I
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
--------------------
NGUYỄN QUỐC THANH
KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ DẠNG YẾU CỦA
THỊ TRƢỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
(TRƢỜNG HỢP SGDCK TP.HCM)
Chuyên ngành : Kinh tế tài chính ngân hàng
Mã số : 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học :
PGS TS NGUYỄN THỊ LIÊN HOA
TP.Hồ Chí Minh– Năm 2012
II
KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ CỦA THỊ TRƢỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM : TRƢỜNG HỢP SỞ GIAO DỊCH
CHỨNG KHOÁN TP.HCM
TÓM TẮT
3.3.1 Kiểm định tính phân phối chuẩn ................................................... 19
3.3.2 Kiểm định tự tương quan .............................................................. 20
3.3.3 Kiểm định chuỗi ............................................................................ 24
III
IV.
KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH .................................................................. 26
4.1 Kết quả và ý nghĩa của kiểm định ....................................................... 26
4.1.1 Kiểm định phân phối chuẩn ...................................... 26
4.1.2 Kiểm định đơn vị (Unit root test) ............................ 30
4.1.3 Kiểm định chuỗi ....................................................... 44
4.1.4 Kiểm định tự tương quan ......................................... 44
4.2 Nhận xét về kết quả nghiên cứu .......................................................... 50
Kết luận……………………………………………..………………………….51
IV
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Tiếng Anh
Nghĩa tiếng Việt
Thị trường chứng khoán
SGDCK
Sở giao dịch chứng khoán
UBCKNN
Ủy ban chứng khoán Nhà Nước
TTLKCK
Trung tâm lưu ký chứng khoán
HoSE
Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM
TSSL
Tỷ suất sinh lợi
V
DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG BÀI NGHIÊN CỨU
Bảng 1.1 : Thông tin về chỉ số VN index và 7 mã chứng khoán..................................... 6
Bảng 4.1 : Bảng thống kê mô tả và dữ liệu TSSL theo ngày nghiên cứu trong bài ...... 27
Bảng 4.2 – Kết quả kiểm định cho đơn vị mã FPT ....................................................... 31
Bảng 4.3– Kết quả kiểm định cho đơn vị mã GMD ...................................................... 32
Bảng 4.4– Kết quả kiểm định cho đơn vị mã HAG ...................................................... 33
VII
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn
của Cô Nguyễn Thị Liên Hoa. Các nội dung nghiên cứu và kết quảtrong đề tài này là
trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trìnhnào.
TP.HCM, ngày 23 tháng 11 năm 2012
Tác giả
Nguyển Quốc Thanh
1
TÓM TẮT
Luận văn này xem xét tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam –
Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM. Những quan sát hàng ngày (daily series) được sử
dụng trong giai đoạn (2009-2011) cho chỉ số VN index và bảymã chứng khoánblue
chip có mức vốn hóa thị trường cao từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Nghiên cứu này sử
dụng phương pháp thống kê mô tả, kiểm định phân phối chuẩn, kiểm định đơn vị, kiểm
định tính tự tương quan, kiểm định chuỗi của lợi nhuận để việc xem xét để kiểm định
mức độ hiệu quả về mặt thông tin của thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả cho
thấy rằng, về dữ liệu hàng ngàycủa các mã chứng khoán nói trên và củaVN index có
dấu hiệu không tuân theo lý thuyết bước ngẫu nhiên. Nghiên cứu kết luận rằng thị
trường chứng khoán Việt Nam khôngđạt hiệu quả ở dạng yếu. Phát hiện này là phù
hợp với các nghiên cứu trước đây về hiệu quả dạng yếu ở Việt Nam.
Từ khóa : Thị trường hiệu quả dạng yếu
3
Lý thuyết quan trọng về hiệu quả thông tin đã được nhà khoa học Mỹ F.Fama
đề xuất năm 1970 có tên EMH (Efficient market hypothesis). Trong đó Fama cho rằng
giá của chứng khoán phản ánh đầy đủ thông tin chứa đựng trong nó. Ông chia lý thuyết
EMH ra làm ba loại dựa trên những thông tin chứa đựng trong nó : Hiệu quả thông tin
ở mức độ yếu (Weak form efficiency – WFE), hiệu quả thông tin ở mức độ trung bình
(semi-strong form) và hiệu quả thông tin ở mức độ mạnh (strong form). Ở dạng thứ
nhất, thị trường hiệu quả ở mức độ thấp được định nghĩa là giá chứng khoán phản ánh
đầy đủ thông tin dạng yếu của chứng khoán (thông tin trong quá khứ), bao gồm các
mức giá trong quá khứ, khối lượng giao dịch, tỷ suất sinh lợi trong quá khứ….Tại thị
trường dạng yếu này, mức giá hiện tại đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ
và mọi thông tin về cổ phiếu đó trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là tỷ suất
sinh lợi của chứng khoán cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với tương
lai. Nói cách khác nhà đầu tư không thể tìm kiếm thu nhập bất thường bằng những
thông tin tương tự của chúng trong quá khứ. Thị trường hiệu quả dạng này thường xuất
hiện ở các nước đang phát triển (thị trường mới nổi). Lý thuyết thị trường hiệu quả ở
mức độ trung bình thì cho rằng giá chứng khoán phản ảnh cả thông tin trong quá khứ
lẫn những thông tin công khai có sẵn trên thị trường. Thông tin công khai có trên thị
trường như : giá cổ phiếu, tỷ suất sinh lời, khối lượng giao dịch…Giá của chứng khoán
sẽ điều chỉnh tức thời ngay sau khi thông tin được công bố. Khi thị trường hiệu quả đạt
ở mức độ trung bình, sẽ không còn những thay đổi về giá có thể đoán được nữa. Điều
này có nghĩa là những nhà đầu tư khi ra quyết định dựa trên những thông tin mới sau
khi được công bố trên thị trường sẽ không thu được những khoản lợi nhuận bất thường
nào do mức giá hiện tại đã phản ảnh tất cả những thông tin công khai đó. Thị trường
loại này thường xuất hiện ở các nước phát triển trên thế giới. Dạng cuối cùng của thị
trường hiệu quả là thị trường hiệu quả ở cấp độ mạnh. Ở thị trường này, giá cả chứng
khoán phản ánh đầy đủ thông tin liên quan tới nó kể cả quá khứ lẫn hiện tại, từ công
khai đến nội bộ, thậm chí cả các thông tin cá nhân cũng được phản ánh. Lý thuyết về
thị trường hiệu quả ờ cấp độ mạnh là sự tổng hợp của cả hai loại thị trường hiệu quả ở
hiệu quả ở cấp độ thấp. Nhung nghiên cứu của Lê Đạt Chí trường ĐHKT TP.HCM
(2006) thì kết luận rằng một số cổ phiếu tuân theo EMH ở dang yếu.
Do những phát hiện rất khác nhau đó đối với TTCK Việt Nam nên tác giả đã
chọn đề tài “ Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của TTCK Việt Nam tại trung tâm giao
dịch chứng khoán TP.HCM” làm đề tài nghiên cứu. Lý thuyết thị trường hiệu quả sẽ
phần nào lý giải sự vận động bên trong TTCK. Vì vậy ngoài việc cung cấp thông tin về
5
sự hình thành và phát triển của TTCK Việt Nam trong những năm qua, bài luận văn
còn kiểm định xem TTCK Viêt Nam có thực sự hiệu quả ở dạng yếu hay không và
đồng thời đưa ra nguyên nhân cũng nhưgiải pháp để TTCK Việt Nam thực sự hiệu
quả.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là kiểm định giả thuyết “ Thị trường hiệu quả” cấp độ yếu
cho thị trường chứng khoán Việt Nam tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM. Đề tài
bao gồm những mục tiêu cụ thể sau :
-
Dựa vào lý thuyết “Thị trường hiệu quả” và các phương pháp kiểm định
trong thống kê để tiến hành kiểm định giả thuyết xem thị trường chứng
khoán Việt Nam có đạt hiệu quả thông tin ở mức độ thấp hay không ?
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Thị trường chứng khoán Việt Nam có đạt hiệu quả về mặt công bố thông tin
hay không ? Và đạt hiệu quả dạng nào ?
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Không gian nghiên cứu
Để kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán Việt Nam, tác
giả sử dụng chỉ số VN index và 7 mã chứng khoán đang hoạt động trên Sở giao dịch
HAG
4
REE
5
STB
6
Công ty CP Đại lý liên hiệp
Vận chuyển.
Công ty CP Hoàng Anh Gia
Lai.
Ngành
Phần mềm &
Dịch vụ máy
tính.
Giao thông công
nghiệp .
Số quan sát
749
749
Bất động sản.
phẩm.
8
VN - Index
Chỉ số giá CK sàn HOSE
749
749
7
Chƣơng 2 : TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
Khái niệm thị trường hiệu quả được đưa ra vào đầu kế kỷ trước bởi Bachelier
(1900), một nhà thống kê học người Pháp trong luận văn tiến sỹ của ông mang tựa “Lý
thuyết đầu cơ” (Theory of speculation). Trong đoạn mở đầu Bachelier đã viết “Quá
khứ, hiện tại thậm chí các sự kiện diễn ra trong tương lai sẽ phản ánh trong giá của thị
trường nhưng thường không thấy những thay đổi này có liên hệ rõ ràng với sự thay đổi
của giá”. Ông kết luận rằng giá của hàng hóa được mô tả là giao động ngẫu nhiên. Vì
thế các nhà đầu cơ sẽ không thể kiếm được lợi nhuận bất thường. Trường hợp này
được xem như là “trò chơi công bằng”(fair game) và được xem như là nền tảng của
học thuyết thị trường hiệu quả.
2.1 Thị trƣờng hiệu quả và lý thuyết bƣớc ngẫu nhiên
2.1.1 Sự phát triển của lý thuyết
Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH) lần đầu tiên được giới thiệu vào năm 1900
bởi Bachelier trong luận văn tiến sĩ của ông mang tên “Lý thuyết đầu cơ” và kể từ đó
nó tiếp tục được hoàn thiện. Trong những tác giả theo đuổi học thuyết EMH có
Kendall (1953) và Paul Samuelson (1965). Sau này các nhà kinh tế học đã tìm ra bằng
chứng liên quan đến EMH và đến năm 1960 lý thuyết bước ngẫu nhiên ra đời(RWH) –
xác tất cả các thông tin có sẵn trong việc định giá chứng khoán. Có nghĩa là thị trường
hiệu quả về mặt thông tin và khi đó nhà đầu tư không thể kiếm được lợi nhuận bất
thường từ việc có thông tin đó.
Dựa trên các định nghĩa trên của thị trường hiệu quả, định nghĩa của Famađược
coi là phổ biến nhất được sử dụng trong các tài liệu tài chính để xác định thị
trườnghiệu quả. Phạm vi luận án này là chỉ tập trung vào hình thức hiệu quả thị trường
yếu.
2.1.2 Các dạng của thị trƣờng hiệu quả
Thị trƣờng hiệu quả ở mức độ thấp : Là thị trường mà giá chứng khoán phản
ánh đầy đủ thông tin dạng yếu của chứng khoán (thông tin trong quá khứ), bao gồm
các mức giá trong quá khứ, tỷ suất sinh lợi trong quá khứ…. Tại thị trường dạng yếu
này, mức giá hiện tại đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi thông tin
9
trên thị trường nên giả thuyết này có nghĩa là tỷ suất sinh lợi của chứng khoán cũng
như các thông tin khác không có mối liên hệ với tương lai. Nói cách khác nhà đầu tư
không thể tìm kiếm thu nhập bất thường bằng những thông tin tương tự của chúng
trong quá khứ. Thị trường hiệu quả dạng này thường xuất hiện ở các nước đang phát
triển (thị trường mới nổi).
Thị trƣờng hiệu quả ở mức độ trung bình : Là thị trường mà giá chứng
khoán phản ảnh cả thông tin trong quá khứ lẩn những thông tin công khai có sẵn trên
thị trường. Thông tin công khai có trên thị trường như : giá cổ phiếu, tỷ suất sinh lời,
khối lượng giao dịch…Giá của chứng khoán sẽ điều chỉnh tức thời ngay sau khi thông
tin được công bố. Khi thị trường hiệu quả đạt ở mức độ trung bình, sẽ không còn
những thay đổi về giá có thể đoán được nữa. Điều này có nghĩa là những nhà đầu tư
khi ra quyết định dựa trên những thông tin mới sau khi được công bố trên thị trường sẽ
không thu được những khoản lợi nhuận bất thường nào do mức giá hiện tại đã phản
ảnh tất cả những thông tin công khai đó. Thị trường loại này thường xuất hiện ở các
nước phát triển trên thế giới.
quan tới khoản đầu tư vốn. Điều đáng nói ở đây là, dù có sự thay đổi lợi nhuận kỳ
vọng trong tương lai, song mô hình này vẫn thể hiện tính ngẫu nhiên trong thu nhập
của chứng khoán. Bởi vì mặc dù lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có xu hướng tăng
lên theo thời gian hay lợi nhuận phụ trội sẽ lớn hơn không, song không ai đoán được là
tăng bao nhiêu.
Tăng giá là kết quả điều chỉnh của thị trường khi có thông tin mới xuất hiện
trên thị trường. Trong thị trường hiệu quả, mọi thông tin được công bố một cách ngẫu
nhiên, chúng ta không thể biết được khi nào có thông tin mới và thông tin đó là gì, bởi
vì tất cả các nhà đầu tư đều nhận thông tin như nhau. Chính vì đặc tính quan trọng này
trong thị trường hiệu quả nên mọi phương pháp dự báo giá cổ phiếu trong tương lai
đều không có tác dụng, ngoại trừ việc dự đoán rằng giá chứng khoán sẽ tăng trong
tương lai theo chuỗi thời gian.
Trong mô hình bước ngẫu nhiên (Random walk model), giá của tài sản tài chính
có xu hướng theo bước ngẫu nhiên nếu sự thay đổi giá trong những lần kế tiếp là độc
lập và có cùng phân phối. Hai giả định trên đã tạo nên mô hình bước ngẫu nhiêu. Tuy
nhiên trong thực tế giá cả trong tương lai thì không thể dự đoán được nếu dựa trên giá
của quá khứ.
11
Fama cũng chỉ ra rằng, mô hình “Bước ngẫu nhiên” thực ra chính là sự mở rộng
của mô hình “trò chơi công bằng”. Nếu mô hình “trò chơi công bằng” nhằm nhấn
mạnh sự cân bằng của thị trường trong thu nhập của mỗi chứng khoán thì đối với mô
hình này lại giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự hình thành và chiều hướng chuyển biến
của khoản thu nhập đó. Chính vì vậy mà các phương pháp kiểm định của mô hình
“Bước ngẫu nhiên” hỗ trợ mạnh mẽ hơn cho lý thuyết EMH hơn các kiểm định trong
mô hình “Trò chơi công bằng”.
2.3 Bằng chứng thực nghiệm về thị trƣờng hiệu quả dạng yếu
Hầu hết các công trình nghiên cứu đầu tiên về lý thuyết WFE đều dựa trên lý
thuyết bước ngẫu nhiên RWH. Một nhóm các tham luận kiểm định tính hiệu quả yếu
Dimson và Massavian (1998), Osborne (1959), Fama (1965), Fama và Blume (1966)
cũng cho kết quả tương tự. Hơn nữa, Osborne (1959) lập luận rằng những thay đổi của
chuỗi giá làđộc lập vì quyết định của nhà đầu tư hoặc là mua hoặc bán cổ phiếu là độc
lập.Fama (1970) quan sát thấy rằng những thay đổi trong giá này có được chủ yếu là
do sự xuất hiện củathông tin mới. Vì thông tin là ngẫu nhiên trong xuất hiện, chuyển
động của giá chứng khoán cũng theo bước ngẫu nhiên.
2.4 Sơ lƣợc những tài liệu về thị trƣờng hiệu quả dạng yếu
Những bài nghiên cứu trước đây nhằm kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị
trường tập trung vào khả năng dự đoán từ lợi nhuận trong quá khứ. Tuy nhiên, nghiên
cứu của Fama (1991) đã mở rộng từ khả năng dự báo từ lợi nhuận trong quá khứ sang
dự báo lợi nhuận hợp lý từ những bài kiểm định chung và dự đoán dựa trên các yếu tố
như cổ tức trong quá khứ. Bài nghiên cứu sau đây mở rộng các bài kiểm định đã được
tiến hành để điều tra những căn cứ vững chắc của thị trường hiệu quả dạng yếu. Bài
nghiên cứu cũng cung cấp bằng chứng những bài kiểm định về thị trường hiệu quả
dạng yếu ở các nền kinh tế phát triển, các nền kinh tế mới nổi và ở thị trường chứng
khoán Việt Nam.
2.4.1 Bằng chứng từ thị trƣờng phát triển
Những nghiên cứu trước đây được thực hiện ở các quốc gia phát triển đều ủng
hộ lý thuyết WEF với những phát hiện ra hệ số tương quan thấp. Ví dụ bài nghiên cứu
của Kendall (1953) phân tích sự thay đổi giá chứng khoán theo tuần của 22 loại chứng
khoán ngành tiêu dùng của Mỹ và giá chứng khoán của ngàng công nghiệp Anh (18831934). Ông ta kết luận rằng, giá của chứng khoán giao động ngẫu nhiên. Hơn nữa bài
nghiên cứu của Fama (1965) về hành vi chỉ số giá của 30 loại chứng khoán của DJIA
(Down Jones Industrial Average)trong khoản thời gian 1957-1962 sử dụng kiểm định
13
chuỗi, kiểm định tính tự tương quan và kỹ thuật lọc của Alexander. Ông ta phát hiện ra
rằng hệ số tương quan là rất nhỏ. Vì thế không thể tìm kiếm lợi nhuận bất thường từ
những chiến lược kinh doanh. Fama kết luật rằng DJIA đạt hiệu quả ở dạng yếu. Một
bài nghiên cứu khác kiểm định tính ngẫu nhiên của giá chứng khoán được thực hiện
đúng khi mà những nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy giá trị của lý thuyết
bước ngẫu nhiên ở một số thị trường mới nổi.
Trước tiên là nghiên cứu của Barnes (1986) kiểm định hệ số tương quan và
kiểm định chuỗi trên thị trướng chứng khoán Kuala Lumpur Exchange (KLSE) bằng
cách sử dụng những quan sát hằng ngày 30 mã chứng khoán khác nhau ở 6 lĩnh vực
khác nhau trong khoảng thời gian từ 1974-1980. Kết quả là tác giả kết luận thị trường
chứng khoán KLSE đạt hiệu quả dạng yếu. Một nghiên cứu khác của Buguk và
Brorsen (2003) trên thị trường chứng khoán Istabul (ISE). Tác giả đã sử dụng giá hàng
ngày từ 1992-1999 của các công ty lớn trên sàn chứng khoán ISE. Kết quả là thị
trường chứng khoán ISE đạt hiệu quả ở dạng yếu. Thêm vào đó, bài nghiên cứu của
Islam và Khaled (2005) sử dụng giá hàng ngày, hàng tuần và hàng tháng trong thời
gian 1990-2001 để kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của thị trường chứng khoán
Dhaka (DSE). Từ kết quả của nghiên cứu, tác giả đã kết luận thị trường chứng khoán
DSE đạt hiệu quả dạng yếu. Các kết quả nghiên cứu khác cũng cho cùng một kết quả
là : Nghiên cứu của Olowe (1999) trên thị trường chứng khoán Nigeria, nghiên cứu của
Panas (1990) trên thị trường chứng khoán Athen và bài nghiên cứu của tác giả Liu trên
thị trường chứng khoán trung Quốc (1997).
Trong những bài nghiên cứu khác ở thị trường chứng khoán mới nổi đã chứng
tỏ giá chứng khoán là có thể dự báo được. Bài nghiên cứu của Mubarek và Keasey
(2000) kiểm định tính hiệu quả ở dạng yếu của thị trường chứng khoán Dhaka DSE
kiểm định những tương quan phi tuyến tính khác nhau. Dữ liệu được lấy từ năm 19881997. Kết quả là thị trường chứng khoán DSE không tuân theo qui luật bước ngẫu
nhiên. Nghiên cứu của Ahmet và Hasan (2011) trên thị trường chứng khoán Istanbul
cho chỉ số công nghiệp và kỹ thuật (Industrial index và technology index), sử dụng
những quan sát hằng ngày trên TTCK ISE từ năm 1987-2011. Ahmet và Hasan đã
kiểm định lý thuyết bước ngẫu nhiên thông qua những kiểm định tham số và phí tham
số. Trong đó có kiểm định ADF, kiểm định hệ số tương quan, kiểm định chuỗi. Kết
quả cho thấy TTCK ISE không đạt hiệu quả dạng yếu. Hơn nữa, bài nghiên cứu của
Poshakwale (2002) kiểm định tương quan tuyến tính độc lập cho 100 mã chứng khoán
khác nhau trong thời gian từ 1990-1998 trên thị trường chứng khoán Bombay (BSM).
16
Chƣơng 3 : PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phần này tác giả sẽ giới thiệu những giả thuyết có thể được kiểm định và dữ
liệu thu thập để kiểm định giả thuyết đó.
3.1.Các giả thuyết đƣợc kiểm định
Phần này tác giả sẽ sử dụng 4 giả thuyết thống kê để kiểm định xem liệu thị
trường chứng khoán VN có đạt hiệu quả dạng yếu về mặt thông tin hay không
- Kiểm định phân phối chuẩn
- Kiểm định tính dừng
- Kiểm định hệ số tương quan
- Kiểm định chuỗi
3.2.Phƣơng pháp thu thập số liệu.
Số liệu thu thập gồm chỉ số giá thị trường VN-Index và giá của 7 mã chứng
khoán blue chip có giá trị vốn hóa cao trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM.
-Số quan sát : 749 quan sát.
- Thời đoạn quan sát : từ ngày 7/1/2009 đến 28 /12/2011.
- Đối tượng nghiên cứu : 7 mã chứng khoán và chỉ số VN index được lấy theo
thời đoạn trên.Thống kê như sau :
STT MÃ CK
Tên công ty
Công ty cổ phần FPT
Ngành
1
FPT
2
Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp Vận
chuyển
Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp Vận
chuyển
Công ty cổ phần cơ điện lạnh
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài
Gòn Thương Tín
Phần mềm và dịch vụ máy tính
Giao thông công nghiệp
Bất động sản
Công nghiệp kỹ thuật
Ngân hàng
Trong bài này số liệu sẽ được lấy theo ngày, nếu ngày lấy dữ liệu không
có dữ liệu thì lấy ngày trước
17
Các số liệu trên chủ yếu được thu thập qua internet,trong đó dữ liệu chính về giá
cổ phiếu và chỉ số thị trường sẽ được lấy từ trang web tài chính khá phổ biến hiện nay
là www.vinabull.com.Ngoài ra,bài nghiên cứu còn tham khảo thông tin từ một số
trang web khác,các loại sách báo và các tài liệu nghiên cứu từ một số tạp chí chuyên
ngành.
Phân tích số liệu.
Số liệu sau khi được thu thập sẽ được tổng hợp,sử dụng các phương pháp kiểm
định trong thống kê để cho ra kết quả và xử lý thành các bảng biểu.
Cụ thể,từ chỉ số thị trường và giá của cổ phiếu sẽ được dùng để tính lợi nhuận
theo ngày của VN index và 7 mã cổ phiếu.Lợi nhuận cổ phiếu chính là các quan sát
3.3 Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn này trình bày cách kiểm định sự phụ thuộc tuyến tính của thị trường
hiệu quả dạng yếu. Mô hình tuyết tính phân tích mối quan hệ giữa các biến và hằng số.
Đồ thị hàng tuyến tính được miêu tả bằng đường thẳng nối các biến với nhau. Nó được
miêu tả bởi công thức sau :
....
(3.1)
Với Y là biến độc lập, α là hằng số, còn X là biến độc lập
Kiểm định tính độc lập tuyết tính của thị trường hiệu quả dạng yếu được chia ra
làm 2 loại. Kiểm định tham số và kiểm định phi tham số. Trước đây người ta cho rằng
tất cả số liệu chứng khoán đều có phân phối chuẩn nhưng sau đó không còn những giả
định như trên nữa vì thế họ gọi là kiểm định phân phối không chuẩn. Kiểm định tham
số bao gồm kiểm định tính tự tương quan (autocorrelation) và kiểm định đơn vị (unit
root test). Trong khi kiểm định phi tham số bao gồm kiểm định chuỗi (Runs test) và
kiểm định phương sai (Variance ratio test).
Kiểm định tính hiệu quả dạng yếu của TTCK chủ yếu tập trung vào sự phân
phối ngẫu nhiên của lợi nhuận trong một chuỗi thời gian. Nếu lợi nhuận có phân phối