tiểu luận kinh tế phát triển tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế ở việt nam1 - Pdf 66

LỜI MỞ ĐẦU
Dân số và phát triển có mối quan hệ tác động qua lại rất chặt chẽ. Quy mô, cơ cấu, chất
lượng và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội và ngược
lại. Phát triển kinh tế có tác động trực tiếp đến mức sinh, tỉ lệ tử vong, phân bố dân cư, chất
lượng dân cư và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người.
Ở Việt Nam, cũng như khắp nơi trên thế giới, mục tiêu cuối cùng của các quá trình kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường là nâng cao chất lượng cuộc sống một cách bền vững, và phát triển
con người. Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo năm 1994 đã khẳng định mối quan
hệ mới giữa các yếu tố tác động đến sự phát triển bền vững, dân số, giáo dục, công bằng giới,
sức khoẻ sinh sản, xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế bền vững và môi trường.
Trong những giai đoạn trước, Việt Nam luôn được đánh giá là có cơ cấu dân số vàng, là một
điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế. Tuy nhiên, dân số và các chính sách dân số có thực sự
tạo được những tác động tích cực và hiệu quả đến sự tăng trưởng của nền kinh tế hay không? Và
sự thay đổi trong cơ cấu dân số kéo theo những ảnh hưởng gì đến sự phát triển kinh tế? Khi nhìn
vào và đánh giá từ thực tiễn, vẫn còn rất nhiều câu hỏi lớn đặt ra cho những vấn đề này.
Dân số là cơ sở hình thành các nguồn lao động, phục vụ cho sự phát triển, quy mô dân số, cơ
cấu dân số hợp lý, chất lượng dân số cao tạo điều kiện phát triển nguồn lao động cả về số lượng
và chất lượng. Bởi vậy chúng ta cần nắm rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa dân số và phát
triển kinh tế, nghiên cứu và đưa ra những giải pháp, định hướng nhằm phát huy tối đa nguồn lực
con người, làm cơ sở vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững cũng như hạn chế những hệ
quả của dân số. Vì lí do trên, nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài “ TÁC ĐỘNG CỦA
DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM”.


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ
1.

Một số vấn đề về dân số và tăng trưởng kinh tế
1.1. Dân số
1.1.1. Khái niệm
Dân số là số lượng và chất lượng người trong một đơn vị hành chính hay một quốc gia,

* Cơ cấu dân số theo độ tuổi
Cơ cấu dân số theo tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất
định. Trong dân số học, cơ cấu theo tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình
sinh tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia. Có hai loại cơ
cấu dân số theo tuổi:
Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau: Với loại cơ cấu này, dân số được phân
chia thành ba nhóm tuổi:
+ Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi
+ Nhóm tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi)
+ Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên
Căn cứ vào ba nhóm tuổi trên, người ta cũng phân biệt dân số ở một quốc gia là già hay
trẻ.
Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau. Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia theo
khoảng cách đều nhau: 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm.
Để nghiên cứu cơ cấu sinh học, người ta thường sử dụng tháp dân số (hay tháp tuổi) - mô
hình đồ họa mô phỏng sự phân bố dân số ở các nhóm tuổi khác nhau (thường của một địa
phương, vùng hay quốc gia nào đó trên thế giới).
+ Kiểu mở rộng (Bốt-xoa-na): đáy tháp rộng, đỉnh tháp nhọn, cạnh tháp thoai thoải; thể
hiện tỉ suất sinh cao, trẻ em đông, tuổi thọ trung bình thấp, dân số tăng nhanh.


+ Kiểu thu hẹp (Trung Quốc): tháp có dạng phình to ở giữa, thu hẹp về hai phía đáy và
đỉnh tháp; thể sự chuyển tiếp từ dân số trẻ sang dân số già, tỉ suất sinh giảm nhanh, nhóm trẻ em
ít, gia tăng dân số có xu hướng giảm dần.
+ Kiểu ổn định (Nhật Bản): tháp có dạng hẹp ở phần đáy và mở rộng hơn ở phần đỉnh;
thể hiện tỉ suất sinh thấp, tỉ suất tử thấp ở nhóm trẻ nhưng cao ở nhóm già, tuổi thọ trung bình
cao, dân số ổn định cả về quy mô và cơ cấu.

b. Cơ cấu dân số theo xã hội
* Cơ cấu dân số theo lao động

người biết chữ rất cao, từ 90 đến 100%. Ngoài ra còn có các loại cơ cấu dân số khác như: cơ cấu
dân số theo dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo…
1.2.

Tăng trưởng kinh tế


Tăng trưởng kinh tế là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng
thời gian. Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc
mức tăng GDP bình quân đầu người một năm. Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định
mức tăng như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI( tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm
ròng quốc gia) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng).
Nếu việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên theo bất cứ cách nào,
cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên, thì quốc gia đó đã đạt được “tăng trưởng kinh tế”.
2.

Cơ sở lý luận về tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế:
1
Những quan điểm kinh tế về tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế
Trong nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội, các nhà nghiên cứu đều

quan tâm đến những mối liên hệ giữa phát triển dân số với tăng trưởng kinh tế .Chiến lược dân
số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề hàng
đầu tác động trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc
sống của con người. Chính vì vậy, dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển.
Khi nói về ảnh hưởng và quan hệ giữa tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế, thường có
ba dòng quan điểm: lý thuyết chuyển dịch (transition theory); lý thuyết chính thống (orthodox
theory); lý thuyết đổi mới (revisionism theory).



nhà kinh tế học cổ điển đưa ra; Đó là giả thiết lao động và đất đai là 2 yếu tố sản xuất duy nhất
trong nền kinh tế được thể hiện bằng hàm sản xuất:
Y= F(P,R)
Trong đó:
§ Y là tổng sản lượng trong nền kinh tế.
§ P là quy mô dân số.
§ R là số lượng đất đai.
Hàm sản xuất Y=F(P,R) cho biết một cách đơn giản là với một sự kết hợp nào đó giữa lao
động và đất đai thì sản lượng thu được sẽ là bao nhiêu. Sản phẩm biên tế của đất đai và lao động
là Y’>0 , là đạo hàm của Y đối với P và R. Điều này cũng có nghĩa là khi một yếu tố giữ nguyên
không thay đổi thì mỗi sự gia tăng về số lượng của yếu tố kia sẽ làm tăng tổng sản lượng, đồng
thời cũng có nghĩa là khi một yếu tố giữ nguyên không thay đổi và chúng ta tăng số lượng của
yếu tố kia thì sản lượng sẽ tăng lên với tốc độ giảm dần, đó là định luật lợi tức giảm dần. Định
luật nầy có thể hiểu một cách đơn giản là khi chúng ta tăng thêm số lao động trên cùng một đơn
vị diện tích đất đai thì sự gia tăng về sản lượng do một lao động tăng thêm tạo ra cuối cùng sẽ
ngày càng nhỏ đi. Như vậy sản phẩm biên tế Y’(P) và sản phẩm bình quân của lao động Y/P là
các hàm số giảm dần của P; Điều nầy diễn giải là nếu số lượng đất đai trong nền kinh tế cố định
thì thu nhập trên đầu người của dân số (Y/P) sẽ giảm dần khi dân số tăng lên.
• Học thuyết Malthus

Nội dung cơ bản của học thuyết của Thomas R. Malthus được trình bày trong cuốn sách
"An Essay on the Principle of Population" (1798). Theo Malthus, dân số thế giới cứ 25 năm lại


tăng gấp đôi và tăng lên như vậy từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, theo cấp số nhân: 1, 2, 4, 8,
16, … Trong khi đó, dựa vào quy luật "độ màu mỡ của đất đai giảm dần" ông cho rằng của cải
vật chất chỉ tăng theo cấp số cộng: 1, 2, 3, 4, 5, …
Ví dụ, một quốc gia có 50 triệu dân và hiện có đủ lương thực cho 50 triệu dân này, sau 25
năm nữa sẽ có 100 triệu dân và vẫn có thể đủ lương thực cho 100 triệu dân. Nhưng sau 50 năm
nữa, dân số sẽ là 200 triệu người và sản xuất lương thực chỉ có thể tăng đủ cung cấp cho 150

1

Số lượng lao động

Tổng cung lao động là lực lượng lao động có khả năng lao động hoặc đang tham gia lao
động. Khi lực lượng lao động càng lớn thì càng tạo ra thị trường lao động lớn và có tiềm năng,
thu hút sự đầu tư và biết tận dụng lợi thế về lực lượng lao động lớn, tiền lương rẻ mở rộng sản
xuất, sử dụng lợi thế nhờ quy mô, tăng sức cạnh tranh.
Số lượng lao động phụ thuộc vào phần lớn dân số, cung lao động lớn dễ tìm kiếm nhân tố
con người có liên quan đến sáng chế, công nghệ hiện đại và sử dụng lao động năng suất cao. Vậy
cung lao động càng lớn thị trường lao động càng có tiềm năng.
2

Chất lượng lao động

Chất lượng lao động là “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao động
vớiyêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng như
thỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” (Theo TS. Vũ Thị Mai). Chất lượng lao động có
thể được đánh giá qua các chỉ tiêu như trạng thái sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyên
môn kĩ thuật.
Lao động thu nguồn ngoại tệ của nước ngoài và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế.
Chính vì vậy, sức khỏe cho người lao động là vấn đề quan tâm hàng đầu vì khi người lao động có
sức khỏe tốt thì sẽ dẫn đến khả năng đáp ứng được với cường độ lao động cao, đảm bảo được
tiến độ sản xuất, tăng năng suất lao động. Vì vậy cần phải có chế độ khám sức khỏe định kỳ cho
người lao động và bảo hiểm y tế cho người lao động.
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua số lượng và tỷ lệ người
biết chữ, số lượng và tỷ lệ người tốt nghiệp các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ
thông, cao đẳng, đại học, trên đại học, … Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọng
phản ánh chất lượng nguồn nhân lực cũng như trình độ phát triển của kinh tế xã hội.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động rất quan trọng. Nó liên quan trực tiếp đến

động thấp sẽ làm cho tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao thấp
và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng sẽ diễn ra chậm chạp hoặc “dậm chân tại chỗ”,
thậm chí có khi còn thụt lùi, nền kinh tế sẽ phát triển chậm.
Do đó, để phát triển đất nước thì việc đầu tiên cần làm là nâng cao trình độ cho người lao
động và đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm cấp thiết cần phải được quan tâm đúng mức.
Nước ta là nước nông nghiệp và chỉ vừa tiến hành đổi mới nền kinh tế chưa lâu, đang trên con
đường thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, khoa học, kỹ thuật còn rất lạc hậu trình
độ học vấn và trình độ chuyên kỹ thuật còn nhiều hạn chế, do đó để có thể theo kịp được các


nước trên thế giới và khu vực thì nước ta cần phải đầu tư phát triển các nguồn lực đất nước nhiều
hơn nữa trong đó quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực vì đây là nhân tố bên trong quan
trọng quyết định tới sự phát triển của đất nước.
3

Tác dộng của dân số đến tăng trưởng kinh tế qua các chính sách an sinh xã hội.
Trong thời gian gần đây, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam càng thể hiện vai trò to lớn

của nó đối với sự phát triển và ổn định kinh tế và xã hội. An sinh xã hội góp phần ổn định đời
sống của người lao động, thay thế và bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau,
mất khả năng lao động, mất việc làm. Nhờ vậy mà người lao động có thể khắc phục nhanh chóng
những tổn thất về vật chất, phục hồi sức khỏe và ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động
bình thường. Ngoài ra, an sinh xã hội còn giúp đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế
xã hội, góp phần vào việc phòng ngừa, hạn chế những tổn thất, rủi ro xảy ra với nền kinh tế. Bên
cạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho những người
có thu nhập thấp, vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm khoảng cách giữa người giàu và
người nghèo, góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội. Ta có thể thấy rằng, an sinh xã hội thể hiện
đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy công
bằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân. Nói đến an sinh xã hội không thể
không đề cập đến vấn đề dân số, chúng là hai khía cạnh liên quan trực tiếp đến nhau, có mối

có những chuẩn bị cả về nhận thức và tài chính phù hợp để có thể nhanh chóng giả quyết những
khó khăn và rủi ro trước mắt.
b

Gia tăng dân số

Hiện nay, một vấn đề làm cho nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển lo lắng là
vấn đề gia tăng dân số. Thực tế cho thấy, dân số ở các nước đang phát triển ngày càng gia tăng
với tốc độ nhanh chóng, nhưng do yêu cầu xây dựng kinh tế công nghiệp, các nước này vay nợ
quá lớn của nước ngoài nên không tránh khỏi tình trạng lạm phát và thất nghiệp. Và tình trạng
thiếu việc làm chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các vấn đề, tệ nạn của xã hội như cờ bạc,
nghiện hút, mại dâm,trộm cắp…... Sự gia tăng dân số cũng tác động mạnh mẽ tới tài nguyên và
môi trường, gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho hiện tại và tương lai. Việc này làm ảnh hưởng rất
nhiều đến phát triển kinh tế của một đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, dẫn đén nhà
nước phải mang gánh nặng các khoản chi phí lớn cho các chính sách an sinh xã hội liên quan đến
các vấn đề này. Mất cân bằng giới tính, mức sinh có xu hướng tăng trở lại, tất yếu sẽ tác động


xấu dến sự phát triển của xã hội, do đó, chúng ta cần một chiến lược đầu tư lâu dài cho công tác
dân số cũng như sức khỏe sinh sản.
c

Cơ cấu dân số

Hiện nay, thế giới chúng ta đang phải đối mặt với vấn đề nghiêm trọng liên quan đến dân
số, đó chính là sự mất cân bằng giới tính. Việc thừa nam, thiếu nữ trong xã hội có thể dẫn đến
những hậu quả nghiêm trọng về các vấn đề kinh tế xã hội và phân biệt nam nữ, dẫn đến tình
trạng bất bình đẳng giới. Đặc biệt, tại các nước đang phát triển và kém phát triển, do tư tưởng
trọng nam khinh nữ và trình độ dân trí thấp, tình trạng mất cân bằng giới tính ngày càng diễn ra
sâu và rộng. Cùng với sự phát triển của công nghệ và y học, tình trạng này trở nên nghiêm trọng

b

Phân bố dân cư

Những đặc điểm phân bố dân cư của nước ta như sau:
- Dân số nước ta phân bố không đều giữa các vùng và các tỉnh trong cả nước:
+ Vùng đông dân nhất là đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và duyên hải miền
Trung, đồng bằng sông Cửu Long. Vùng có dân số ít nhất là Tây Nguyên.
+ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nơi có mật độ dân số cao nhất cả nước. Mật độ dân số ở
hai nơi này cao gấp 7 đến 13 lần mật độ dân số cả nước.
- Dân số nước ta phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi:
+ Ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số cả nước, trong khi diện tích hẹp (chỉ chiếm ¼ diện
tích lãnh thổ).
+ Ở vùng trung du và miền núi với diện tích rộng lớn, chiếm khoảng ¾ diện tích lãnh thổ, tài
nguyên thiên nhiên phong phú nhưng dân số chỉ chiếm 25% cả nước, mật độ dân số thấp hơn
nhiều so với vùng đồng bằng.
- Dân số phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn: Tỉ lệ dân thành thị chiếm 33.6%, tỉ lệ
dân nông thôn chiếm 66.4% (năm 2015).
Sự phân bố không hợp lý này đã dẫn đến một luồng di cư từ nông thôn vào thành thị. Tỉ lệ di cư
thuần của khu vực thành thị là khoảng 2.72% và của khu vực nông thôn là -1.33% cho thấy xu
hướng di cư chủ yếu vào khu vực thành thị.

2

Tác động của phân bố dân cư đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam

- Tác động tích cực:
+ Nguồn lao động dồi dào, thị trường lao động rộng lớn, thu hút sự đầu tư nước ngoài. Việc di
dân từ nông thôn ra thành thị tạo ra nguồn lao động dồi dào, phù hợp với xu hướng phát triển của
đất nước ta trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, đồng thời tạo ra một thị trường tiêu thụ

Cơ cấu dân số ở Việt Nam và tác động của cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam
1
Cơ cấu dân số ở Việt Nam
1
Cơ cấu dân số theo giới tính
Theo thống kê tính đến tháng 5 năm 2016, dân số của Việt Nam đạt khoảng 90.434 triệu
người. Trong đó tỉ lệ phần trăm của nam với nữ lần lượt là 49.44% và 50.56%. Tỉ lệ giới tính
(Nam/100 nữ) vào năm 2016 đạt 97.8. Ở thành thị, con số này là 94.8. Nông thôn có tỉ lệ cao
hơn với tỉ số giới tính là 98.6.
Bảng 1. Thống kê dân số Việt Nam năm 2016
Tổng số

Nam

Nữ

Số người

93 434 748

46 201 349

47 233 399

Cơ cấu (%)

100

49.44%

1

Tác động của cơ cấu dân số theo nhóm tuổi đến tăng trưởng kinh tế ở Việt
Nam

Dân số Việt Nam đã lên tới 90 triệu người, đứng thứ 14 trên thế giới và thứ 8 ở châu Á. Cùng với
xu hướng giảm sinh và nâng cao tuổi thọ, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động (15-64) tăng lên,
hiện chiếm 69% tổng số dân. Nước ta chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu “dân số vàng,” đây
thực sự là cơ hội để Việt Nam sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” là cơ hội dân số chỉ xảy ra một lần và trong một khoảng thời
gian nhất định – với nhiều thuận lợi cũng như thách thức cho tăng trưởng, phát triển kinh tế.

Cơ cấu “dân số vàng” tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh cho Việt Nam với lực lượng lao động trẻ,
dồi dào nhưng lại là thách thức lớn vì hiện nay còn khoảng 70% lao động chưa được đào tạo
nghề.
Bên cạnh đó, khoảng 70% dân số ở nông thôn, trong khi nông dân hiện nay mới sử dụng 40%
thời gian cho sản xuất nông nghiệp, còn lại 60% thời gian là nông nhàn.
Thu nhập thấp, thiếu việc làm, chất lượng sống và chất lượng dân số chưa cao, tốc độ già hóa
nhanh, chi phí an sinh xã hội lớn cũng là những thách thức đặt ra với Việt Nam.
Theo giáo sư - tiến sỹ Nguyễn Đình Cử (Viện Dân số và Các vấn đề xã hội, Ðại học Kinh tế quốc
dân), thời kỳ "cơ cấu dân số vàng" đang mang lại cơ hội lớn để Việt Nam vượt qua các thách


thức, nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực - yếu tố quyết định sự phát triển
bền vững của đất nước.
Gia đình ít con, thu nhập tăng và áp lực dân số lên hệ thống giáo dục đã được tháo gỡ. Dân số
trong độ tuổi đi học (5-24 tuổi) giảm từ hơn 33,2 triệu người năm 1999 xuống còn khoảng 29,5
triệu người năm 2013. Bối cảnh này đã tạo thuận lợi lớn cho gia đình và xã hội chăm sóc sức
khỏe, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ. Cụ thể, đầu tư ngân sách nhà nước cho giáo dục đạt 20% tổng
chi ngân sách nhà nước, vào loại cao trên thế giới. Kết quả này tạo điều kiện để Việt Nam phát



Nam đã phải chi rất nhiều ngân sách cho việc tuyên truyền, đưa ra các biện pháp xử phạt, thậm
chí cải thiện về cả y tế giáo dục. Năm 2013, Bộ Y tế đã từng phải đề xuất chi 3000 tỷ cho việc
cân bằng lại giới tính.
3

Chất lượng dân số ở Việt Nam và tác động của chất lượng dân số đến tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam
1
Chất lượng dân số ở Việt Nam

Dân số và phát triển kinh tế xã hội luôn có mối quan hệ quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ và thúc đẩy
lẫn nhau. Muốn tăng trưởng kinh tế thì yếu tố đầu tiên là con người và phải là những người có
sức khỏe và trí tuệ. Mục tiêu đó chỉ có thể đạt khi chất lượng dân số được nâng cao, quy mô, tốc
độ tăng trưởng, sự phân bố dân cư và nguồn nhân lực phù hợp với đặc điểm kinh tế ở mỗi vùng
địa phương.
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) là một trong những chỉ tiêu
kinh tế - xã hội tổng hợp, là thước đo thành tựu trung bình của một quốc gia, được dùng làm căn
cứ để đánh giá, so sánh trình độ phát triển của các quốc gia. HDI được đánh giá qua 3 tiêu chí:
Sức khỏe (đo bằng tuổi thọ trung bình); tri thức (đo bằng số năm đi học bình quân và kỳ vọng số
năm đi học) và mức sống đo bằng GNI (tổng thu nhập quốc gia) trên đầu người.
Biểu đồ 3. Chỉ số HDI của Việt Nam từ 1990 – 2014

(Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP năm 2014)
Ta có thể thấy trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những bước tiến rõ rệt trong
việc phát triển con người. Chỉ số HDI của Việt Nam liên tục tăng qua các năm trong giai đoạn
1990 – 2014, từ mức 0.475 năm 1990 tăng gần 40.2% lên mức 0.666 vào năm 2014. Tuy nhiên
chỉ số HDI của Việt Nam hiện nay vẫn chỉ ở mức trung bình thấp so với khu vực và trên thế giới.


trọng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ kỹ thuật cao. Tỉ lệ nhân công đã qua đào tạo chuyên
môn và kỹ thuật chỉ chiếm 7.6% toàn dân số từ 13 tuổi trở lên (2.3% là công nhân kỹ thuật và
nhân viên nghiệp vụ, 2.8% có trình độ học chuyên nghiệp, 0.7% cao đẳng, 1.7% đại học và chỉ
0.1% trên đại học). Có thể thấy, mặc dù Việt Nam đã có nhiều cố gắng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, nhưng kết quả vẫn còn thấp so với thế giới. Đây là một vấn đề rất đáng lo ngại.
Về chỉ số thu nhập tính bằng GNI bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng từ 1410
USD năm 1990 lên 5092 USD năm 2014, gấp khoảng 3.6 lần. Tuy nhiên trên thực tế, GDP bình
quân đầu người của Việt Nam vẫn thấp hơn hầu hết các nước trong khu vực và tốc độ tăng GDP
của Việt Nam cũng chỉ ở mức trung bình so với một số nước châu Á. Tỉ lệ tiết kiệm so với GDP


luôn thấp hơn tỉ lệ đầu tư so với GDP và đang có xu hướng giảm dần. Năm 2005 đạt 28.94%,
giảm xuống 28.4% trong năm 2010 và xuống mức 27% trong năm 2013. Do chỉ số thu nhập còn
thấp nên cần phải tập trung cho việc nâng cao chỉ tiêu này. Muốn tăng chỉ tiêu này, một mặt phải
tăng tổng GDP (tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương), mặt khác phải tăng tỷ lệ GNI
so với GDP (năm 2013 đạt 95.2%) và tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số.
2

Tác động của chất lượng dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1
Tác động đến nguồn nhân lực

Về mặt tích cực, như đã đề cập trong phần chỉ số tuổi thọ, dân số Việt Nam hiện đang ở
giai đoạn cơ cấu dân số vàng. Chúng ta có một lực lượng lao động trẻ dồi dào. Nếu tận dụng tốt
sẽ mang lại kết quả tích cực cho quốc gia.
Tuy nhiên,nhìn vào chỉ số giáo dục, chúng ta có thể thấy, dù có một nguồn nhân lực dồi
dào, nhưng nhìn chung chất lượng nguồn nhân lực của chúng ta còn thấp.Nguồn nhân lực được
đào tạo mới chỉ gần 30%, số có bằng cấp mới chỉ là 8%. Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá chất
lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay chỉ đạt 3.79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11
trong số 12 nước ở châu Á tham gia xếp hạng. Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam đạt
3.39/10 điểm và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếp

về chất lượng, không tương xứng với quy mô đào tạo; điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trang
thiết bị lạc hậu, uy tín và chất lượng đào tạo thấp, khả năng cạnh tranh thấp nên sinh viên khó
tìm kiếm việc làm.
Chúng ta có thể thấy, trình độ giáo dục không cao và ko hiệu quả, các cơ sở giáo dục mở
tràn lan không đáp ứng chất lượng, ảnh hưởng nhiều đến kinh tế và cả tích lũy do sự tiêu tốn tiền
của, thời gian một cách lãng phí từ cả cá nhân và nhà nước, đến việc mức lương thấp, các doanh
nghiệp ở Việt Nam không phát triển vì thiếu nhân lực, là bước cản lớn cho sự phát triển kinh tế
của Việt Nam. Trong tương lai, khi nền kinh tế càng hội nhập, nhất là khi cộng đồng kinh tế
ASEAN được thành lập vào cuối năm 2015 sẽ có 14 triệu chỗ làm việc. Khi đó, lao động và các
chuyên gia nước ngoài có thể đi lại và làm việc ở Việt Nam tự do hơn và ngược lại. Nếu lao động
của chúng ta tiếp tục không đáp ứng được các yêu cầu công việc, chúng ta sẽ tự thải loại mình ra
khỏi cuộc chơi, mất vị thế để chiếm lĩnh những việc làm này, và thay vào đó những công việc
trình độ cao sẽ bị các lao động nước ngoài chiếm lĩnh, tỉ lệ tri thức có bằng cấp nhưng kĩ thuật
kém thất nghiệp sẽ còn cao hơn nữa, gây ra các vấn nạn cho xã hội.
2

Tác động đến văn hóa

Do các chính sách mở cửa, giao lưu văn hóa, đời sống nâng cao, việc tiếp cận văn hóa,
nâng cao tri thức văn hóa của Việt Nam được cải thiện, đem lại cơ hội cho giới trẻ Việt Nam
ngày càng dễ dàng hơn trong việc hòa nhập với các nước trên thế giới.
Tuy nhiên,đời sống tinh thần và các tiện nghi để hưởng thụ văn hóa rõ ràng được tăng lên
nhiều nhưng nhiều khi chưa có sự quản lý tốt tạo ra nhiều lệch lạc của các em tuổi nhỏ và vị
thành niên trong tình yêu, tình dục, bạo hành và bạo lực trong đời sống hàng ngày. Cách hiểu về
quyền con người, nhân cách và các giá trị tinh thần có những biểu hiện lạc chuẩn. Theo nghiên
cứu bạo lực học đường được thực hiện ở 5 nước Châu Á bởi Tổ chức phát triển cộng đồng Plan
International, Việt Nam cũng thuộc top có tỷ lệ cao ở cả nhóm bạo lực tinh thần, bạo lực thể xác
và bạo lực tình dục. Tỷ lệ học sinh Việt Nam trải qua bạo lực ở bất cứ hình thức nào là 71%.
66% học sinh Việt Nam được khảo sát từng trải qua bạo lực tinh thần, chỉ xếp sau Indonesia –
69%. Với 31% học sinh từng hứng chịu bạo lực thể xác, Việt Nam đứng thứ 3, sau Nepal (47%)

lượng lao động nữ là 72.4%, thấp hơn tới 10.2% so với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nam
(82.6%). Tỷ số việc làm trên dân số thành thị là 68.6%, thấp hơn tỷ số này ở khu vực nông thôn
khoảng 10.7%.
Đến quý 1 năm 2015, cả nước có 52.4 triệu lao động có việc làm và hơn 1.2 triệu lao
động thất nghiệp.
Tỷ trọng lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động theo thành thị/nông thôn
và vùng kinh tế xã hội năm 2015


(Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam)

Dựa vào bảng trên ta có thể thấy mặc dù có sự tăng lên về tỷ trọng lực lượng lao động
khu vực thành thị, nhưng đến nay vẫn còn gần 68.4% lực lượng lao động nước ta tập trung ở khu
vực nông thôn. Ba vùng có thị phần lao động lớn nhất theo thứ tự vẫn là Đồng bằng song Hồng,
Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long đã chiếm giữ tới 63%
tổng lực lượng lao động cả nước. Lao động nữ chiếm khoảng 48.1% (tương ứng với 25.82 triệu
người) tổng lực lượng lao động trong quý 1 năm 2015.
Ở cấp toàn quốc, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động là 77.3%. Mức độ tham gia lực lượng
lao động của dân số khu vực thành thị và nông thôn vẫn còn khác biệt đáng kể, hiện khoảng 9.8
% (70.9% và 80.7%). Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nữ là 72.4%, thấp hơn tới 9.8% so với
lao động nam (82.6%). Đáng chú ý, trong khi tỷ lệ tham gia lực lượng lao động ở hai vùng miền
núi là Trung du và miền núi phía Bắc (84.6%) và Tây Nguyên (83.5%) hiện đạt cao nhất nước thì
tỷ lệ thấp nhất lại thuộc về hai vùng Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ nơi có hai trung
tâm kinh tế - xã hội lớn nhất của cả nước là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Trong số 53.6 triệu lao động năm 2015, chỉ có khoảng 10.95 triệu lao động đã qua đào
tạo có bằng cấp/chứng chỉ, chiếm 20.4%. Trong số đó, có 3.0543 triệu người đã qua đào tạo nghề


chính quy, 3.4135 triệu người tốt nghiệp cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và 4.4832 triệu
người có trình độ đại học trở lên (theo Báo cáo Lao động và việc làm năm 2015 – Tổng cục

và đầu tư trong nước chưa hiệu quả như Việt Nam đang tạo ra cơ hội lớn cho bước đà phát triển
của đất nước. Tuy nhiên lợi thế này chỉ được phát huy và khai thác triệt để khi một quốc gia có
những thể chế và chính sách phát triển thích hợp, tạo điều kiện để biến các tiềm năng tích cực
của quá trình dân số vàng trở thành hiện thực.
Xét về mặt giới tính, hiện nay trong các doanh nghiệp ở nước ta, tầm quan trọng của các
lao động nữ là rất lớn, nhất là trong những ngành đòi hỏi sự khéo léo và linh hoạt trong lao động.
Nhóm các ngành nghề như may mặc, giày da hay lắp ráp linh kiện điện tử thì gần như toàn bộ
các lao động là nữ. Trong nhóm các ngành công nghiệp nặng thì tỷ lệ lao động nữ có thấp hơn.
Trong tương lai vai trò của nữ giới ngày càng bình đẳng với nam giới trong xã hội, các mức đãi
ngộ cũng tăng lên dần. Các chính sách của nhà nước cũng coi trọng và đánh giá cao vai trò của
nữ giới đối với xã hội. Với các mức thu nhập, chế độ thai sản, nghỉ phép hợp lý hơn. Trong thời
gian tới, với cơ cấu giới tính này, Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng trưởng.


Trích đoạn CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐỀ XUẤT CHÍNH SÁCH NHẰM KHAI THÁC HIỆU QUẢ MÔ HÌNH DÂN SỐ Ở VIỆT NAM ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status