BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------
NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯƠNG
NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH LƯỢNG TIỀN NẮM
GIỮ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
-------------
NGUYỄN THỊ NGỌC PHƯƠNG
NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH LƯỢNG TIỀN NẮM
GIỮ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Lý do chọn đề tài ........................................................................................ 2
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................... 3
1.3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 3
1.4.
Phương pháp nghiên cứu ............................................................................ 4
1.5.
Nội dung và kết cấu luận văn ..................................................................... 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY ............................................................................................................................ 5
2.1.
Nắm giữ tiền mặt ........................................................................................ 5
2.2.
Nhóm các nghiên cứu về mặt lý thuyết ....................................................... 7
2.2.1. Một số lý thuyết nền tảng......................................................................... 7
nhân Trung Quốc” – 2012 .............................................................................. 21
2.3.10. Eugene F. Fama và James D. MacBeth – “Rủi ro, tỷ suất sinh lợi và sự
cân bằng: Những nghiên cứu thực nghiệm” – 1973 ........................................ 22
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................... 28
3.1.
Nguồn dữ liệu........................................................................................... 28
3.2.
Xác định biến số phụ thuộc và các biến số độc lập ................................... 29
3.2.1. Biến phụ thuộc – tỷ số tiền (CASH) ....................................................... 29
3.2.2. Biến độc lập .......................................................................................... 30
3.3.
Phương pháp nghiên cứu .......................................................................... 35
3.3.1. Thống kê mô tả ...................................................................................... 35
3.3.2. Kiểm tra đơn biến.................................................................................. 35
3.3.3. Kiểm tra hồi quy.................................................................................... 35
3.3.3.1. Mô hình Fama – MacBeth .................................................................. 36
3.3.3.2. Hồi quy dữ liệu chéo sử dụng giá trị trung bình ................................. 38
3.3.3.3. Hồi quy Pooled OLS với biến giả năm ................................................ 39
3.3.3.4. Hồi quy Pooled OLS với biến giả năm và biến giả ngành công nghiệp
....................................................................................................................... 40
3.3.3.5. Hồi quy các ảnh hưởng cố định .......................................................... 42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................... 43
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................ 58
PHỤ LỤC ................................................................................................................. 60
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt kết quả của các tác giả liên quan đến lượng tiền nắm giữ.......... 23
Bảng 2.2: Tổng hợp dự đoán về tương quan các nhân tố và lượng tiền nắm giữ .... 25
Bảng 3.1: Tổng hợp các đo lường các biến sử dụng trong bài nghiên cứu .............. 34
Bảng 4.1: Thống kê mô tả...................................................................................... 43
Bảng 4.2: Ma trận các hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu gồm 500 quan sát
.............................................................................................................................. 45
Bảng 4.3: Tổng hợp kết quả nghiên cứu về các nhân tố đặc thù doanh nghiệp có ảnh
hưởng đến lượng tiền nắm giữ và sự phù hợp của các kết quả với các lý thuyết và
kết quả thực nghiệm trước đây............................................................................... 52
1
TÓM TẮT
Bài nghiên cứu nhằm xác định các nhân tố đặc thù của doanh nghiệp có tác động
đến lượng tiền nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán
Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2009 đến năm 2012 bằng cách sử dụng bốn
phương pháp hồi quy (Mô hình Fama – MacBeth, Hồi quy dữ liệu chéo sử dụng giá
trị trung bình, Hồi quy Pooled OLS với biến giả, Hồi quy các ảnh hưởng cố định)
để ước lượng tham số mô hình hồi quy. Tổng hợp kết quả hồi quy cho thấy các
nhân tố có tương quan cùng chiều với lượng tiền nắm giữ là: quy mô doanh nghiệp,
dòng tiền, cơ hội đầu tư và thanh toán cổ tức, các biến có tương quan ngược chiều
với lượng tiền nắm giữ là: đòn bẩy tài chính, nợ ngân hàng, tài sản lưu động thuần
hưởng đến lượng tiền nắm giữ từ ba lý thuyết chính được sử dụng rộng rãi trong
lĩnh vực tài chính; đó là: lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết
dòng tiền tự do. Tổng kết kết quả thực nghiệm từ các bài nghiên cứu trên cho thấy
các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ của doanh nghiệp là: quy mô doanh
nghiệp, đòn bẩy tài chính, nợ ngân hàng, dòng tiền, biến động dòng tiền, tài sản lưu
động thuần không bao gồm tiền, cơ hội đầu tư và thanh toán cổ tức. Phần lớn kết
3
quả của các nghiên cứu cho thấy: các nhân tố có tác động ngược chiều với lượng
tiền nắm giữ là: quy mô doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính, nợ ngân hàng, tài sản lưu
động thuần không bao gồm tiền, thanh toán cổ tức và các nhân tố có tác động cùng
chiều với lượng tiền nắm giữ là: dòng tiền, biến động dòng tiền, cơ hội đầu tư. Tại
Việt Nam, hiện chưa có nghiên cứu thực nghiệm hoàn chỉnh nào nghiên cứu về các
nhân tố tác động đến lượng tiền nắm giữ, vì vậy, người viết chọn đề tài “Những
nhân tố quyết định lượng tiền nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị
trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp.
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu
Bài nghiên cứu nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm cho các lý thuyết về
các nhân tố quyết định lượng tiền nắm giữ - nghiên cứu trường hợp của các doanh
nghiệp niêm yết Việt Nam. Theo đó, bài nghiên cứu kỳ vọng trả lời cho hai câu hỏi
sau đây:
1. Các nhân tố đặc thù nào của doanh nghiệp có tác động đến lượng tiền nắm giữ
của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
2. Các nhân tố đặc thù của doanh nghiệp có tương quan cùng chiều hay ngược
chiều với lượng tiền nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận.
5
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ
CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Chương này bao gồm hai phần chính. Phần đầu giải thích các nội dung liên quan
đến việc nắm giữ tiền, bao gồm định nghĩa và những lý do dẫn đến việc nắm giữ
tiền. Phần sau giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ được dự
đoán bằng các lý thuyết tài chính và các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm của các
tác giả.
2.1.
Nắm giữ tiền mặt
Trong lý thuyết tài chính, tiền được định nghĩa bao gồm tiền, các khoản chứng
khoán thị trường ngắn hạn và các khoản tương đương tiền (Opler et al. (1999),
Ferreira và Vilela (2004), Bates, Kahle và Stulz (2009)). Các khoản tương đương
tiền có đặc điểm là có thể chuyển đổi thành tiền trong một khoảng thời gian ngắn.
Nắm giữ tiền xét trên khía cạnh tài chính được hiểu là việc nắm giữ tiền và các
khoản tương đương tiền của doanh nghiệp.
Có rất nhiều lý do để doanh nghiệp nắm giữ tiền. Sau đây là bốn lý do chủ yếu
khiến doanh nghiệp nắm giữ tiền:
Động cơ giao dịch: Các doanh nghiệp cần tiền để dùng cho hoạt động kinh
doanh. Nhu cầu về tiền giữa các loại hình kinh doanh cũng rất khác nhau. Ví dụ, các
doanh nghiệp bán lẻ phải có sẵn tiền trong két của cửa hàng để hoạt động kinh
doanh. Ngoài ra, các doanh nghiệp này cần tiền để bổ sung lượng hàng tồn kho
không tốn chi phí giao dịch. Tuy nhiên trong thực tế, các doanh nghiệp luôn phải
đối mặt với những hạn chế và những khoản chi phí để tiếp cận thị trường vốn.
Những hạn chế này có thể xuất phát từ bên trong, cũng có thể xuất phát từ bên
ngoài doanh nghiệp, nhưng chủ yếu là từ bên ngoài doanh nghiệp. Để đối mặt với
những khó khăn này, doanh nghiệp phải trích lập sẵn tiền để trang trải nhu cầu đầu
tư trong tương lai, nếu không doanh nghiệp sẽ gặp rủi ro buộc phải từ bỏ các dự án
đầu tư có giá trị (Damodaran, 2008).
Hai lý do đầu tiên được dùng chủ yếu trong bài nghiên cứu và là hai lý do chính yếu
để giải thích cho lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng.
7
2.2. Nhóm các nghiên cứu về mặt lý thuyết
2.2.1. Một số lý thuyết nền tảng
2.2.1.1. Bất cân xứng thông tin
Bất cân xứng thông tin làm cho việc huy động vốn trở nên khó khăn hơn. Người
bên ngoài muốn đảm bảo chứng khoán mà họ mua không bị định giá quá cao, do đó
họ sẽ một mức chiết khấu hợp lý. Bởi vì người bên ngoài doanh nghiệp nắm ít
thông tin hơn ban quản lý, họ có thể định giá cổ phiếu quá thấp dựa trên những
thông tin được cung cấp bởi ban quản lý (Myer và Majluf, 1984). Thực tế, người
bên ngoài có thể chiết khấu một mức đủ lớn để ban quản lý thấy rằng không bán cổ
phiếu còn có lợi hơn là bán và vì thế họ sẽ giảm đầu tư thay vì bán cổ phiếu ra bên
ngoài. Lý do bất cân xứng thông tin dẫn đến nguồn vốn bên ngoài trở nên đắt hơn.
Mô hình bất cân xứng thông tin đưa ra lý do giải thích tại sao nguồn vốn bên ngoài
lại trở nên đắt đỏ. Mô hình này dự đoán chi phí huy động vốn tăng khi chứng khoán
được bán có mức độ nhạy cảm thông tin và khi vấn đề bất cân xứng thông tin trở
nên quan trọng hơn (Opler et al., 1999).
2.2.1.2. Chi phí đại diện cho các quyết định quản lý
Nghiên cứu về lý thuyết đại diện được khởi đầu bởi Jensen và Meckling (1976) trên
dùng nó và vì thế họ có thể sẽ đầu tư vào các dự án tồi khi không chọn được những
dự án tốt.
Nhìn chung, chi phí đại diện của các quyết định quản lý ít quan trọng và có thể
không đáng kể đối với những doanh nghiệp có những cơ hội đầu tư có giá trị vì khi
đó mục tiêu của cổ đông và ban quản lý trùng nhau (Opler et al., 1999).
9
2.2.2. Lý thuyết liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến lượng tiền nắm giữ
2.2.2.1. Lý thuyết đánh đổi (Trade-off model)
Lý thuyết đánh đổi cho rằng các doanh nghiệp sẽ thiết lập một lượng tiền nắm giữ
mục tiêu bằng cách cân bằng giữa chi phí biên và lợi ích biên của việc nắm giữ tiền.
Ba lợi ích chính từ việc nắm giữ tiền đó là:
Thứ nhất, nắm giữ tiền làm giảm khả năng kiệt quệ tài chính vì lượng tiền nắm giữ
sẽ đóng vai trò như khoản dự phòng an toàn cho những khoản lỗ bất ngờ hoặc
những hạn chế từ việc huy động nguồn vốn từ bên ngoài.
Thứ hai, nắm giữ tiền cho phép doanh nghiệp theo đuổi những chính sách đầu tư tối
ưu kể cả khi doanh nghiệp gặp phải những hạn chế về tài chính. Khi doanh nghiệp
gặp phải những khó khăn trong việc huy động vốn từ bên ngoài, doanh nghiệp có
thể buộc phải từ bỏ những dự án đầu tư có hiện giá ròng dương.
Thứ ba, nắm giữ tiền làm giảm chi phí huy động vốn từ bên ngoài hay tránh trường
hợp buộc phải thanh lý tài sản hiện có của doanh nghiệp, tiền đóng vai trò như cái
đệm giữa nguồn và sử dụng nguồn của doanh nghiệp.
Chi phí biên truyền thống của việc nắm giữ tiền là chi phí cơ hội của vốn vì nó làm
giảm tỷ suất sinh lợi tính trên tài sản lưu động (Ferreira và Vilela, 2004).
2.2.2.2. Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking order theory)
Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers (1984) cho rằng: các doanh nghiệp sẽ tài trợ
cho các khoản đầu tư theo thứ tự như sau: đầu tiên là lợi nhuận giữ lại, sau đó là nợ
an toàn, tiếp theo là nợ có rủi ro và cuối cùng là vốn chủ sở hữu. Mục đích của trật
11
2.2.3. Các nhân tố tác động đến lượng tiền nắm giữ được phát triển từ các lý
thuyết bởi các tác giả
2.2.3.1. Quy mô doanh nghiệp
Lý thuyết đánh đổi: Mô hình Miller và Orr (1966) về nhu cầu về tiền của các doanh
nghiệp lớn gợi ý rằng có quy mô kinh tế trong việc quản lý tiền. Điều này có thể
dẫn đến giả thiết các doanh nghiệp lớn sẽ nắm giữ ít tiền hơn các doanh nghiệp nhỏ.
Theo Peter và Rajan (2003), những khoản phí phát sinh để có được tiền thông qua
hình thức vay mượn thì không tương thích với quy mô của khoản vay, điều này chỉ
ra rằng những khoản phí là cố định. Vì thế việc huy động vốn là khá tốn kém đối
với các doanh nghiệp nhỏ. Do đó vì mục đích dự phòng, các doanh nghiệp nhỏ
thường nắm giữ nhiều tiền hơn so với các doanh nghiệp lớn. Theo Rajan và
Zingales (1995), những doanh nghiệp lớn thường có sự đa dạng hóa trong hoạt động
kinh doanh, vì thế họ giảm được khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính. Những lý luận
này cho thấy có mối tương quan ngược chiều giữa quy mô doanh nghiệp và lượng
tiền nắm giữ (Ferreira và Vilela, 2004).
Lý thuyết trật tự phân hạng: Theo Opler et al. (1999) những doanh nghiệp lớn
thường là các doanh nghiệp thành công trong hoạt động kinh doanh, vì thế các
doanh nghiệp này thường có nhiều tiền, sau khi kiểm soát các khoản đầu tư.
Lý thuyết dòng tiền tự do: Những doanh nghiệp càng lớn thì càng có sự phân tán về
mức độ cổ đông. Bên cạnh đó, những doanh nghiệp lớn ít có khả năng trở thành
mục tiêu của các cuộc thâu tóm bởi vì việc này đòi hỏi một nguồn lực tài chính
mạnh. Vì thế, ban quản lý của các doanh nghiệp lớn được kỳ vọng có nhiều sức
mạnh tự chủ trong các quyết định đầu tư và tài chính, điều này dẫn đến việc nắm
giữ lượng tiền lớn hơn ở các doanh nghiệp lớn (Ferreira và Vilela, 2004).
13
2.2.3.4. Dòng tiền
Lý thuyết đánh đổi: Theo Kim et al. (1998) dòng tiền được xem như nguồn cung
cấp khả năng thanh khoản cho doanh nghiệp và nó được xem như một khoản thay
thế cho tiền. Vì thế, dòng tiền và lượng tiền nắm giữ được kỳ vọng có mối tương
quan ngược chiều.
Lý thuyết trật tự phân hạng: Những doanh nghiệp có dòng tiền lớn sẽ nắm giữ
nhiều tiền. Vì thế, dòng tiền và lượng tiền nắm giữ được kỳ vọng có mối tương
quan cùng chiều (Ferreira và Vilela, 2004).
2.2.3.5. Biến động dòng tiền
Lý thuyết đánh đổi: Những doanh nghiệp có biến động dòng tiền mạnh có khả năng
đối mặt với sự thiếu hụt về tiền bởi vì sự sụt giảm bất ngờ của dòng tiền. Vì thế,
biến động của dòng tiền có thể có tương quan cùng chiều với lượng tiền nắm giữ
(Ferreira và Vilela, 2004).
Ngoài ra, theo Ozkan và Ozkan (2004) khi doanh nghiệp có biến động dòng tiền lớn
sẽ có nguy cơ phải bỏ qua những dự án có giá trị. Doanh nghiệp thường xuyên gặp
phải biến động dòng tiền sẽ phải gánh chịu chi phí huy động vốn cao. Vì thế để loại
bỏ chi phí do hạn chế về thanh khoản, doanh nghiệp sẽ nắm giữ nhiều tiền hơn khi
thường xuyên gặp phải vấn đề về biến động dòng tiền.
2.2.3.6. Cơ hội đầu tư
Lý thuyết đánh đổi: Chi phí do thiếu hụt tiền có thể lớn hơn đối với những doanh
nghiệp có những cơ hội đầu tư lớn vì những khoản lỗ có thể dự tính được do kết quả
từ việc từ bỏ những dự án đầu tư có giá trị.
Vì thế, theo lý thuyết đánh đổi, có mối tương quan cùng chiều giữa lượng tiền nắm
giữ và cơ hội đầu tư. Lý thuyết cũng dự đoán rằng những doanh nghiệp với những
cơ hội đầu tư tốt hơn có chi phí kiệt quệ tài chính lớn hơn bởi vì hiện giá ròng
14
Doanh nghiệp ở các quốc gia EMU có quan hệ gần gũi với các ngân hàng. Ở các
nước EMU, các ngân hàng sở hữu một phần quan trọng chứng khoán của các doanh
nghiệp. Vì thế dẫn đến câu hỏi là mối quan hệ gần gũi giữa ngân hàng và doanh
nghiệp sẽ tác động như thế nào đến lượng tiền nắm giữ của các doanh nghiệp này.
Có thể thấy rằng các ngân hàng có một vị thế tốt để có thể đánh giá được chất lượng
tín dụng của doanh nghiệp và để kiểm tra, giám sát các chính sách tài chính của
doanh nghiệp có vay nợ. Vì thế, có thể thấy rằng những doanh nghiệp dựa chủ yếu
vào nợ ngân hàng như một nguồn tài chính ít có khả năng gặp phải những vấn đề
liên quan đến bất cân xứng thông tin và đại diện mà thường hay gặp phải ở những
loại hình nợ khác. Bởi vì vấn đề về đại diện và bất cân xứng thông tin là nguồn gốc
quan trọng của các khoản chi phí tài chính gián tiếp, các vấn đề này có thể dẫn đến
những hạn chế khi tiếp cận thị trường vốn, vì thế có thể kỳ vọng được những doanh
nghiệp có nợ ngân hàng lớn hơn, sẽ nắm giữ ít tiền hơn vì động cơ thận trọng
(Ferreira và Vilela, 2004). Điều này cho thấy nợ ngân hàng và lượng tiền nắm giữ
có tương quan ngược chiều với nhau.
Fama (1985) cho rằng các ngân hàng có lợi thế khi đóng vai trò là người cho vay
trong việc giảm chi phí thông tin và tiếp cận những thông tin từ những quyết định
của doanh nghiệp mà các thông tin này không được công bố một cách công khai.
Vì thế ngân hàng đóng vai trò sàng lọc thông tin cá nhân doanh nghiệp và điều này
cho phép ngân hàng có thể đánh giá và kiểm soát doanh nghiệp hiệu quả hơn những
đối tượng cho vay khác. Vì thế, khi ngân hàng sẵn lòng cung cấp một khoản vay
mới cho một doanh nghiệp có thể cho thấy một dấu hiệu thông tin tích cực về doanh
nghiệp này. Hơn nữa, ngoài việc cung cấp dấu hiệu sự tin cậy về tín dụng của doanh
nghiệp, mối quan hệ hiện hữu với ngân hàng có thể tăng khả năng của doanh nghiệp
tiếp xúc với thị trường tài chính bên ngoài. Nói rộng hơn, những doanh nghiệp có
càng nhiều nợ ngân hàng trong cấu trúc vốn của nó thì càng dễ dàng tiếp cận với
nguồn tài chính bên ngoài. Điều này có thể ngụ ý rằng, các doanh nghiệp có nhiều
16
17
thời gian. Tác giả đã tìm ra bằng chứng để củng cố cho giả thiết của lý thuyết đánh
đổi liên quan đến lượng tiền nắm giữ.
Kết quả nghiên cứu của Opler et al. (1999) cho thấy nhóm các doanh nghiệp bao
gồm các doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng lớn, các doanh nghiệp có hoạt động
kinh doanh ít rủi ro và các doanh nghiệp nhỏ sẽ giữ tiền nhiều hơn các doanh
nghiệp khác (nhân tố quy mô doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh). Đồng thời,
các doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận thị trường vốn sẽ nắm giữ ít tiền hơn
(nhân tố tỷ lệ đòn bẩy và nợ ngân hàng). Kết quả này cũng giống với các doanh
nghiệp giữ nhiều tài sản lưu động để đảm bảo rằng họ có thể duy trì hoạt động ngay
cả khi dòng tiền từ hoạt động kinh doanh quá thấp và chi phí sử dụng vốn bên ngoài
quá đắt đỏ. Kết quả nghiên cứu của Opler et al. (1999) hỗ trợ rất hạn chế cho quan
điểm là doanh nghiệp sẽ sử dụng tiền thặng dư để đầu tư, mua bán và sáp nhập.
Ngoài ra, nghiên cứu của Opler et al. (1999) không giải thích được vì sao doanh
nghiệp giữ nhiều tiền hơn mức tối ưu (lượng tiền mặt tối ưu theo lý thuyết đánh đổi)
và cũng không thể hiểu rõ các chi phí phát sinh liên quan đến thực tế này.
2.3.3. Lee Pinkowitz và Rohan G. Williamson – “Sức mạnh của ngân hàng và
lượng tiền nắm giữ: bằng chứng từ Nhật Bản” – 2001
Bài nghiên cứu của Pinkowitz và Williamson nghiên cứu tác động của sức mạnh
của ngân hàng đến lượng tiền nắm giữ sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp ngành
công nghiệp tại các nước Mỹ, Đức và Nhật Bản. Thời kỳ nghiên cứu của các doanh
nghiệp Nhật Bản là từ năm 1974 – 1995, của Đức là từ năm 1984 – 1994, của Mỹ là
từ năm 1971 – 1994. Kết quả bài nghiên cứu chỉ ra rằng những doanh nghiệp ở
Nhật Bản nắm giữ nhiều tiền hơn so với các doanh nghiệp ở Đức và Mỹ. Tác giả
ghi nhận số dư tiền của các doanh nghiệp ở Nhật Bản bị tác động bởi sức mạnh độc
quyền của ngân hàng. Trong suốt thời kỳ các ngân hàng có sức mạnh, các doanh
nghiệp nắm giữ nhiều tiền. Khi ngân hàng suy yếu, lượng nắm giữ tiền của các
doanh nghiệp Nhật Bản tương tự như các doanh nghiệp ở Mỹ. Tác giả kết luận rằng
những ngân hàng mạnh ở Nhật Bản đã thuyết phục các doanh nghiệp nắm giữ lượng