THỰC TRẠNG NHIỄM SÁN LÁ TRUYỀN QUA CÁ Ở NGƯỜI TRÊN 15 TUỔI TẠI VÙNG HỒ THÁC BÀ - TỈNH YÊN BÁI NĂM 2016 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN QUỲNH ANH

THỰC TRẠNG NHIỄM SÁN LÁ TRUYỀN QUA CÁ Ở NGƯỜI
TRÊN 15 TUỔI TẠI VÙNG HỒ THÁC BÀ - TỈNH YÊN BÁI
NĂM 2016 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Hà Nội – Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

NGUYỄN QUỲNH ANH

THỰC TRẠNG NHIỄM SÁN LÁ TRUYỀN QUA CÁ Ở NGƯỜI
TRÊN 15 TUỔI TẠI VÙNG HỒ THÁC BÀ - TỈNH YÊN BÁI
NĂM 2016 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Chuyên ngành: Dịch tễ học
Mã số : 60720117

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Tôi là Nguyễn Quỳnh Anh, học viên cao học khóa 26 Trường Đại học Y
Hà Nội, chuyên ngành Dịch tễ học, xin cam đoan:
1. Đây là luận văn do bản thân tôi trực tiếp thực hiện dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS. Phạm Ngọc Minh và PGS.TS. Đào Thị Minh An.
2. Công trình này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác đã
được công bố tại Việt Nam và được sự chấp thuận của cơ sở nơi nghiên cứu.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về những cam kết này.
Hà Nội, ngày

tháng 6 năm 2019

Người viết cam đoan

Nguyễn Quỳnh Anh


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC HÌNH, BẢN ĐỒ, BIỂU ĐỒ
ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1 TỔNG QUAN................................................................................3
1.1. Đặc điểm sinh học của sán lá truyền qua cá...............................................3
1.2. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán lá truyền qua cá.........................................9
1.3. Bệnh học sán lá truyền qua cá..................................................................11
1.4. Chẩn đoán sán lá truyền qua cá................................................................13
1.5. Điều trị sán lá truyền qua cá.....................................................................14
1.6. Phòng bệnh lá truyền qua cá.....................................................................16

PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
SLTQC:
SLGN:
SLRN:
KST:
TTYT:

Sán lá truyền qua cá
Sán lá gan nhỏ
Sán lá ruột nhỏ
Ký sinh trùng
Trung tâm y tế

TT KSBT:
SR – KST – CT

Trung tâm Kiểm soát bệnh tật
Sốt rét – Ký sinh trùng – Côn trùng


DANH MỤC BẢNG

Bảng 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu..................................35
Bảng 3.2. Tỷ lệ hiện nhiễm sán lá truyền qua cá theo xã...........................37
Bảng 3.3. Tỷ lệ nhiễm sán lá truyền qua cá theo nhóm tuổi......................38
Bảng 3.4. Tỷ lệ nhiễm sán lá truyền qua cá theo nghề nghiệp..................38

Bảng 3.26. Mối liên quan giữa kiến thức và tỷ lệ nhiễm SLTQC.............56
Bảng 3.27. Mối liên quan giữa mức độ kiến thức đạt/không đạt của
người dân với tỷ lệ nhiễm SLTQC...............................................................57
Bảng 3.28. Mối liên quan giữa thực hành phòng chống bệnh SLTQC và tỷ
lệ nhiễm...........................................................................................................58
Bảng 3.29. Mối liên quan giữa mức độ thực hành đạt/không đạt với......59
tỷ lệ nhiễm SLTQC........................................................................................59
Bảng 3.30. Mô hình hồi quy đa biến mối liên quan giữa một số yếu tố và
tình trạng nhiễm SLTQC của người dân 06 xã nghiên cứu.......................60


DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1.

Hình thể sán lá gan nhỏ..............................................................5

Hình 1.2.

Trứng sán lá gan nhỏ, tỷ lệ thật khoảng 1/200..........................5

Hình 1.3:

Hình thế một số loài sán lá ruột nhỏ..........................................6

Hình 1.4:

Chu kỳ của sán lá gan nhỏ.........................................................7

Hình 1.5.


triển và lan truyền của các bệnh SLTQC. Cho đến nay, tại Việt Nam đã xác
định có ít nhất 32 tỉnh ghi nhận bệnh nhân nhiễm SLTQC, trong đó 24 tỉnh có
sán lá gan nhỏ và 18 tỉnh có sán lá ruột nhỏ lưu hành [5] [6]. Hầu hết các bệnh
nhân nhiễm sán lá truyền qua cá giai đoạn đầu đều diễn tiến âm thầm và khó
phát hiện nên thường ít được quan tâm, phòng chống. Tuy nhiên nếu nhiễm
sán lá gan nhỏ trong một thời gian dài sẽ gây ảnh hưởng đến chức năng gan,
gây nhiễm độc kéo dài và dẫn tới xơ gan, ung thư đường mật... để lại hậu quả
vô cùng nghiêm trọng, thậm trí đe dọa tính mạng bệnh nhân [7].
Theo một nghiên cứu do nhóm tác giả thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi
trồng Thủy sản 1 thực hiện cho thấy nước chanh và rượu trong món gỏi cá
không có tác dụng ngăn ngừa sự lây truyền của sán lá gan nhỏ. Dưới tác dụng
của nước chanh và rượu, ấu trùng sán lá gan nhỏ vẫn có tỷ lệ sống sót và tồn
tại khoảng 95% [8]. Nói cách khác, gỏi cá hay các món cá chưa nấu chín


2

chính là thủ phạm gây ra bệnh sán lá gan nhỏ nói riêng và các bệnh SLTQC
nói chung. Nó gắn liền với phong tục tập quán ăn uống của nhân dân nhiều
địa phương trên cả nước trong đó có vùng hồ Thác Bà thuộc tỉnh Yên Bái.
Hồ Thác Bà là một trong ba hồ nước nhân tạo lớn nhất của Việt Nam
thuộc địa phận 2 huyện Yên Bình, Lục Yên của tỉnh Yên Bái. Người dân vùng
ven hồ sống chủ yếu bằng nghề nuôi trồng và đánh bắt thủy sản, đời sống
người dân còn nhiều khó khăn trong khi họ lại có tập quán ăn gỏi cá từ lâu
đời. Ăn gỏi các loài cá nước ngọt đã trở thành một món ăn yêu thích, phổ biến
được coi như món ăn đặc sản của địa phương và là thói quen khó bỏ của
người dân. Theo nghiên cứu về thực trạng ấu trùng sán lá trên cá tại các tỉnh
miền núi phía Bắc của tác giả Bùi Ngọc Thanh đã phát hiện 7/22 loài cá tại
vùng hồ Thác Bà có ấu trùng sán lá gan nhỏ và 21/22 loài cá có ấu trùng sán
lá ruột nhỏ, có khả năng lây nhiễm cho người với tỷ lệ nhiễm chung là 66,1%

những vùng có tập quán ăn gỏi cá và các món cá chưa nấu chín [11].
1.1.2. Hình thể
1.1.2.1. Sán lá gan nhỏ
Loài sán lá gan nhỏ chủ yếu trên thế giới:
+ Thuộc ngành (Phylum): Sán dẹt (Platyhelminthes)
+ Lớp (Class): Sán lá (Trematoda)
+ Bộ (Order): Prosostomata
+ Họ (Family): Opisthorchiidae
+ Giống (Genus): Clonorchis có loài (Species): Clonorchis sinensis
+ Giống (Genus): Opisthorchis có loài (Species): Opisthorchis viverrini
và loài Opisthorchis felineus.
Sán lá gan gây bệnh ở người gồm 10 loài, thuộc 02 họ sán lá ký sinh ở


4

ống mật và túi mật của gan, bất thường ký sinh ở ống tụy [7].
Ở Việt Nam đã xác định sự có mặt của 02 loài sán lá gan nhỏ truyền
qua cá đó là Clonorchis sinensis ở Miền Bắc và Opisthorchis viverrini ở Miền
Nam và Miền Trung [7].
Sán lá gan nhỏ C. sinensis có hình lá, thân dẹt, màu đỏ nhạt, phần đầu
hình ăng ten, phần cuối có hình tròn dài 10-20mm, rộng 2-4 mm với lớp kitin
phẳng. Tuy nhiên, kích thước SLG nhỏ thay đổi theo lứa tuổi, theo loài vật
chủ, theo số lượng ký sinh trùng (KST) trong vật chủ và theo vị trí ký sinh
của nó trong những ống mật lớn hay nhỏ. Mỗi sán có 2 hấp khẩu: hấp khẩu
miệng và hấp khẩu bụng. Hấp khẩu miệng dùng để hút thức ăn và hấp khẩu
bụng dùng để bám vào cơ thể vật chủ. Ống tiêu hóa chạy dọc hai bên thân và
là ống tắc, không nối thông với nhau. Sán lá gan nhỏ không có hậu môn vì
dinh dưỡng của sán chủ yếu là hình thức thẩm thấu các chất dinh dưỡng qua
bề mặt của sán. Vì vậy, trên thân sán có rất nhiều tuyến dinh dưỡng [5].


1

3
4
2

1. Nắp 2. Gai 3. Nhân 4. Vỏ
Hình 1.2. Trứng sán lá gan nhỏ, tỷ lệ thật khoảng 1/200
C. sinesis (trái) O.viverrini (phải)
(Ảnh chụp tiêu bản của Nguyễn Văn Đề, Đại học Y Hà Nội 2013)
1.1.2.2. Sán lá ruột nhỏ
Hiện nay có khoảng hơn 69 loài sán lá ruột nhỏ đã được tìm thấy ở rất
nhiều quốc gia trên thế giới, phân bố theo các họ: Hetrerophyidae,


6

Echinostomatidae,
Gastrodiscidae,

Plagiorchiidae,
Gymnophallidae,

Fasciolidae,

Cathaemaciidae,

Microphallidae,


Haplorchis pumilio thuộc họ Heterophyidae đã phát hiện ở ít nhất 9 tỉnh của
Việt Nam [5] [11] [15].

Hình 1.3: Hình thế một số loài sán lá ruột nhỏ :A) Haplorchis pumilio
B) H. taichui. C) H. yokogawai. D) Stellantchasmus falcatus [17]
Giống như các loài sán lá khác, sán lá ruột nhỉ có hình chiếc lá, rất nhỏ.
Sán lá ruột nhỏ trưởng thành thuộc họ Heterophyidae như Haplorchis taichui


7

có kích thước trung bình 0,650 x 0,275 mm, với hàng gai lớn hình nải chuối
13-18 chiếc xếp quanh giác bụng-sinh dục; Haplorchis pumilio có kích thước
trung bình 0,430 x 0,200 mm, với 36-42 gai nhỏ xếp thành hai hàng quanh
giác bụng-sinh dục. Sán lá ruột nhỏ thuộc họ Echinostomatidae có kích thước
trung bình khoảng 3,5 x 2,2 mm, đầu có nhiều gai [5].
1.1.3. Chu kỳ
1.1.3.1. Sán lá gan nhỏ

Hình 1.4: Chu kỳ của sán lá gan nhỏ (nguồn: www.cdc.gov)
Chu kỳ của sán lá gan là chu kỳ phức tạp. Muốn hoàn thành chu kỳ
phát triển, ký sinh trùng bắt buộc phải phát triển trong nhiều vật chủ trung
gian khác nhau. Vật chủ chính của sán lá gan nhỏ là người, ngoài ra các động
vật ăn cá khác như mèo, chó… cũng là vật chủ chính. Vật chủ trung gian của
sán lá gan nhỏ gồm hai vật chủ là một số loài ốc và cá nước ngọt. Sinh sản
của sán lá là sinh sản đa phôi - từ một trứng sẽ phát triển thành nhiều ấu trùng
đuôi và sẽ thành nhiều ký sinh trùng trưởng thành [3].


8

9

cá có ấu trùng nang chưa được nấu chín, ấu trùng này vào dạ dày, xuống ruột
nở ra sán lá ruột trưởng thành và ký sinh ở đó [5],[6].

Hình 1.5. Chu kỳ của sán lá ruột nhỏ (nguồn: www.cdc.gov)
1.2. Đặc điểm dịch tễ học bệnh sán lá truyền qua cá
1.2.1. Bệnh sán lá gan nhỏ
Nguồn bệnh là các động vật nuôi như chó, mèo, lợn, chuột cống và
người nhiễm bệnh thải trứng ra môi trường nước.
Đường lây truyền là do ăn các thức ăn được chế biến từ cá chưa nấu
chín như: gỏi cá, lẩu cá, tái cá, cá nướng… Vật chủ trung gian thứ nhất là ốc
Bythinia, vật chủ trung gian thứ 2 là các loài cá nước ngọt.
Khối cảm thụ là các động vật cũng như nguồn bệnh.
Phân bố: ở các vùng có tập quán ăn gỏi cá, hay các món cá chưa nấu
chín. Chủ yếu là các quốc gia Châu Á, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á [5].


10

Sán lá gan nhỏ là một bệnh phổ biến ở các quốc gia châu Á. Trên thế
giới, có khoảng 680 triệu người sống trong khu vực có nguy cơ nhiễm sán lá
gan nhỏ, trong số đó có khoảng 35 triệu người đã bị nhiễm sán lá gan nhỏ và
gần một nửa số người nhiễm đến từ Trung Quốc [17]. Tại Trung Quốc, bán
đảo Triều Tiên và miền Bắc Việt Nam chủ yếu nhiễm sán lá gan nhỏ loại
C.sinensis. Vùng dịch tễ mức nặng bao gồm các tỉnh cận nam Trung Quốc
(Quảng Đông, Quảng Tây) và một số tỉnh phía Bắc (Heilong jang, Jilin và
Liaoning). Trong nghiên cứu của Lun năm 2005, người ta ước tính rằng 15
triệu người Trung Quốc bị nhiễm C.sinensis và khoảng 570 triệu người sống
trong vùng lưu hành. Tại các tỉnh Quandong và Quangxi nhà vệ sinh được

1.3.1.1. Tổn thương bệnh học
Do đặc điểm ký sinh trong đường mật mà sán lá gan nhỏ không những
chiếm chất dinh dưỡng mà còn gây tổn thương về tổ chức học và chức năng
gan mật. Sán ký sinh ở ống mật, bám chặt hấp khẩu miệng để chiếm thức ăn,
gây viêm ở ống mật và do tính chất gây hại này kéo dài nên dẫn tới những
trường hợp xơ hóa lan tỏa ở những khoảng cửa, tổ chức gan bị tăng sinh và có
thể dẫn tới những hiện tượng xơ hóa gan, cổ trướng, thoái hóa mỡ ở gan.
Trọng lượng của gan cũng tăng lên so với bình thường, trên bề mặt ngoài của


12

gan thấy có những điểm phình giãn, những chỗ phình giãn này thường có màu
trắng nhạt và tương ứng với sự giãn nở của ống mật.
Diễn biến lâu dài và thứ phát của nhiễm C.sinensis bao gồm viêm, tăng
sinh biểu mô, xơ cứng ống mật và cuối cùng phát triển ung thư đường mật
[21]. Một trong những con đường tác động của ký sinh trùng là phá hủy tổ
chức xung quanh. Có thể C.sinensis không phải là nguyên nhân trực tiếp ung
thư, nhưng các sản phẩm trao đổi chất, dịch tiết của sán có tác dụng như chất
kích thích quá trình dị sản.
1.3.1.2. Biểu hiện lâm sàng
Triệu chứng lâm sàng của bệnh sán lá gan nhỏ phụ thuộc nhiều vào
cường độ nhiễm và phản ứng của vật chủ. Với những trường hợp ít, có khi
không có triệu chứng gì đặc biệt. Những trường hợp nhiễm trên 100 sán, triệu
chứng xuất hiện rõ. Trong giai đoạn khởi phát thường có những rối loạn dạ
dày, ruột, chán ăn, ăn không tiêu, buồn nôn, đau âm ỉ vùng gan, tiêu chảy và
táo bón thất thường. Ở giai đoạn này bệnh nhân có thể bị phát ban, nổi mẩn và
bạch cầu ái toan tăng đột ngột, sang thời kỳ toàn phát những triệu chứng này
càng rõ rệt hơn. Về triệu chứng chung, bệnh nhân bị thiếu máu, gầy sút, phù
nề, đôi khi sốt thất thường [22].

truyền qua cá.
+ Chẩn đoán lâm sàng: Mặc dù bệnh nhân sán lá gan nhỏ ở thời kỳ toàn
phát có một số triệu chứng lâm sàng rõ rệt nhưng không thường xuyên và
điều quan trọng là chúng không đặc hiệu cho bệnh sán lá gan nhỏ nên cần đến
các xét nghiệm để có thể chẩn đoán xác định nhiễm sán lá gan nhỏ và sán lá
truyền qua cá nói chung.
+ Chẩn đoán cận lâm sàng: Cho đến nay việc chẩn đoán xác định bệnh
phải dựa vào kết quả xét nghiệm tìm thấy trứng sán lá truyền qua cá trong
phân/dịch tá tràng [22]. Một số xét nghiệm hỗ trợ chẩn đoán: Siêu âm gan có
hình ảnh gan tăng sáng, đường mật trong và ngoài gan dày lên và có thể dãn
rộng, có thể thấy sán lá gan nhỏ trong đường mật, trường hợp nhiễm nhiều có


14

thể tháy các ổ sán trong gan dễ nhầm với u thứ phát; Xét nghiệm máu chức
năng gan có thể rối loạn ở giai đoạn cuối của bệnh [5].
+ Xét nghiệm phân tìm trứng sán có thể dùng nhiều phương pháp như xét
nghiệm trực tiếp bằng nước muối sinh lý, tuy đơn giản nhưng dễ bị bỏ sót
những trường hợp nhẹ. Xét nghiệm phân bằng ly tâm lắng cặn FormalinEther... Trong đó xét nghiệm phân bằng phương pháp Kato, Kato- Katz là
phương pháp nhanh, đơn giản và phù hợp với điều kiện thực địa. Tuy nhiên,
cần chú ý phân biệt trứng sán lá ruột nhỏ thuộc họ Heterophyidae với trứng
sán lá gan nhỏ và trứng sán lá ruột nhỏ thuộc họ Echinostomatidae dễ nhầm
với trứng giun đũa không thụ tinh [5].
Để khắc phục điểm này, tác giả Santo M. và cộng sự năm 2009 cho rằng:
người ta dùng phương pháp sinh học phân tử để phân biệt trứng sán
O.viverrini, C.sinensis, H.pumilio và H.taichui [26]. Nhưng phương pháp này
khá đắt tiền và khó triển khai tại thực địa.
Ngoài ra các xét nghiệm miễn dịch như miễn dịch huỳnh quang IFA,
miễn dịch hấp phụ gắn men ELISA có tính đặc hiệu cao, giá thành đắt.

Hiện nay, Praziquantel được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam để điều trị sán
lá gan nhỏ với liều 75mg/kg cân nặng/ ngày chia 3 lần, uống cách nhau 4-6
giờ và điều trị sán lá ruột nhỏ với liều 40mg/kg/ngày, liều duy nhất.
Praziquantel nói chung rất an toàn trong điều trị tại cộng đồng, tác dụng
không mong muốn có thể gặp bao gồm cảm giác hơi mệt, hơi nóng mặt
thoáng qua và nhức đầu, một vài trường hợp cá biệt bị sốt nhẹ và đau bụng
thoáng qua. Theo dõi quá trình dùng thuốc qua nhiều năm cho thấy
Praziquantel với liều chỉ định là an toàn đối với mọi lứa tuổi và có thể áp
dụng rộng rãi, thuận tiện trong cộng đồng. Nghiên cứu của Đặng Thị Cẩm
Thạch và cộng sự năm 2005, cho thấy phác đồ Praziquantel liều 25mg/kgx 3
lần/ngày x 1 ngày có hiệu quả cao trong điều trị C. sinensis tại thực địa với tỷ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status