Thuế tác động đến chính sách cổ tức của các doanh nghiệp - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------------

THÁI ÁI UYÊN

THUẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------------

THÁI ÁI UYÊN

THUẾ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHÍNH SÁCH CỔ TỨC
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ ĐẠT CHÍ


2.1.1. Tổng quan cổ tức và thuế cổ tức ................................................. 5
2.1.1.1. Khái niệm ................................................................................. 5
2.1.1.2. Các phương thức chi trả cổ tức ................................................ 5
2.1.2. Tổng quan về chính sách cổ tức .................................................. 7
2.2. Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về chính sách
cổ tức và tác động của thuế......................................................................... 9
3. Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu ...................................17
3.1. Chính sách thuế thu nhập cá nhân đánh trên cổ tức tại Việt Nam...17
3.2. Phạm vi nghiên cứu .........................................................................19
3.2.1. Đối tượng nghiên cứu................................................................19
3.2.2. Thời điểm nghiên cứu ...............................................................20
3.3. Quy mô mẫu nghiên cứu .................................................................20


3.4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................21
4. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu .........................................31
4.1. Nhóm công ty có tỷ suất lợi nhuận cao nhất ...................................31
4.1.1. Mô hình hồi quy đa biến ............................................................31
4.1.2. Mô hình hồi quy đơn biến ..........................................................32
4.2. Nhóm công ty có tỷ suất lợi nhuận cao ...........................................34
4.2.1. Mô hình hồi quy đa biến ............................................................34
4.2.2. Mô hình hồi quy đơn biến ..........................................................35
4.3. Nhóm công ty có tỷ suất lợi nhuận thấp ..........................................36
4.3.1. Mô hình hồi quy đa biến ............................................................36
4.3.2. Mô hình hồi quy đơn biến ..........................................................37
4.4. Nhóm công ty có tỷ suất lợi nhuận thấp nhất ..................................39
4.4.1. Mô hình hồi quy đa biến ............................................................39
4.4.2. Mô hình hồi quy đơn biến ..........................................................40
4.5. Nhóm công ty có quy mô lớn nhất ..................................................41
4.5.1. Mô hình hồi quy đa biến ............................................................41


4.12.1. Mô hình hồi quy đa biến ............................................................56
4.12.2. Mô hình hồi quy đơn biến ..........................................................58
4.13.

Kết quả chạy hồi quy thể hiện mối quan hệ giữa tỷ suất cổ tức và

thuế suất thuế thu nhập đối với bảng dữ liệu chia làm 9 nhóm ................60
5. Chương 5: Kết luận ...............................................................................62
Phụ lục


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Mối tương quan giữa sai số cổ tức dự đoán trung bình và thuế suất
........................................................................................................ 30
Bảng 2: Tổng hợp kết quả chạy hồi quy mô hình hồi quy thể hiện mối quan
hệ giữa thuế suất và cổ tức ............................................................. 59
Bảng 3: Tổng hợp kết quả chạy hồi quy mô hình hồi quy thể hiện mối quan
hệ giữa thuế suất và cổ tức đối với 9 nhóm dữ liệu ....................... 61


1

Tóm tắt
Trong những năm gần đây, chính sách thuế của Việt Nam đã có bước thay
đổi đáng kể khi đánh thuế thu nhập cá nhân lên cổ tức tiền mặt nhận được
của các nhà đầu tư chứng khoán, thay vì toàn bộ cổ tức nhận được từ đầu tư
vốn được miễn thuế thu nhập cá nhân như giai đoạn trước năm 2009. Liệu
thuế cổ tức ảnh hưởng như thế nào đến cổ tức tiền mặt mà nhà đầu tư nhận
được? Liệu rằng khi thuế suất thuế thu nhập cá nhân từ cổ tức tăng hay

quan trọng giúp làm tăng giá trị doanh nghiệp. Chính sách cổ tức truyền tải
tín hiệu dự báo sự phát triển của công ty (Bhattacharya 1979) đến thị trường
rằng chỉ những công ty tốt mới chi trả cổ tức; cổ tức cũng là công cụ giúp
hạn chế vấn đề đại diện bằng cách tiết giảm dòng tiền tự do sẵn có để chi
tiêu của nhà quản lý (Jensen 1986) – vấn đề này cho rằng có sự xung đột
giữa lợi ích của nhà quản lý và lợi ích của các cổ đông. Nó xuất phát từ việc
nhà quản lý hành động vì động cơ riêng, vì lợi ích cá nhân của mình, tức là
họ xây dựng một đế chế riêng của mình bằng cách đầu tư tiền vào dự án có
NPV âm, hoặc chi tiền mặt quá mức cho các khoản thưởng, thù lao, và các
đặc quyền.
Đứng trên góc độ nhà đầu tư, cổ tức là một nguồn thu nhập quan trọng
không chỉ của những nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu dài hạn, mà còn là của
nhà đầu tư cổ phiếu “lướt sóng”. Cổ đông xem việc chi trả cổ tức là thu
nhập khi nắm giữ cổ phiếu của công ty, do đó, cổ tức tác động không nhỏ
đến quyết định của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán. Theo Miller
và Rock (1985), cổ tức không chỉ đơn thuần là chính sách của doanh
nghiệp, mà đó còn chịu sự tác động của chiến lược đầu tư, quyết định tài


3

chính, và những thông tin nội bộ. Theo Fama và French (2001), lợi nhuận,
cơ hội đầu tư, và quy mô của công ty đặc biệt có tác động đến chính sách cổ
tức của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu của mình, George M. Jabbour và
Yikang Liu (2006) nhận thấy ngoài những yếu tố trên, chính sách cổ tức
còn chịu tác động của thuế thu nhập. Trong nghiên cứu về chính sách cổ tức
từ năm 1920 đến 1960, John A. Brittain thấy rằng thuế suất tăng làm giảm
tỷ lệ chi trả cổ tức1. Có thể thấy, thuế suất thuế thu nhập tác động không
nhỏ đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp. Do đó, tìm hiểu tác động của
thuế thu nhập đến cổ tức của doanh nghiệp tại Việt Nam là một yêu cầu cấp


Đóng góp của luận văn

Luận văn có 3 đóng góp chính như sau :
Thứ nhất, luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm mối quan hệ giữa thuế suất
thuế thu nhập và cổ tức tiền mặt của các công ty niêm yết trên sàn giao dịch
chứng khoán TP. HCM bằng nghiên cứu thực nghiệm, cũng như tìm hiểu
yếu tố nào trong các yếu tố lợi nhuận, cơ hội đầu tư, và quy mô có tác động
đến mối quan hệ này.
Thứ hai, kết quả của bài nghiên cứu có thể giúp những nhà đầu tư quan tâm
đến cổ tức của doanh nghiệp có thể lựa chọn danh mục đầu tư theo đúng
khẩu vị của mình.
Thứ ba, các nhà điều hành chính sách có thể đưa ra chính sách thuế thu
nhập cá nhân từ cổ tức phù hợp nhằm điều tiết thị trường theo mục tiêu đã
định sẵn.
1.5.

Bố cục của luận văn

Luận văn gồm có 5 chương: Chương 1 giới thiệu và trình bày tổng quan các
nội dung chính của luận văn và giải thích lý do tác giả chọn đề tài này để
nghiên cứu. Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết, kết quả của các nghiên
cứu thực nghiệm có liên quan trước đây. Chương 3 mô tả mẫu, phương
pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và giải thích các biến được sử dụng
để phân tích. Chương 4 thảo luận về những kết quả thực nghiệm. Chương 5
kết luận của luận văn.


5



được cuối cùng có thể ít hơn mức cổ tức đã công bố. Chia cổ tức bằng tiền
mặt đáp ứng nhu cầu của những nhà đầu tư có khẩu vị rủi ro thấp do những
nhà đầu tư này mong muốn một thu nhập chắc chắn ở hiện tại hơn là nguồn
thu nhập có thể cao hơn nhưng không chắc chắn ở tương lai. Cổ tức tiền
mặt bản thân nó cũng mang giá trị truyền dẫn thông tin đến thị trường về
tình hình hoạt động thuận lợi cũng như dòng tiền ổn định của doanh nghiệp.
Cổ tức cổ phần
Doanh nghiệp có thể gia tăng cổ phần của mình bằng cách chi trả cổ tức cổ
phần, hay còn gọi là trả cổ tức bằng cổ phiếu cho các cổ đông. Nói cách
khác, trả cổ tức bằng cổ phiếu là công ty chi trả cổ phần thường cho các cổ
đông nắm giữ cổ phần thường theo tỷ lệ nhất định và công ty không nhận
được khoản tiền thanh toán nào từ phía cổ đông. Hình thức này được áp
dụng khi doanh nghiệp muốn giữ lại lợi nhuận cho mục đích đầu tư và
muốn làm an lòng cổ đông. Hình thức này tuy làm loãng giá cổ phiếu,
nhưng lại hạn chế lượng tiền mặt đi ra khỏi doanh nghiệp. Lợi thế của cổ
tức cổ phần là cổ đông có sự lựa chọn giữ lại cổ phần, hoặc bán một phần
cổ phần mới nhận để biến thành cổ tức tiền mặt cho mình. Cổ tức cổ phần
cũng có lợi thế là có thể hoãn đóng thuế thu nhập cho đến khi nhà đầu tư
bán số cổ phần đó. Nhìn chung, khi thị trường chứng khoán đang trong xu
thế tăng, các cổ đông mong muốn được trả cổ tức bằng cổ phiếu và ngược
lại, khi thị trường giảm, nhà đầu tư muốn nhận cổ tức tiền mặt.
Mua lại cổ phần
Công ty có thể tiến hành mua lại một phần hoặc toàn bộ số cổ phiếu do
công ty đã phát hành đang thuộc quyền sở hữu của các cổ đông theo
phương thức mua trực tiếp từ cổ đông bằng cách đưa ra một mức giá đệm
thường cao hơn giá thị trường, hoặc có thể mua lại ở thị trường tự do, hoặc


7


Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động
Chính sách lợi nhuận giữ lại thụ động xác nhận rằng một doanh nghiệp nên
giữ lại lợi nhuận khi doanh nghiệp có các cơ hội đầu tư hứa hẹn các tỷ suất
sinh lợi cao hơn tỷ suất sinh lợi mong đợi mà cổ đông đòi hỏi, bởi vì chi trả
cổ tức đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chấp nhận hi sinh các cơ hội đầu
tư hoặc phải huy động vốn từ các nguồn khác nhằm bù đắp nguồn vốn thiếu
hụt từ việc chi trả cổ tức. Nói cách khác, chính sách lợi nhuận giữ lại thụ
động ngụ ý việc chi trả cổ tức của doanh nghiệp là nên thay đổi từ năm này
sang năm khác tùy thuộc vào các cơ hội đầu tư có sẵn. Tuy nhiên, hầu hết
các doanh nghiệp thường cố gắng duy trì một mức cổ tức ổn định theo thời
gian.
Nguyên lý giữ lại lợi nhuận thụ động cũng đề xuất là công ty ‘‘tăng trưởng’’
thường có tỷ lệ chi trả cổ tức thấp hơn các doanh nghiệp đang trong giai
đoạn sung mãn (bão hòa).
Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định
Chính sách cổ tức tiền mặt ổn định được xây dựng trên cơ sở lý thuyết ổn
định lợi tức cổ phần. Theo đó, công ty duy trì mức chi trả cổ tức tương đối
ổn định liên tục qua các năm, sự biến động nếu có sẽ không đáng kể so với
sự biến động của lợi nhuận. Hầu hết các doanh nghiệp và cổ đông đều thích
chính sách cổ tức tương đối ổn định. Tính ổn định được đặc trưng bằng một
sự miễn cưỡng trong việc giảm lượng tiền mặt chi trả cổ tức từ kỳ này sang
kỳ khác. Tương tự, những gia tăng trong tỷ lệ cổ tức thường vẫn bị trì hoãn
cho đến khi nào các giám đốc tài chính thực sự tin tưởng rằng các khoản lợi
nhuận trong tương lai đủ cao đến mức độ thỏa mãn cổ tức lớn hơn, đồng
thời, khi đã tăng thì sẽ cố gắng duy trì cổ tức ở mức đã định cho đến khi


9



10

các dự án tốt, tiềm năng, do đó thường tránh chi trả cổ tức và giữ lại phần
lớn lợi nhuận cho các cơ hội đầu tư sẵn có thay vì trả cổ tức và sau đó huy
động vốn bằng cách vay nợ hoặc phát hành cổ phiếu mới ra công chúng –
vốn tốn kém chi phí và bất tiện. Theo Miller và Mordigliani (1961), chính
sách cổ tức không tác động đến giá trị doanh nghiệp trong thị trường vốn
hiệu quả và hoàn hảo. Tuy nhiên, mô hình của MM không diễn đạt chính
xác thế giới thực, nơi luôn hiện hữu những bất hoàn hảo và không hiệu quả
của thị trường vốn như thuế, chi phí giao dịch, chi phí phát hành. Do đó lại
nảy sinh những tranh luận về sự bất hoàn hảo và không hiệu quả của thị
trường vốn, hoặc là liệu kỳ vọng của các cổ đông có hợp lý hoàn toàn hay
không. Ngoài ra, nghiên cứu của Kahnemal và Smith (2002) trong nghiên
cứu đoạt giải Nobel của mình về kinh tế học hành vi và kinh tế học thực
nghiệm đã cho thấy con người hành động không theo kỳ vọng hợp lý, mà
hành động theo kinh nghiệm.
Theo Lintner (1956), các doanh nghiệp có các tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu
dài hạn, cổ tức thay dổi theo sau những thay đổi trong lợi nhuận ổn định và
kéo dài hơn là luôn bám sát tỷ lệ chi trả cổ tức mục tiêu sẽ thay đổi cổ tức
bất cứ khi nào lợi nhuận thay đổi, bởi những giám đốc tài chính trong
nghiên cứu của ông tin rằng các cổ đông thích một tiến trình ổn định trong
chính sách cổ tức. Các doanh nghiệp càng bảo thủ thì họ càng chậm thay
đổi mục tiêu chi trả cổ tức của mình. Mô hình đơn giản của Lintner xác
nhận rằng cổ tức phụ thuộc một phần vào lợi nhuận hiện tại của doanh
nghiệp và một phần vào cổ tức của năm trước. Lintner cũng cho rằng các
giám đốc tài chính thường tập trung vào những thay đổi trong việc chi trả
cổ tức hơn là mức chi trả tuyệt đối, tức là nếu mức cổ tức chi trả trong năm
nay là 5% thì sẽ là một quyết định tài chính ấn tượng nếu cổ tức của năm
trước là 2%, nhưng sẽ không là gì nếu cổ tức của năm trước cùng là 5%; và

cơ quan thuế đưa ra thuế suất đánh trên lãi vốn và cắt giảm thuế suất đánh


12

trên cổ tức cho nhà đầu tư. Theo Blume (1980), các nhà đầu tư luôn hi vọng
tăng mức chi trả cổ tức mặc dù lợi nhuận giảm. Khi mức chi trả cổ tức tăng,
có 41,8% nhà đầu tư mong muốn tăng lượng cổ phiếu nắm giữ trong khi chi
có 10,5% có ý định giảm số cổ phần của mình. Điều này được giải thích là
do ảnh hưởng của sự chênh lệch giữa thuế thu nhập cá nhân đánh trên cổ
tức bằng tiền mà nhà đầu tư nhận được so với thuế đánh trên lãi vốn. Ngoài
ra, kinh nghiệm của một số nhà đầu tư rằng nắm giữ cổ phiếu có thể gia
tăng mức thu nhập từ lãi vốn trong tương lai. Gordon và Bradford (1980)
trong nghiên cứu thực nghiệm cũng nhận thấy các nhà đầu tư đều không
thích cổ tức.
Theo Brennan (1970), trong lý thuyết của mình, trong khi vẫn cân nhắc đến
tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đến chính sách cổ tức của doanh
nghiệp thì dường như Miller và Modiglianni đã bỏ quên thuế thu nhập cá
nhân. Cũng trong nghiên cứu của mình về tác động của thuế thu nhập đến
chính sách cổ tức, ông nhận thấy khi xuất hiện thuế suất T>0 trong thị
trường cân bằng, lợi nhuận từ việc chi trả cổ tức của nhà đầu tư sẽ giảm, do
đó, chi trả cổ tức bằng tiền không phải giải pháp tối ưu, mà chính sách mua
lại cổ phần dường như là một thay thế tốt. Tuy nhiên, không phải tất cả các
công ty đều chọn giải pháp này, nhiều công ty vẫn lựa chọn trả cổ tức do
phải chịu áp lực về pháp luật hay những điều khoản riêng, rằng không được
phép mua cổ phiếu quỹ. Litzenberger và Ramaswamy (1979, 1980, 1982)
cũng đồng quan điểm với Brennan là tỷ suất cổ tức tỷ lệ thuận với lợi nhuận
trước thuế, cụ thể, nếu tỷ suất cổ tức tăng 1% thì lợi nhuận trước thuế mong
đợi phải tăng 23%2. Tuy nhiên, Miller và Scholes (1978) lại cho rằng việc
thay đổi thuế suất sẽ không làm ảnh hưởng đến chính sách cổ tức cũng như

có lợi nhuận cao vẫn duy trì chi trả cổ tức và dường như không có ý định
giảm chi trả cổ tức. Fama và French kết luận chính sách cổ tức chịu tác
3

Lý thuyết “bird-in-hand” tin rằng các nhà đầu tư thích những cổ phiếu đang chi trả cổ tức hơn những cổ

phiếu có giá trị cao trong tương lai. Niềm tin này dựa trên giả định hầu hết mọi người đều ít thích rủi ro.


14

động của các nhân tố thuộc đặc điểm công ty như lợi nhuận, cơ hội đầu tư
và quy mô của công ty; những công ty càng lớn và càng có nhiều lợi nhuận
thì có xu hướng chi trả cổ tức càng nhiều, những công ty có nhiều cơ hội
đầu tư có xu hướng chi trả cổ tức càng thấp. Hai ông cũng nhận thấy rằng,
chính sách cổ tức của doanh nghiệp chịu tác động của thuế, tức là doanh
nghiệp giảm chi trả cổ tức mà thay vào đó là mua cổ phiếu quỹ là do tác
động bất lợi của thuế thu nhập.
Trong bài nghiên cứu năm 2012 liên quan đến sự cắt giảm thuế năm 2003
của Chính quyền Bush, Jesse Edgerton đã so sánh chính sách cổ tức của các
công ty nhận được sự ưu đãi từ chính sách cắt giảm thuế với chính sách cổ
tức của nhóm các công ty REITs (Real Estate Investment Trust – Các công
ty ủy thác đầu tư bất động sản) – vốn không được hưởng lợi từ chính sách
cắt giảm cổ tức này. Tác giả của bài báo nhận thấy các công ty REITs và
“nonREITs” vẫn tăng chi trả cổ tức mặc dù có hay không việc được hưởng
lợi từ việc cắt giảm thuế suất thuế thu nhập cá nhân từ cổ tức. Thậm chí cổ
tức của các công ty REITs vẫn tăng trưởng một cách nhanh chóng. Từ đó
Jesse Edgerton kết luận việc tăng chi trả cổ tức của các công ty sau khi điều
chỉnh thuế suất năm 2003 là do ảnh hưởng của việc tăng trưởng lợi nhuận
nhanh chóng, chứ không phải do tác động của chính sách thuế. Ông cũng

đến lớn theo 3 tiêu chí trên. Với mỗi tiêu chí, hai ông chia nhỏ thành 4
nhóm dựa trên điểm tứ phân vị và chạy mô hình hồi quy để tìm hiểu tác
động của tỷ suất lợi nhuận, cơ hội đầu tư và quy mô công ty lên tỷ suất cổ
tức của doanh nghiệp, sau đó tính toán sai số cổ tức dự đoán trung bình cho
mỗi nhóm đặc điểm. Kết quả nghiên cứu của George M. Jabbour và Yikang
Liu (2006) cho thấy 3 yếu tố thuộc về đặc điểm công ty (tỷ suất lợi nhuận,
cơ hội đầu tư và quy mô công ty) có mối tương quan cao với tỷ suất cổ tức
của doanh nghiệp, giống với kết quả nghiên cứu của Fama và French
(2001). Hai ông cũng nhận thấy, đối với nhóm doanh nghiệp được phân loại


16

theo quy mô, chỉ có nhóm 25% công ty có quy mô nhỏ nhất có hệ số hồi
quy của thuế suất thuế thu nhập là âm, có nghĩa là khi thuế suất giảm, tỷ
suất cổ tức của những công ty có quy mô nhỏ nhất có xu hướng tăng, điều
này có thể giải thích là nhóm những công ty này mong muốn thu hút sự chú
ý của các nhà đầu tư bằng cổ tức. Tuy nhiên, hệ số hồi quy của nhóm công
ty này không có ý nghĩa thống kê. George M. Jabbour và Yikang Liu kết
luận rằng khi bỏ qua tác động của thuế, quy mô doanh nghiệp là yếu tố
quan trọng nhất tác động đến chính sách cổ tức của doanh nghiệp, nghiên
cứu thực nghiệm cho thấy lợi nhuận là nhân tố duy nhất liên quan đến cổ
tức khi xem xét đến tác động của thuế. Nói cách khác, những doanh nghiệp
có lợi nhuận càng cao thì càng trả cổ tức cao khi thuế suất giảm. Như vậy,
hai ông dự đoán chính sách cải cách thuế mới của chính quyền Bush năm
2003 sẽ tác động đến những công ty có tỷ suất lợi nhuận cao và cao nhất.
Nghiên cứu vào năm 2013 tại thị trường Nigeria– một nước có nền kinh tế
mới nổi tương tự Việt Nam – cũng cho thấy kết quả tương tự với kết quả
của George M. Jabbour và Yikang Liu (2006). Trong bài nghiên cứu của
mình, James .O Odia và Killian.O. Ogiedu thực hiện hàm hồi quy thể hiện

thuế suất thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn được quy định là 5%.
Đến ngày 12 tháng 09 năm 2009, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số
160/2009/TT-BTC hướng dẫn Nghị quyết số 32/2009/QH12 ngày 19 tháng
06 năm 2009 của Quốc hội về việc miễn thuế thu nhập cá nhân năm 2009.
Khoản 3 Điều 2 của Thông tư này quy định thu nhập làm căn cứ xác định


18

số thuế thu nhập cá nhân từ đầu tư vốn được miễn là “thu nhập nhận được
từ hoạt động đầu tư vốn của năm 2009. Cụ thể như sau: đối với thu nhập từ
lợi tức, cổ tức nhận được từ việc góp vốn cổ phần: là phần cổ tức, lợi tức
được chia của năm 2009 theo quy định của pháp luật. (…) Trường hợp cá
nhân nhận trước thu nhập cho nhiều năm thì phần thu nhập tương ứng của
năm 2009 được miễn thuế”. Khoản 7 Điều 2 của Thông tư này cũng quy
định “Các khoản thu nhập thuộc diện được miễn thuế thu nhập cá nhân
theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều 1 của Thông tư này nếu được chi trả sau
năm 2009 thì thời hạn chi trả thu nhập được áp dụng miễn thuế chậm nhất
không quá ngày 30/6/2010. Nếu chi trả sau thời hạn nêu trên sẽ không được
miễn thuế thu nhập cá nhân” Theo đó, khoản thu nhập từ cổ tức của giai
đoạn từ ngày 01 tháng 01 đến ngày 31 tháng 12 năm 2009, và cổ tức của
năm 2009 được chi trả trước ngày 30 tháng 06 năm 2010 được miễn nộp
thuế thu nhập cá nhân. Như vậy, thuế thu nhập cá nhân từ cổ tức giai đoạn
năm 2009 bằng 0% (không phần trăm).
Thông tư số 154/2011/TT-BTC được ban hành ngày 11 tháng 11 năm 2011
của Bộ Tài chính hướng dẫn nghị định số 101/2011/NĐ-CP ngày 04 tháng
11 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số
08/2011/QH13 của Quốc hội về ban hành bổ sung một số giải pháp về thuế
nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân. Điều 11 Thông tư
154 quy định thời gian miễn thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ cổ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status