BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ T ư PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM THỊ LIÊN
HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM
NHỮNG VÂN ĐỂ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẺN
•
•
•
__
•
Chuyên nghành: Luật hình sự
Mã số: 603840
LUẬN VÃN THẠC SỸ LUẬT HỌC
•
•
•
MỞ ĐẦU
1
Chưong 1. NHŨNG VÂN ĐỂ CHUNG VỂ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH
4
1.1. Khái quát chung về hình phạt tử hình trong luật hình sự
Việt Nam
4
1.2. Lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về hình phạt tử hình
9
1.2.1. Hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam
thời kỳ phong kiến
10
1.2.2. Hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn
thực dân 'Pháp xâm lược (1862- 1945)
ị5
1.2.3. Hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam giai đoạn
1945-1975
2.3. Thực tiễn áp dụng hình phạt tử hình theo BLHS năm 1999 (từ năm
1999 đến năm 2003)
85
Chương 3. MỘT s ố KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH
VỂ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH TRONG LUẬT HÌNH s ự VIỆT NAM
96
3.1. Về đối tượng không áp dụng hình phạt tử hình
97
3.2. Về các trường hợp hoãn thi hành án tử hình
97
3.3. Về việc gửi đơn xin ân giảm án tử hình, xét đơn xin ân giảm án tử hình
99
3.4. Về việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan chức năng
100
/ 3.5. Về hình thức thi hành án tử hình
101
trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu nhất để đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay khi chúng ta đang từng
bước hướng tới xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước pháp quyền.
Với nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân
cũng như bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của mọi công dân,
Bộ luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt đối vói người phạm tội.
Từ trước đến nay, những quy định về hình phạt luôn là chế định trung
tâm trong luật hình sự của mọi quốc gia. Việc giải quyết một cách toàn diện,
hệ thống các vấn đề tội phạm, trách nhiệm hình sự và hình phạt là cơ sở quan
trọng để luật hình sự thể hiện được đầy đủ giá trị lớn lao của mình với tính
cách là ngành luật bảo vệ các quan hệ xã hội quan trọng nhất.
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về tốc độ tăng
trưởng kinh tế thì cơ cế thị trường cũng bộc lộ nhiều mặt tiêu cực, trong đó có
sự gia tăng của tình hình tội phạm cả về quy mô và tính chất. Điều này trái với
bán chất của chế độ xã hội chủ nghĩa là tội phạm và người phạm tội phải ngày
càng giảm. Do đó việc nàng cao hiệu quả của hình phạt làm cơ sỏ' đấu tranh
phòng’ngừa và chống tội phạm ngày càng trở nên cấp bách.
Hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình
phạt vì nó tước đi quyền quan trọng nhất của con người là quyền sống. Mặc dù
theo Bộ luật hình sự hiện hành năm 1999 thì số lượng các điều luật có quy
định hình phạt tử hình đã giảm một cách đáng kể so với Bộ luật hình sự năm
1985, nhung trên thực tiễn tổng kết công tác thi hành án tử hình ở nước ta thời
2
gian qua cho thấy số người bị kết án theo hình phạt này lại tăng lên. Mặt khác,
cơ chế tổ chức thi hành án tử hình vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập
như vấn đề tạm hoãn thi hành án; vấn đề người nhà của người bị thi hành án
xin thi thể; vấn đề cải tiến hình thức thi hành án như thế nào để tránh tạo nên
- Cơ sở lý luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta.
- Trong luận văn tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp.
+ Phương pháp lịch sử, so sánh.
+ Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn.
4. Đóng góp mới đạt được của luận văn
Dưới góc độ nghiên cứu khoa học pháp lý, cho đến nay đã có một số đề
tài khoa học, luận án khoa học nghiên cứu về hình phạt tử hình. Tuy nhiên,
các công trinh này phần lớn giải quyết vấn đề thi hành án tử hình ở một số
khía cạnh nhất định.
Trong luận văn của mình, tác giả đã phân tích một cách toàn diện cơ sở
lý luận và thực tiễn cho sự tồn tại của hình phạt tử hình trong hệ thống hình
phạt của luật hình sự Việt Nam; đồng thời so sánh với những quy định tương
ứng trong pháp luật hình sự của một số nước trên thế giới, từ đó tiếp thu có
chọn lọc kinh nghiệm của các nước. Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số giải
pháp góp phần hoàn thiện các quy định về hình phạt tử hình trong luật hình sự
Việt Nam.
ế
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hình phạt tử hình
Chương 2: Hình phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam năm 1999
Chương 3: Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện các quy định về hình
phạt tử hình trong luật hình sự Việt Nam
4
5
Trong luật hình sự Việt Nam cũng như luật hình sự của các nước trên
thế giới, hình phạt luôn luôn tồn tại với ý nghĩa là hệ thống của những hình
phạt cụ thể. Hệ thống đó không chỉ phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước
mà còn thể hiện quan niệm của Nhà nước về bản chất và mục đích của hình
phạt.
Hệ thống hình phạt của luật hình sự Việt Nam bao gồm 7 loại hình phạt
chính và 8 loại hình phạt bổ sung. Nếu như hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nhà nước có tính nghiêm khắc nhất so với các biện pháp cưỡng chế nhà nước
khác thì hình phạt tử hình thể hiện mức độ cao nhất trong toàn bộ hệ thống
hình phạt.
Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp hiện hành năm
1992 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, Nhà
nước ta bên cạnh việc quy định những nghĩa vụ của công dân đồng thời cũng
ghi nhận việc bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Tuy nhiên, khi
*■
*
một người thực hiện "hành vi nguy hiểm cho xã hội" đến mức bị coi là tội
phạm thì tuỳ theo tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, họ có thể bị hạn chế
hay tước bỏ một phần hoặc toàn bộ những quyền, lợi ích thiết thân nhất của
con người. Điều đó có nghĩa là tội phạm càng nguy hiểm thì mức độ trừng trị
người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm đó càng nghiêm khắc. Không chỉ là
sự hạn chế quyền sở hữu như hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản,4iay hạn
chế quyền tự do như hình phạt tù mà hình phạt tử hình còn tước bỏ quyền
thiêng liêng nhất của con người: quyền được sống. Tính nghiêm khắc của hình
phạt này còn biểu hiện ở chỗ các biện pháp cưỡng chế khác có thể được áp
hình đối với người đó là cần thiết.
"Ngoài ra, đánh giá mức độ tác động của hình phạt trong việc phòng
ngừa tội phạm, Britannica, một học giả nổi tiếng về tội phạm và hình phạt,
*
trong tác phẩm "Tội phạm & Hình phạt" đã khẳng định: hình phạt càng
nghiêm khắc thì hiệu quả phòng ngừa càng cao, đặc biệt đối với hình phạt tử
V
hình... Hơn nữa, nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự trong xử lý hình sự
không th ể chấp nhận một người phạm tội trong trường hợp đáng nhận án tử
hình lại được hưởng án tù chung thân. Khi đó nguyên tắc công bằng cũng bị
phá vỡ. "[11 ,tr. 26]
9
Giá trị "phòng ngừa chung" của hình phạt tử hình là không thể phủ
nhận. Tuy nhiên nếu xét ở một khía cạnh khác thì tác giả đồng ý với quan
niệm cho rằng hình phạt tử hình vẫn có mục đích phòng ngừa riêng. Bởi vì khi
áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội, Nhà nước đã loại bỏ hoàn
toàn sự tồn tại của họ trong xã hội vì lợi ích chung của cả cộng đồng.
Do tính chất đặc biệt nghiêm khắc của hình phạt tử hình nên việc áp
dụng hình phạt này phải tuân theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ, nghiêm
ngặt do luật định. Với sự chi phối của các điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội
cho nên về mặt nội dung cũng như kỹ thuật lập pháp hình sự của các quy định
về hình phạt tử hình chưa được hoàn thiện ngay mà còn có một số hạn chế.
Cùng với sự phát triển của luật hình sự qua các thời kỳ lịch sử, quy định này
ngày càng được hoàn thiện.
Như vậy, bản chất của hình phạt tử hình là bằng pháp luật tước bỏ
phong kiến
Lịch sử đất nước Việt Nam từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII là giai đoạn
phát triển cực thịnh của một xã hội quân chủ tập quyền ở phương Đông. Trong
những di sản đồ sộ của thời kỳ này, hệ thống pháp luật và luật lệ được coi là
một kho báu có giá trị lớn. Trong đó, Bộ Quốc triều hình luật và Bộ Hoàng
Việt luật lệ được xem là hai bộ luật tiêu biểu cho luật hình phong kiến nói
riêng và nền lập pháp Việt Nam dưới chế độ phong kiến nói chung.
Bộ Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức (soạn thảo
trong thời kỳ nhà Lê, niên hiệu Hồng Đức: 1470-1497), bao gồm 722 điều,
chia thành 6 quyển, mỗi quyển có 2 chương(riêng quyển thứ ba có 3 chương).
Phần Danh lệ các hình phạt được quy định trong 49 điều luật, tại chương I của
quyển'thứ nhất.
Hình phạt tử hình là một trong năm hình phạt chính của Quốc triều hình
luật:
Xuy hình (phạt r o i ): 5 bậc: từ 10 roi đến 50 roi.
Trượng hình (phạt trượng): 5 bậc: từ 60 trượng đến 100 trượng.
Đồ hình: phạt làm việc nặng nhọc, làm dịch đinh, làm lính chuồng voi,
làm đồn điền.
Lưu hình (tội đày): 3 bậc: lưu đi cận châu Nghệ An, đi viễn châu Bố
Chính, đi ngoại châu Tân Bình.
Tử hình (tội chết): 3 bậc:
11
- Giảo (thắt cổ), trảm (chém)
- Trảm khiêu (chém bêu đầu)
- Lăng trì (xẻo thịt dần đến chết).
Để bảo vệ quyền thống trị của nhà nước phong kiến tập quyền, Bộ luật
Hổng Đức đã quy định 10 tội ác (thập ác) là các tội phạm xâm hại đến các
quan trở lên thì xử tội chém "(Điều 138).
Ngoài tính giai cấp, Bộ luật Hồng Đức đã có những quỵ định về hình
phạt tử hình rất tiến bộ, mang tính nhân đạo sâu sắc:
"Những trường hợp phạm tội từ độ tuổi 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở
xuống và đáng bị tử hình cũng phải tâu lên Vua xét định; còn người từ 90 tuổi
trở lên, 7 tuổi trở xuống, dẫu có bị kết án tử hình cũng không được hành hình"
(Điều 16), và:
"Đàn bà phải tội tử hình nếu đang cố thai, thì phải đ ể sinh đẻ sau 100
ngày mới đem hành hình. Nếu chưa sinh mà đem hành hình, thì ngục quan bị
xử biếm hai tư; ngục lại bị tội đồ làm bản cục đinh. Dù đã sinh rồi, nhưng
chưa đủ hạn 100 ngày mà hành hình thì ngục quan và ngục lại đều bị nhẹ hơn
tội trên hai bậc "(Điều 680).
Như vậy, khi xem xét các quy định về hình phạt tử hình trong Quốc
triều hình luật ta nhận thấy cách thức thi hành hình phạt này rất đa dạng. Với
quan niệm hình phạt là công cụ để trừng trị người phạm tội nên hình phạt
mang .tính chất hà khắc, dã man. Tuy nhiên, không chỉ thể thể hiện tính giai
cấp, Bộ luật Hồng Đức còn chứng tỏ ảnh hưởng mạnh mẽ của chủ nghĩa nhân
trị hướng về mục đích cao cả cả trau dồi nhân cách.Việc đặt mức độ nguy
hiểm của các tội phạm về đạo đức (như "bất hiếu", "bất nghĩa") ngang hàng
với các tội phạm về chính trị (như "mưu p h ả n ”, "mưu đại nghich") đã cho thấy
luật đặc biệt chú ý đến luân lý để duy trì thuần phong mĩ tục của dân tộc. Một
13
số quy định về việc hạn chế đối tượng bị áp dụng hình phạt tử hình đã thể hiện
tính nhân đạo của Bộ luật này.
Bộ Hoàng Việt luật lệ còn gọi là Bộ luật Gia Long được ban hành năm
1812, gồm 398 điều, chia thành 22 quyển, quy định về hoạt động của 6 bộ (bộ
Lại - bộ Hộ - bộ Lễ - bộ Binh - bộ Hình và bộ Công); riêng bộ Hình có 9
quan niệm tư tưởng đương thời chi phối, nhưng pháp luật phong kiếnViệt Nam
- sản phẩm văn hoá của dân tộc Việt Nam - vẫn chứa đụng tính nhân ái và tiến
bộ, phản ánh truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
1.2.2.
Hình phạt tử hình trong pháp luật hình sự Việt Nam giai
đoạn thực dân Pháp xâm lược (1862-1945)
Thời kỳ thực dân Pháp xâm lược, thực hiện chính sách " chia để trị",
Pháp chia đất nước ta thành ba xứ : Nam kỳ là đất thuộc địa, không còn quan
hệ phụ thuộc vào triều đình Huế; ở Trung kỳ, triều đình bù nhìn vẫn được duy
trì với danh hiệu "Chính phủ Nam triều" nhưng quyền hành thực tế nằm trong
tay viện khâm sứ người Pháp là chủ tịch Hội đồng bảo hộ Nam kỳ; Bắc kỳ là
đất "nửa bảo hộ" đặt dưới quyền cai trị của một viên thống sứ người Pháp .
Chính sự khác biệt về chính trị ở từng miền đã đưa tới sự khác biệt về hệ thống
pháp luật hình sự, trong đó có những quy định về hình phạt tử hình.
ỏ N am kỳ, tại Điều 11 sắc luật ngày 25/7/1884 định rõ: Bộ luật Gia
Long được áp dụng đối với người phạm tội là người bản xứ.
Ngày 16/3/1890, thực dân Pháp ra sắc lệnh quy định từ thời điểm này
các Toà án ở Nam kỳ phải áp dụng pháp luật hình sự của Pháp thay cho Bộ
luật Gia Long, ngoại trừ trường hợp pháp luật hình sự của Pháp chưa dự liệu
được. [13, tr. 132-133]
Sắc luật ngày 31/12/1912 của toàn quyền Đông Dương đã sửa đổi 56
điều của Bộ luật hình sự Pháp thành Hình luật canh cải và cho áp dụng tại
Nam kỳ.
Hình luật canh cải chia thành 4 quyển với 484 điều. Quyển thứ nhất quy
định về hình phạt đại hình, hình phạt tiểu hình và hiệu lực của các loại hình
phạt đó.
sang lại là vì tuỳ theo cái trình độ tấn hoá của phong tục..." [20, tr. 31] nhưng
về nội dung, Bộ luật này chịu ảnh hưởng sâu sắc của luật hình sự Pháp, đặc
biệt là Bộ Hình luật canh cải năm 1912 áp dụng ở Nam kỳ.
Có hai loại hình phạt là "chính hình" (hình phạt chính) và "phụ hình"
(hình phạt bố sung); "tuỳ theo tội danh nặng hay nhẹ, chính hình chia ra làm
tội đại hình, tội trừng trị và tội vi cảnh" (Điều 5).
T ử hình là hình phạt được quy định đầu tiên và cũng là hình phạt
nghiêm khắc nhất áp dụng đối với những tội đại hình. Để đảm bảo an toàn
cũng như quyền lợi của thực dân Pháp và vua quan bù nhìn nhà Nguyễn, Hình
luật Trung Việt định rõ:
"Sử dụng binh khí chống nước Đại Pháp là nước bảo hộ của nước Đại
Nam thì nhứt thiết nghiêm cấm, tội ấy s ẽ xử tử hình" (Điều 99), và:
"Người nào dùng những phương lược đ ể làm sự bạo hành mà mục đích
cốt đ ể đánh đ ổ Chánh phủ (hoặc thay đổi Hoàng thống bản quốc), hoặc xui
dân nổi dậy chống đối Đê' quyền và người nào xăm phạm đến thánh th ể
Hoàng đ ế đều phải xử tử hình'' (Điều 100). [30, tr. 32]
Hình phạt trong Hoàng Việt hình luật tuy vẫn mang tính khắc nghiệt
nhưng mức độ không nặng nề như trong Quốc triều hình luật và Bộ luật Gia
Long. Nếu như chế độ ngũ hình cổ điển (xuy, trượng, đồ, lưu, tử) được áp
dụng phổ biến trong các Bộ luật phong kiến thì Hoàng Việt hình luật đã bỏ
những hình phạt gây đau đớn về thể xác như xuy, trượng. Một số cực hình
kèm theo việc áp dụng án tử hình làm cho kẻ tử tù đau đớn rất nhiều trước khi
chết (như hình phạt lăng trì) đã bị huỷ bỏ.
*
Một điểm tiến bộ khác của Hình luật Trung Việt là không áp dụng
nguyên tắc trách nhiệm hình sự tập thể đối với một số trọng tội có mức cao
nhất của khung hình phạt là tử hình (ví dụ như tội phản nghịch). Mỗi cá nhân
T H Ư V !E N