa các công ty trong ngành
xi măng này. Sự chuyển sang cơ cấu thị trường thiểu số độc quyền làm tăng sức
cạnh tranh trong ngành qua việc giảm giá thành sản phẩm, nâng cao chất lượng sản
phẩm, cải thiện phong cách phục vụ của các công ty, mang lại cho người tiêu dùng
nhiều thuận lợi. Hơn nữa, việc xuất hiện những liên doanh đã loại bỏ được việc
chảy máu ngoại tệ do việc nhập khẩu, sử dụng nguồn tài nguyên trong nước cũng
như việc tận dụng nguồn lực từ nước ngoài.
-Các yếu tố tác động tới cạnh tranh của ngành:
Nhóm SV thực hiện lớp Anh 3_TCQT B_K46
16