BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN QUANG BÌNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở MỘT NỀN KINH TẾ MỞ,
NHỎ VỚI TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH. BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
----------------------------------------------
NGUYỄN QUANG BÌNH
CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở MỘT NỀN KINH TẾ MỞ,
NHỎ VỚI TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH. BẰNG CHỨNG THỰC
NGHIỆM Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000 – 2015
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2015
1.2
1.3
1.4
1.5
Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................................... 3
Đối tƣợng, phạm vi và Phƣơng Pháp Nghiên Cứu ..................................................... 5
Những đóng góp mới của bài nghiên cứu .................................................................... 5
Kết cấu bài nghiên cứu .................................................................................................. 6
CHƢƠNG 2:
TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƢỚC
ĐÂY
....................................................................................................................... 8
2.1
Mô hình New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ .................................. 8
2.2
Chính sách tiền tệ của một nền kinh tế mở, nhỏ với tỷ giá cố định ..................... 10
2.3
Ứng dụng mô hình New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ .............. 13
2.4
Mô phỏng mô hình New Keynesian cho nền kinh tế mở, nhỏ với tỷ giá cố định 18
2.5
Đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam những năm 2000 – 2015 .............................. 21
2.6
Phân tích việc thực thi chính sách tiền tệ của Ngân Hàng Nhà Nƣớc Việt Nam 23
2.6.1
Độ mở của nền kinh tế Việt Nam..................................................................... 23
2.6.2
Chính sách tỷ giá của Việt Nam ...................................................................... 24
PHỤ LỤC 1: DANH SÁCH CÁC BIẾN SỐ VÀ NGUỒN DỮ LIỆU ............................... viii
PHỤ LỤC 2: KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ................................................. ix
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ HỒI QUY BẰNG PHƢƠNG PHÁP GMM TRÊN EVIEW .... xii
DANH MỤC BẢNG.
Bảng 4.1 Thống kê mô tả các biến trong bài nghiên cứu ............................................... 39
Bảng 4.2 Ma trân hệ số tương quan giữa các biến ......................................................... 40
Bảng 4.3 Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị: ................................................................. 41
Bảng 4.4 Kết quả hồi quy bằng phương pháp GMM cho hệ phương trình về chính sách
tiền tệ của Việt Nam ....................................................................................................... 42
Bảng 4.5 Kết quả kiểm tra Robustness về tính mạnh của kết quả (Chỉ có ước tính cho
các quy tắc lãi suất được trình bày) ................................................................................ 58
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Hình 4.1. Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến trong đường cong IS với giá trị
gốc .................................................................................................................................. 44
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến trong đường cong I-S sau khi lọc
bằng bộ lọc H-P .............................................................................................................. 45
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến trong đường cong Phillip với giá
trị gốc.............................................................................................................................. 49
Hình 4. 4 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến trong đường cong Phillip sau khi
lọc bằng bộ lọc H-P. ....................................................................................................... 50
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến đại diện cho mục tiêu trong nước
và quy tắc lãi suất với giá trị gốc ................................................................................... 52
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến đại diện cho mục tiêu trong nước
và quy tắc lãi suất với giá trị sau khi lọc bằng bộ lọc H-P ............................................. 53
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến đại diện cho việc chịu ảnh hưởng
của các tác động bên ngoài và mục tiêu lãi suất với giá trị gốc ..................................... 55
Hình 4.8 Biểu đồ thể hiện mối quan hệ giữa các biến đại diện cho việc chịu ảnh hưởng
của các tác động bên ngoài và mục tiêu lãi suất với giá trị sau khi lọc bằng bộ lọc HP 56
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu áp dụng thực nghiệm mô hình New Keynesian trong việc phân
tích chính sách tiền tệ ở Việt Nam một quốc gia có nền kinh tế mở, nhỏ với tỉ giá cố
định. Mô hình được áp dụng cho dữ liệu theo tháng của Việt Nam từ tháng 01 năm
2000 đến tháng 06 năm 2015. Phát hiện chính từ bài nghiên cứu là mặc dù theo đuổi
chế độ tỷ giá cố định, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vẫn có thể tiến hành một chính
sách tiền tệ độc lập chủ yếu là do các biện pháp kiểm soát vốn. Bên cạnh đó, lạm phát
kỳ vọng có ý nghĩa thống kê cao, cung cấp một số bằng chứng cho thấy chính sách tiền
tệ vừa nhắm mục tiêu lạm phát vừa nhắm đến mục tiêu sản lượng. Thêm nữa, không có
bằng chứng rõ ràng cho thấy chính sách tiền tệ Việt Nam chịu sự tác động từ bên ngoài
như chính sách tiền tệ của Mỹ - quốc gia mà tỷ giá hối đoái được neo vào, thông qua
việc không tìm thấy ý nghĩa thống kê ở biến lãi suất Mỹ.
Từ khóa: chính sách tiền tệ, lạm phát, lỗ hổng sản lượng, lãi suất danh nghĩa, lãi suất
thực.
2
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1
Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thế giới suốt 20 năm qua chứng kiến rất nhiều cuộc khủng hoảng
như Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 khởi nguồn từ Thái Lan, khủng hoảng tài
chính Hoa Kỳ 2007 – 2009 và dai dẳng nhất chính là tình trạng Khủng hoảng nợ công
ở Hy Lạp chưa kể đến tình trạng lao dốc của nền kinh tế Trung Quốc trong năm 2015.
Những dư âm từ những cuộc khủng hoảng này vẫn còn là nỗi ám ảnh đến cả những nhà
nợ công luôn ở mức báo động. Bên cạnh đó, Việt Nam còn là một quốc gia có tỷ trọng
xuất nhập khẩu rất cao trong nền kinh tế rất dễ dành gánh chịu những cú sốc giá hàng
hóa. Điều đó dẫn đến thực tế rằng việc thực thi chính sách tiền tệ là vô cùng phức tạp
để có thể đứng vững trước những biến động của nền kinh tế thế giới. Việt Nam với
những đặc điểm một nền kinh tế mở, nhỏ với tỉ giá hối đoái cố định có quản lý của nhà
nước trong quá trình hội nhập đã có được những quyết định đúng đắn về chính sách
tiền tệ hay chưa? Những mục tiêu mà chính phủ theo đuổi thật sự hợp lý? Đối mặt với
vấn đề bộ ba bất khả thi trong tài chính quốc tế, các chính sách Việt Nam có hướng đến
nền kinh tế trong nước hay bị tác động bởi các yếu tố bên ngoài để duy trì chế độ neo
tỷ giá. Đây chính là bối cảnh của đề tài: “Chính sách tiền tệ ở một nền kinh tế mở,
nhỏ với tỷ giá cố định. Bằng chứng thực nghiệm ở việt nam giai đoạn 2000 –
2015” để giải đáp những câu hỏi trên.
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
Về lý thuyết, nhờ vào việc duy trì sự kiểm soát vốn hoặc do tình hình kém phát
triển của thị trường tài chính, một nền kinh tế với tỷ giá hối đoái cố định vẫn có thể có
thực thi chính sách tiền tệ độc lập miễn là có sự hạn chế trong chu chuyển dòng vốn.
Tuy nhiên tỉ giá hối đoái cố định phần lớn làm hạn chế việc thực thi chính sách tiền tệ
nếu mức dự trữ ngoại tệ quá thấp, khi đó các nhà điều hành chính sách tiền tệ không
4
thể can thiệp vào lạm phát mục tiêu hoặc đầu ra, vì điều này làm ảnh hưởng đến mức
giá đang được duy trì. Hơn nữa, sự khác biệt đáng kể trong lãi suất giữa một quốc gia
nội địa và quốc gia khác nơi mà đồng nội địa của quốc gia kia đang neo vào có thể gây
ra cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, điều này gây ảnh hưởng đến mức ngang giá
chung. Để giải thích cho hai vấn đề này, mô hình New Keynesian được điều chỉnh
1.3
Đối tƣợng, phạm vi và Phƣơng Pháp Nghiên Cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài viết này là tìm hiểu chính sách tiền tệ của Việt
Nam khi duy trì chế độ tỷ giá hối đoái cố định và dưới tác dộng trước chính sách tiền tệ
quốc tế.
Phạm vi nghiên cứu của bài bao gồm các biến số lỗ hổng sản lượng được đại
diện bởi chỉ số sản xuất công nghiệp, lạm phát trong nước được đại diện bởi chỉ số
CPI, lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực, lãi suất của Mỹ, dự trữ quốc tế và biến chính
sách tiền tệ. Dữ liệu được từ IMF, WorldBank, Tổng cục thống kê Việt Nam,… đây là
dữ liệu theo tháng từ 01/2000 đến tháng 06/2015.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài là nghiên cứu định lượng,
tham khảo kết quả của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới về vấn đề chính sách tiền tệ
của một nền kinh tế mở, nhỏ với tỷ giá cố định. Sử dụng phương pháp hồi quy GMM
cho một hệ phương trình được xây dựng trên mô hình New Keynesian để kiểm tra mối
quan hệ, liên quan của các biến.
1.4
Những đóng góp mới của bài nghiên cứu
Thứ nhất, trả lời cho câu hỏi Chính sách tiền tệ của Việt Nam tác động đến lạm
phát và sản lượng như thế nào khi vẫn duy trì chính sách tỷ giá cố định? Vì khi cố định
tỷ giá phần lớn sẽ làm hạn chế chính sách tiền tệ - nếu mức dự trữ quốc tế quá thấp, tác
6
động của chính sách tiền tệ có thể bị cản trở bởi mục tiêu về lạm phát hoặc sản lượng,
điều này có thể tác động tiêu cực đến việc duy trì tỷ giá cố định.
khác bài nghiên cứu cũng kỳ vọng trả lời cho câu hỏi chính sách tiền tệ của Việt Nam
chịu tác động của chính sách tiền tệ của Mỹ, vai trò của dự trữ ngoại hối cũng như mức
độ hợp lý của các quyết định trong chính sách tiền tệ.
8
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ
CÁC BÀI NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.1 Mô hình New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ
Trong những năm gần đây, khuôn khổ lý thuyết New Keynesian đã trở thành
khuôn khổ chi phối việc phân tích chính sách tiền tệ. Khuôn khổ này kết hợp đồng thời
những tiến bộ của mô hình kinh tế vĩ mô từ lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực tế – kỹ
thuật cân bằng động tổng quát vào một mô hình rõ ràng và công nhận sự tồn tại tính
cứng nhắc của mức giá danh nghĩa, dẫn đến hiệu ứng phi trung lập của chính sách tiền
tệ. Mô hình đơn giản nhất phát sinh từ khuôn khổ này chính là mô hình New
Keynesian. Mô hình New Keynesian bao gồm ba phương trình - đường cong IS xác
định sản lượng; đường cong Phillips xác định lạm phát; và quy tắc lãi suất xác định
hành vi của chính sách tiền tệ. Mô hình New Keynesian có lý thuyết dễ dàng ứng dụng
trong công việc nghiên cứu, tương tự cấu trúc trong mô hình truyền thống IS/LM
nhưng được bắt đầu xác định từ kinh tế vi mô với các yếu tố đại diện được tối ưu hóa.
Do đó, mô hình này tạo điều kiện thuận lợi kết nối các nhà hoạch định chính sách với
các nhà nghiên cứu về mặt lý thuyết theo cùng một định hướng (Soderstrom và đồng
sự, 2002). Còn theo Olivier Blanchard và Jordi Gali (2010) thì cho rằng mô hình New
Keynesian đã nổi lên như là một công cụ mạnh để phân tích chính sách tiền tệ trong sự
hiện diện của tính cứng của giá cả danh nghĩa.
Một số lượng lớn các bài nghiên cứu đã áp dụng mô hình New Keynesian để
phân tích chính sách tiền tệ:
Clarida và các đồng sự (1998) công bố bài nghiên cứu “Chính sách tiền tệ trong
thực tế – Một vài bằng chứng quốc tế”, nghiên cứu phản ứng của chính sách tiền tệ cho
quan tiêu dùng để suy ra sản lượng phản ứng với những cú sốc trong chính sách tiền tệ
10
theo quy tắc giá dính (không thể thay đổi lập tức). Tác giả nghiên cứu tác động của
những thói quen tiêu dùng thường thấy và thói quen sâu hơn ở cấp độ cá nhân đã tạo ra
những biến dạng trong nền kinh tế, làm cho chính sách tiền tệ không còn phát huy
được tác dụng tối ưu, qua đó đề xuất những quy tắc tiêu chuẩn đơn giản của hành vi
tiêu dùng.
Blanchard và Gali (2010) xây dựng một mô hình hữu ích dựa trên biến động giá
dính danh nghĩa và thất nghiệp với những rào cản thị trường lao động, tiền lương thực
tế cứng nhắc để giải thích biến động tỷ lệ thất nghiệp, những tác động của các cú sốc
năng suất đến nền kinh tế, và vai trò của chính sách tiền tệ trong việc hình thành những
hiệu ứng. Kết quả cho thấy rằng một thị trường lao động chặt chẽ hơn làm tăng chi phí
cận biên và ảnh hưởng đến lạm phát. Lạm phát và thất nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm
của thị trường lao động. Những sự khác biệt này dẫn đến sự khác biệt quan trọng trong
phản ứng của nền kinh tế trước những cú sốc. Điều này cho thấy rằng, tùy theo đặc
điểm thị trường, ổn định làm phát có thể không phải là chính sách tiền tệ tốt nhất. Ổn
định lạm phát nghiêm ngặt có thể dẫn đến biến động không thuận lợi, lớn, và liên tục
của tỷ lệ thất nghiệp trong phản ứng với những cú sốc năng suất.
2.2 Chính sách tiền tệ của một nền kinh tế mở, nhỏ với tỷ giá cố định
Đặc điểm phân biệt hầu hết các nước đang phát triển so các nước công nghiệp
lớn là sự biến động lớn trong cán cân thương mại khi chịu tác động của các cú sốc
cung, đặc biệt ở thị trường tài chính quốc tế. Các quốc gia này khó có khả năng ổn định
giá cả cũng như điều chỉnh các rủi ro mặc định trong cuộc khủng hoảng. Bị tác động
mạnh với kết cấu một nền kinh tế mở, nhỏ, các quốc gia vẫn theo đuổi chính sách tỷ
giá cố định liệu có thể có được một chính sách tiền tệ độc lập, tối ưu, hướng đến các
mục tiêu trong nước hay không, đã có nhiều bài nghiên cứu đã được tiến hành để trả lời
cho câu hỏi này.
kinh tế mở, nhỏ rất dễ bị khủng hoảng tiền tệ và tài chính. Các nước cần phải quản lý
12
các rủi ro, quản lý rủi ro đòi hỏi phải hành động làm giảm khả năng xảy ra một cuộc
khủng hoảng và làm giảm các chi phí phát sinh nếu khủng hoảng đã xảy ra. Kết quả ở
Iceland chỉ ra rằng, chính sách tiền tệ của nước này phản ứng chậm chạp và không có
tác động tích cực với những biến động của nền kinh tế cũng như không thể ngăn chặn
hiệu quả các rủi ro.
Vladimir (2006) cho rằng lạm phát trong nền kinh tế mở, nhỏ thường chịu ảnh
hưởng bởi nhiều yếu tố vượt ra ngoài tầm kiểm soát của chính sách tiền tệ. Những yếu
tố này bao gồm giá lương thực và năng lượng, dòng vốn và có thể có tác động lớn lên
tỷ giá hối đoái. Những dòng vốn tự do đặt ra một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Một
mặt, nó cho phép nền kinh tế phát triển nhanh hơn. Mặt khác, điều này dẫn đến áp lực
tăng giá mạnh, có thể dẫn đến mất khả năng cạnh tranh, lạm phát cao hơn. Với ảnh
hưởng lớn của biến động tỷ giá trong nền kinh tế mở, nhỏ, chế độ tỷ giá hối đoái cố
định truyền thống đã được cho phù hợp. Tuy nhiên, tự do hóa và toàn cầu hóa có chế
độ tỷ giá hối đoái cố định dễ bị áp lực đầu cơ, có thể làm cho quốc gia rất tốn kém để
duy trì. Vì lý do này, nhiều quốc gia sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn.
Trong trường hợp dòng vốn chủ yếu là vốn chủ sở hữu chứ không phải là nợ, tỷ giá
thay đổi khá nhạy cảm với biến động lãi suất. Do đó, các ngân hàng trung ương thường
xuyên can thiệp vào thị trường ngoại hối để tác động đến biến động tỷ giá. Tác giả đã
nghiên cứu những vấn đề này trong trường hợp của Czech và kết quả cho thấy sự thất
bại trong một thời gian khi các dòng vốn nhiều hơn và tự do hơn ra vào thị trường tài
chính. Một chính sách tiền tệ cố gắng để nhắm mục tiêu ổn định cả tỷ giá và lạm phát
bằng một công cụ duy nhất (lãi suất) đi vào một vòng tròn luẩn quẩn và không hiệu quả
trong việc quản lý nhu cầu trong nước.
Bjornland (2011) phân tích cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ trong nền kinh
tế mở, nhỏ như Na Uy thông qua mô hình VAR. Tác giả cho rằng một sự hiểu biết về
thị trường lao động như ảnh hưởng của nghiệp đoàn. Về mặt chính sách, dựa trên niềm
14
tin về giá cả cứng nhắc, trường phái New Keynesian ủng hộ chính sách tiền tệ nhiều
hơn so với chính sách tài khóa. Trường phái này hiện nay đưa ra ba lý luận chính bao
gồm: hợp đồng lao động dài hạn, tiền công hiệu suất, và chi phí thực đơn.
Lý luận về hợp đồng lao động dài hạn: Giả thuyết này cho rằng để giữ lao động
làm việc cho mình lâu dài, giới chủ thường ký những hợp đồng làm việc dài
hạn. Chính vì vậy mà lương theo hợp đồng không thể có sự điều chỉnh đột ngột.
Trong trường hợp có thay đổi hợp đồng, vì không thể tất cả các doanh nghiệp và
các ngành trong nền kinh tế cùng thay đổi hợp đồng vào cùng một thời điểm,
nên chỉ có một bộ phận lao động là được thay đổi tiền công. Xét bình quân toàn
nền kinh tế, thì tiền công vẫn không đổi.
Lý luận về tiền công hiệu suất: Để khuyến khích lao động nhiệt tình và giữ lao
động lành nghề, ngay cả trong thời điểm thất nghiệp phát sinh, giới chủ vẫn có
thể không cắt giảm tiền công. Khi mà tiền công không bị cắt giảm (cũng có
nghĩa là giá cả lao động không hạ xuống), thì thất nghiệp (dư cung lao động)
vẫn không được giải quyết, thị trường lao động vẫn mất cân bằng.
Lý luận về chi phí thực đơn: Vì thị trường có tình trạng cạnh tranh không hoàn
hảo, nên dù thị trường có biến động thì xí nghiệp chưa chắc đã thay đổi giá bán
của mình. Lý do là chi phí để điều chỉnh thông báo về giá bán (giống như chi
phí in lại thực đơn) có thể cao hơn lợi ích mà xí nghiệp thu được do điều chỉnh
giá.
Trong những năm gần đây, mô hình New Keynesian đã trở thành khuôn khổ chi
phối trong phân tích chính sách tiền tệ. Một phần lớn các lý thuyết áp dụng khuôn khổ
New Keynesian để phân tích chính sách tiền tệ. Trong danh sách đó bao gồm Clarida
(1998), Stiglitz (2001), Dennis (2001), Blanchard và Gali (2010), Leith (2009),
Gerberding (2008), Soderstrom (2002), Bjornland (2011). Tuy nhiên, tất cả các công
(1)
16
Trong biểu thức trên, E là mức kỳ vọng, Nt là số giờ làm việc, Ct là rổ hàng hóa
tiêu dùng bao gồm các sản phẩm khác biệt được sản xuất bởi các công ty độc quyền, β
là các yếu tố chiết khấu, γ là hệ số lo ngại rủi ro tương đối (nghịch đảo của độ co giãn)
và ϕ là nghịch đảo độ co giãn Frisch của nguồn cung ứng lao động. Giỏ hàng hóa và
giá cả của chúng được mô hình hóa theo cách của Dixit và Stiglitz (1977) trong các
biểu thức dưới đây:
theo đó Cjt và Pjt chỉ hàng hóa sản xuất và giá cả của mỗi công ty và σ > 0 là độ co giãn
theo giá của cầu đối với mỗi hàng hóa. Hộ gia đình tối đa hóa tiện ích theo sự ràng
buộc ngân sách được thể hiện sau đây:
(4)
Theo đó Wt là tiền lương danh nghĩa mỗi giờ, Bt là số lượng trái phiếu một kỳ
được trả theo lãi suất it, Tt là toàn bộ tổng chuyển giao danh nghĩa và
đại
diện cho tổng mức chi tiêu danh nghĩa cho việc tiêu thụ hàng hoá, tổng chi phí của mỗi
loại hàng hóa, pjtcjt cho thấy rằng những gì các hộ gia đình có được như tiền lương, lãi
từ trái phiếu (tức là tiết kiệm) và sau đó chuyển giao bằng cách họ chi tiêu mua hàng
hoá, mua trái phiếu (tức là đầu tư).
Chuyển giao là tái phân phối lợi nhuận của các công ty. Có thể thấy điều này ở
các công ty đang được sở hữu bởi chính phủ (hoặc thuế suất là 100%). Vai trò của
chính phủ trong mô hình này đơn giản là phân phối lại lợi nhuận và phát hành trái
phiếu (hộ gia đình phân phối thu nhập qua các giai đoạn thời gian), lãi suất trái phiếu
k
p jt
Ct k
Ct
pt
c jt
Wt k Ct
pt k Zt
k
k
k
(6)
k
Lợi nhuận được nhân với xác suất giá không thay đổi trong khoảng t và t+k,
k
, được giảm bớt bởi nhân tố giảm ngẫu nhiên
(7)
yt (8)
Phương trình (7) là đường cong IS mô tả tổng cầu, lỗ hổng sản lượng (yt) là một
hàm số của lỗ hổng sản lượng kỳ vọng và lãi suất thực tế. Đường cong Phillips, được