Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của hộ nghèo trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

----------

NGUYỄN HOÀNG YẾN NGỌC

®µo t

PHÂN TÍCH
NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỚNG ĐẾN
KHẢ NĂNG THOÁT NGHÈO CỦA HỘ NGHÈO
TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành: CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 60340402gµnh

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TIẾN SỸ. TRƯƠNG ĐĂNG THỤY

tTp. Hồ Chí Minh - Năm 2015


LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu cùng Quý Thầy, Cô
của Viện Đào tạo Sau đại học Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh đã
tạo điều kiện học tập và tận tâm truyền đạt kiến thức cho tác giả trong thời gian học
vừa qua.

5 phường và 9 xã trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang giai đoạn năm 2011 năm 2014, với phương pháp phân tích thống kê mô tả, phương pháp so sánh, đối
chiếu và phương pháp phân tích với mô hình hồi quy Logit, nghiên cứu này phân
tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An
Giang. Điểm khác biệt của nghiên cứu này với những nghiên cứu về xoá đói giảm
nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang từ trước đến nay là phân tích nghèo đói chủ
yếu dựa trên cơ sở định lượng, chứ không phải chỉ dựa trên cơ sở định tính.
Kết quả nghiên cứu đã tìm được các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát
nghèo của hộ nghèo trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang. Các yếu tố ảnh
hưởng thuận đến khả năng thoát nghèo bao gồm: tình trạng hôn nhân và số năm đi
học của chủ hộ, nỗ lực thoát nghèo, số việc làm và vốn vay tín dụng ưu đãi Ngân
hàng Chính sách xã hội của hộ nghèo. Các yếu tố ảnh hưởng nghịch đến khả năng
thoát nghèo bao gồm: tâm lý không thoát nghèo để hưởng ưu đãi địa phương, số
con và số thành viên bệnh của hộ nghèo.
Dựa trên kết quả nghiên cứu đó, tác giả đóng góp một số gợi ý chính sách hỗ
trợ người nghèo thoát nghèo như tạo sự chủ động từ phía hộ nghèo trong quá trình
xóa đói giảm nghèo; nâng cao hiệu quả tín dụng đối với hộ nghèo; thay đổi tư duy
tiếp cận nghèo, quan điểm giảm nghèo và một số chính sách khác.
Với kiến thức còn hạn hẹp, trong quá trình phân tích, đánh giá luận văn, tác
giả không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế, nhưng với tâm huyết và nỗ lực
của bản thân trước thực trạng còn nhiều khó khăn trong công tác xoá đói giảm
nghèo của địa phương, tác giả kỳ vọng rằng, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
đóng góp phần nhỏ giúp Lãnh đạo và các nhà hoạch định chính sách của địa phương
nắm rõ hơn về những yếu tố giúp các hộ nghèo trên địa bàn thị xã thoát được nghèo,
từ đó, hoạch định chính sách xoá đói giảm nghèo cho địa phương hiệu quả hơn để
đạt kết quả giảm nghèo cao trong thời gian tới.


MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN

2.1.9. Sự cần thiết phải thoát nghèo ..................................................16
2.1.10. Giảm nghèo là mục tiêu quốc gia..........................................16
2.1.11. Cam kết giảm nghèo của Việt Nam với Liên Hiệp Quốc .....17
2.2. Khảo lược các lý thuyết kinh tế ..........................................................17
2.3. Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo qua các nghiên
cứu thực nghiệm có liên quan ....................................................................20
2.3.1. Nhóm yếu tố liên quan đến cá nhân và hộ gia đình ................20
2.3.2. Yếu tố liên quan đến chính sách xoá đói giảm nghèo của
Chính phủ. .........................................................................................23
2.4. Thực tiễn thoát nghèo trên thế giới và ở Việt Nam ............................25
2.4.1. Trên thế giới ............................................................................25
2.4.2. Việt Nam .................................................................................25
2.4.3. Tỉnh An Giang ........................................................................25
2.5. Bài học kinh nghiệm trong công tác xoá đói giảm nghèo ..................27
Chương 3: MÔ HÌNH PHÂN TÍCH .....................................................................28
3.1. Thực trạng đói nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang thời gian qua
....................................................................................................................28
3.2. Thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo của thị xã Tân Châu, tỉnh An
Giang thời gian qua ....................................................................................30
3.2.1. Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi hộ nghèo và cận nghèo đã thực
hiện thời gian qua. .............................................................................30
3.2.2. Các hoạt động thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo trên địa
bàn thị xã của các cấp, các ngành trong toàn thị xã thời gian qua ....30
3.2.3. Kết quả đạt được từ công tác xoá đói giảm nghèo ..................31
3.2.4. Những hạn chế cần khắc phục trong công tác xoá đói giảm
nghèo .................................................................................................31


3.3. Dữ liệu nghiên cứu..............................................................................31
3.3.1. Dữ liệu sơ cấp .........................................................................31

5.1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của hộ
nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang ..........................................77
5.2. Gợi ý chính sách .................................................................................77
5.3. Hạn chế của nghiên cứu ......................................................................86
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................87
PHỤ LỤC .................................................................................................................93


DANH MỤC BẢNG, BIỂU

Bảng 3.1

Hộ nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang giai đoạn 2011-2014
......................................................................................................................28

Bảng 3.2

Hộ cận nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang giai đoạn 20112014..............................................................................................................29

Bảng 3.3

Các biến trong mô hình hồi quy Logit......................................................37

Bảng 3.4

Phân

bổ

150

Đặc điểm của mẫu khảo sát (xét về các biến định tính)........................43

Bảng 4.4

Đặc điểm của mẫu khảo sát (xét về các biến định lượng).....................46

Bảng 4.5

Đặc điểm của hộ chưa thoát nghèo ở thị xã Tân Châu (xét về các biến
định tính)...............................................................................................47

Bảng 4.6

Đặc điểm của hộ chưa thoát nghèo ở thị xã Tân Châu (xét về các biến
định lượng)............................................................................................50

Bảng 4.7

So sánh các biến định tính có mối liên hệ với biến thành phần hộ......54

Bảng 4.8

So sánh các biến định tính không có mối liên hệ với biến thành phần
hộ.........................................................................................................55

Bảng 4.9

So sánh các biến định tính có mối liên hệ với biến thành phần hộ......55

Bảng 4.10 So sánh các biến định lượng không có mối liên hệ với biến thành phần

là ở các nước chậm phát triển và đang phát triển - ngày càng thu hút sự chú ý của
cộng đồng quốc tế trong việc tìm kiếm giải pháp xóa đói giảm nghèo.
Việt Nam cũng không ngoại lệ. Muốn đạt được sự phồn vinh của Việt Nam,
các khu vực đông dân phải nhanh chóng thoát khỏi cái nghèo đeo đẳng từ bao đời.
Vì thế, để phát triển đất nước bền vững, công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công,
điều tiên quyết cần làm là giải quyết thật tốt công tác xóa đói giảm nghèo.
Trong hai thập kỷ qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về xóa
đói giảm nghèo, được các tổ chức quốc tế và các nước đánh giá cao về quyết tâm
chống nghèo đói của Chính phủ Việt Nam.
Tuy vậy, theo Ngân hàng Thế giới (2012), dù hàng chục triệu hộ gia đình
Việt Nam đã thoát nghèo trong thập kỷ qua, nhưng có rất nhiều hộ trong số đó, thu
nhập rất sát chuẩn nghèo và rất dễ tái nghèo khi có cú sốc đặc thù hoặc do cú sốc có
liên quan trong toàn nền kinh tế.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long, một trong những khu vực đông dân nhất
Việt Nam, dù không phải là vùng có tỷ lệ nghèo đói cao nhất nhưng số người nghèo
về giá trị tuyệt đối của vùng khá cao (chỉ sau vùng miền núi phía Bắc và vùng ven
biển miền Trung) (Ngân hàng Thế giới, 2004).


2

Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang cũng không nằm trong diện ngoại lệ về
nghèo của vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Cũng như các địa phương khác ở vùng
Đồng bằng sông Cửu Long, trước tình hình biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, ô
nhiễm môi trường ngày càng nặng, giá cả vật chất ngày càng tăng, khoảng cách
giàu nghèo ngày càng lớn, đời sống người nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
ngày càng thiếu thốn nhiều hơn.
Mặc dù công tác xoá đói giảm nghèo luôn được chính quyền địa phương
quan tâm hàng đầu nhưng tỷ lệ hộ nghèo ở thị xã vẫn chưa giảm nhiều. Ranh giới
giữa những hộ thoát nghèo và hộ nghèo chưa rõ ràng và rất mong manh. Điều đáng

Đến nay, vẫn chưa có giải đáp khoa học và có hệ thống về những ý kiến
tranh luận này. Vì, những nghiên cứu về nghèo đói trên địa bàn thị xã từ trước đến
nay chỉ phân tích nghèo đói dựa trên cơ sở định tính, chứ chưa có định lượng, nên
những giải pháp về xoá đói giảm nghèo trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang
tuy thời gian qua đã đạt nhiều kết quả đáng kể nhưng vẫn chưa thật sự giúp hộ
nghèo trên địa bàn thị xã thoát nghèo bền vững.
Xoá đói giảm nghèo là mục tiêu quan trọng hàng đầu trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương, là vấn đề Đảng và chính quyền địa phương
đặc biệt quan tâm. Nếu làm tốt công tác xóa đói giảm nghèo, mức sống người nghèo
ngày càng dần được nâng cao, qua đó, tinh thần "lá lành đùm lá rách" được phát
huy, con người ngày càng yêu thương nhau hơn, tình hình an ninh, trật tự và an toàn
xã hội ngày càng được đảm bảo, tệ nạn xã hội được đẩy lùi và dần được xoá bỏ, môi
trường được cải thiện, giảm ô nhiễm và sức khoẻ cộng đồng được bảo vệ.
Do vậy, địa phương rất cần những luận cứ khoa học và có hệ thống về những
yếu tố ảnh hưởng khả năng thoát nghèo của hộ nghèo để giúp hộ nghèo nhanh
chóng thoát nghèo và thoát nghèo bền vững.
Từ những yêu cầu bức thiết trên của địa phương, tác giả thấy cần thiết phải
tiến hành nghiên cứu "Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát
nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang", nhằm xác định những yếu tố chính tác
động đến khả năng thoát nghèo của các hộ nghèo trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh
An Giang. Từ đó, đề xuất các gợi ý chính sách xoá đói giảm nghèo phù hợp với


4

điều kiện kinh tế - xã hội của thị xã, nhằm giúp hộ nghèo trên địa bàn thị xã tăng
khả năng thoát nghèo và thoát nghèo bền vững, góp một phần nhỏ vào công cuộc
xóa đói giảm nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.4.3. Yếu tố liên quan đến chính sách xoá đói giảm nghèo của địa phương.
1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hộ được xếp loại nghèo năm 2011, bao gồm:
- Các hộ được xếp loại nghèo năm 2011 đã thoát nghèo trong giai đoạn năm
2012 - năm 2014.
- Các hộ được xếp loại nghèo năm 2011 cho đến năm 2014 vẫn còn nghèo.
1.5.2. Phạm vi nghiên cứu
* Về nội dung: nghiên cứu khả năng thoát nghèo của hộ nghèo ở thị xã Tân
Châu, tỉnh An Giang giai đoạn năm 2011 - năm 2014 dưới tác động của các yếu tố
ảnh hưởng.
* Về không gian: Địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.
* Về thời gian: Số liệu được thu thập phục vụ cho nghiên cứu luận văn: năm
2011 đến năm 2014. Thời gian tác giả tiến hành điều tra, phỏng vấn các hộ khảo sát,
các chuyên gia, thu thập số liệu và hoàn thành luận văn từ tháng 2 đến tháng 6 năm
2015.
1.6. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng danh sách hộ được xếp loại nghèo năm 2011 và danh sách hộ thoát
nghèo giai đoạn năm 2012 - năm 2014, danh sách hộ được xếp loại nghèo năm 2011
cho đến năm 2014 vẫn còn nghèo, do Phòng Lao động - Thương binh và xã hội thị
xã cùng 14 xã, phường trên địa bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An giang cung cấp.


6

* Sử dụng dữ liệu sơ cấp
- Phỏng vấn trực tiếp chủ hộ (đại diện hộ nghèo ) của 14 phường, xã trên địa
bàn thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang:
+ Các hộ được xếp loại nghèo năm 2011 đã thoát nghèo trong giai đoạn năm
2012 - năm 2014.

nghèo đói (Ngân hàng Thế giới, 2004).
Cần có quan điểm đúng và có sự thống nhất chung cho các quốc gia về khái
niệm nghèo đói thì mới xây dựng được các giải pháp xoá đói giảm nghèo hiệu quả.
Có chăng, chỉ khác nhau giữa các quốc gia về cách tiếp cận nghèo đói, chứ không
phải khác nhau về bản chất của nghèo đói.
Theo Nicolas Meisel, (2009, trang 64), người châu Phi có một ngạn ngữ có
thể xem là định nghĩa về nghèo đói: "Kẻ nghèo là kẻ không có bạn".
Tư tưởng của câu ngạn ngữ này mở ra một hướng tiếp cận mới về nghèo đói
- đặc biệt thích ứng với các nước đang phát triển - nghèo là bị cô lập, không có mối
liên hệ với mọi người, bị chia cắt khỏi mạng lưới xã hội vốn giúp chống lại các
nguy cơ trong cuộc sống (Nicolas Meisel, Jacques Ould Aoudia, 2009).
Theo quan điểm định lượng, nghèo được đo lường bằng cách so sánh thu
nhập hoặc tiêu dùng của cá nhân hay hộ gia đình với một ngưỡng mà xã hội xem là
mức chuẩn về mức sống. Quan điểm này xem một cá nhân hay hộ gia đình là
nghèo, nếu mức sống của họ thấp hơn ngưỡng mức sống mà xã hội đặt ra tại một
thời điểm xác định. Nói cách khác, nghèo có nghĩa là có ít tiền (Trần Tiến Khai,
Nguyễn Ngọc Danh, 2012).
Diễn giải rõ hơn nữa về nghèo, Ngân hàng Thế giới (2003) định nghĩa, nghèo
đói, là tình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh, bị thiếu thốn nhiều phương
diện: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu
dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những những tai ương bất
ngờ và hoàn cảnh bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn đến


8

những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định,
cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng.
Cụ thể hơn về nghèo, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ
chức năm 1995 tại Copenhagen, Đan Mạch đã xác định: "Người nghèo là tất cả

chúng ta".
Khác với nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư
sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương xem xét. Định nghĩa này
đề cập đến vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. Nghèo theo quan niệm này mang ý
nghĩa tương đối vì mức sống trung bình ở các nước là khác nhau, giữa các vùng, các
địa phương là khác nhau (Hoàng Triều Hoa, 2015).
Từ cách hiểu như trên, có thể nhận thấy, khái niệm nghèo tương đối phát
triển theo thời gian, tùy thuộc vào mức sống của xã hội.
Quan niệm của chính người nghèo ở nước ta về nghèo đói đơn giản và trực
diện. Kết quả các cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân, nói rằng: "Nghèo
đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn
nhìn nhà ở của tôi thì biết, trong nhà nhìn thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng
như ngoài sân" (Mai Thị Thu Hương, 2007).
Ngày nay, vấn đề nghèo được xem xét theo nhiều góc độ khác nhau - khái
niệm "nghèo đa chiều" ra đời. Diễn giải rõ hơn quan điểm "nghèo đa chiều", tháng 6
năm 2008, Liên Hợp Quốc tuyên bố: "Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia
hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc,
không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc
không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo
cũng có nghĩa không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia
đình và cộng đồng. Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội".
* Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam
Nghèo đói: Việt Nam cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo đói của
ESCAP tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á
Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Bangkok, Thái Lan.


10

Do xuất phát điểm của nền kinh tế và năng suất lao động của Việt Nam thấp,

2.1.2.1. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới
a. Quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB)
* Chỉ tiêu thu nhập bình quân theo đầu người
+ Phương pháp Atlas (phương pháp tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo
USD):
Ngân hàng Thế giới chia ra làm 6 loại quốc gia (theo mức thu nhập năm
1990): trên 25.000 USD/người/năm (cực giàu); từ 20.000 - dưới 25.000
USD/người/năm (giàu); từ 10.000 - dưới 20.000 USD/người/năm (khá giàu); từ
2.500 - dưới 10.000 USD/người/năm (trung bình); từ 500 - dưới 2.500
USD/người/năm (nghèo); dưới 500 USD/người/năm (cực nghèo).
+ Phương pháp PPP (tính theo sức mua tương đương và tính theo USD):
WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình
quân đầu người dưới 370USD/người/năm. WB xác định ngưỡng nghèo chung (theo
phương pháp PPP) là đối với các nước thu nhập thấp, dưới 1 USD/người/ngày; đối
với các nước thu nhập trung bình thấp, dưới 2 USD/người/ngày.
* Chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra lượng
dinh dưỡng 2.100 kcalo/người/ngày - nhu cầu cơ bản và tối thiểu của con người.
+ Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm: WB tính toán chi phí đáp ứng
nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100 kcalo/người/ngày là 1.286.833đồng/người/năm.
+ Ngưỡng nghèo chung: Gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực, thực phẩm
và phi lương thực, thực phẩm (ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại, giao tiếp).
Vì nghèo đói chịu tác động của nhiều nhân tố nên hiện nay, các tổ chức quốc
tế đã xây dựng các chỉ số đo lường nghèo đa chiều như Chỉ số phát triển con người
(Human Development Index - HDI), Chỉ số phát triển liên quan đến giới (Gender
Development Index - GDI), Chỉ số nghèo tổng hợp (Human Poverty Index - HPI),
Chỉ số nghèo

đa

chiều

(6.000.000đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, từ 501.000đồng đến
650.000đồng/người/tháng là hộ cận nghèo.
Như vậy, chuẩn mực đánh giá nghèo đói ở Việt Nam thấp hơn nhiều so với
chuẩn mực nghèo khổ chung của thế giới.


13

b. Quan điểm của Tổng cục Thống kê Việt Nam (Phương pháp GSOWB: xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc tế)
Để đo lường nghèo đói, Tổng cục Thống kê sử dụng phương pháp dựa trên
các chuẩn nghèo chính thức (có điều chỉnh theo lạm phát) áp dụng cho thu nhập
bình quân đầu người và phương pháp sử dụng cách tiếp cận do Tổng cục Thống kê
và Ngân hàng Thế giới xây dựng vào cuối thập kỷ 1990.
* Áp dụng phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều trong xác định đối
tượng và theo dõi nghèo
Việt Nam cần nghiên cứu và chính thức sử dụng chỉ số nghèo đa chiều mà
Liên Hợp Quốc sử dụng trong các Báo cáo phát triển con người để phản ánh về
nghèo một cách toàn diện hơn và xây dựng và thực hiện chính sách, chương trình
giảm nghèo một cách toàn diện hơn. (Văn kiện dự án Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết
80/NQ-CP về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011- 2020 và Chương
trình Mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo Bền vững giai đoạn 2012 - 2015 (PRPP)).
2.1.3. Phương pháp đo lường nghèo đói
Theo Ngân hàng thế giới (2003), Việt Nam đã áp dụng sáu phương pháp đo
lường nghèo: phương pháp chi tiêu của hộ gia đình; phương pháp thu nhập; vẽ bản
đồ nghèo; phân loại địa phương; tự khai báo; xếp hạng về phúc lợi. Mỗi phương
pháp đều có ưu, khuyết điểm riêng, có thể được áp dụng tuỳ vào mục đích và phạm
vi nghiên cứu.
2.1.4. Các thước đo về nghèo
Theo nghiên cứu của Mai Thị Thu Hương (2007), để đo lường về nghèo, các
nhà nghiên cứu thường tính các chỉ tiêu thống kê mô tả tỷ lệ nghèo (cho biết tỷ lệ


thấp

Hình 2.1. Vòng luẩn quẩn của nghèo đói
(Nguồn: />Quan sát vòng luẩn quẩn của nghèo đói, có thể thấy, người nghèo thu nhập
thấp - chỉ dừng lại ở mức thoả mãn những nhu cầu thiết yếu tối thiểu trong cuộc
sống, do đó, không có tích luỹ, dẫn đến vốn đầu tư thấp và như thế là năng suất
thấp, do vậy, thu nhập thấp, và vì thu nhập thấp nên không chi cho tiêu dùng nhiều.
Có thể phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói bằng các giải pháp giúp tạo và nâng
cao thu nhập cho người nghèo: vận động người nghèo thực hiện tốt kế hoạch hóa
gia đình, nâng cao hiểu biết về phòng chống bệnh tật, suy dinh dưỡng ở trẻ em cho
người nghèo và huy động mọi nguồn lực, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ về y tế để
các thành viên gia đình họ thoát khỏi bệnh tật, nhằm giảm tỷ lệ phụ thuộc, tăng số
lao động tạo thu nhập cho gia đình; đồng thời, đào tạo nghề phù hợp và tạo việc làm
kết hợp hỗ trợ tiếp cận kiến thức công nghệ mới ứng dụng vào sản xuất, kinh doanh


15

cho người nghèo để nâng cao trình độ tay nghề của người nghèo; hỗ trợ cho họ các
khoản tín dụng nhỏ cùng với hướng dẫn phương án sản xuất, kinh doanh sử dụng
vốn tín dụng hiệu quả kèm với kiểm tra hiệu quả sử dụng vốn, nhằm giúp tăng hiệu
quả sử dụng vốn vay cho người nghèo; mặt khác, hỗ trợ về giáo dục và tạo điều
kiện cho con em hộ nghèo nâng cao trình độ học vấn, để tương lai có việc làm tốt và
ổn định, thoát khỏi vòng luẩn quẩn nghèo đói của thế hệ trước.
2.1.6. Đặc trưng của nghèo đói
Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh; tập trung ở các
vùng có điều kiện sống khó khăn; trong khu vực nông thôn, thành thị; tỷ lệ nghèo
đói khá cao trong các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao; tỷ lệ hộ nghèo đói đặc biệt
cao trong các nhóm dân tộc ít người (Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xoá


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status