BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
LƯƠNG THỊ MỸ QUYÊN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN NGỌC ẢNH
`TP. Hồ Chí Minh – Năm 2009
-1-
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu trong bài viết này đã được tôi thu thập và tổng hợp từ những
nguồn tin đáng tin cậy. Do đó, số liệu đảm bảo được tính chính xác và trung thực.
Tôi xin cam đoan “Luận văn” này là đề tài nghiên cứu của bản thân tôi, tôi không sao
chép nguyên bản của bất cứ luận văn hay tài liệu nào.
Người thực hiện “Luận văn”
LƯƠNG THỊ MỸ QUYÊN
Cao học Khoá 15
Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
-2-
1.4.1
Cơ cấu tổ chức:................................................................................................... 5
1.4.2
Hoạt động của quỹ đầu tư:................................................................................ 6
1.5
Phân loại quỹ đầu tư chứng khoán: ........................................................................ 9
1.5.1
Phân loại theo quy mô, cách thức và tính chất góp vốn:................................ 9
1.5.1.1 Quỹ đầu tư dạng đóng (closed – end fund).................................................. 9
1.5.1.2 Quỹ đầu tư dạng mở hoặc quỹ hỗ tương (Open – end fund hoặc mututal
fund)
........................................................................................................................ 11
1.5.2
Phân loại dựa theo đối tượng người đầu tư tham gia quỹ: .......................... 13
1.5.2.1 Quỹ đầu tư riêng lẻ (quỹ đầu tư hạn chế).................................................. 13
1.5.2.2 Quỹ đầu tư tập thể:...................................................................................... 15
1.5.3
Phân loại theo cơ cấu, tổ chức điều hành: ..................................................... 16
1.5.3.1 Mô hình tín thác ........................................................................................... 16
1.5.3.2 Mô hình công ty............................................................................................ 17
1.5.4
Phân loại theo mục tiêu và đối tượng đầu tư: ............................................... 18
1.5.4.1 Quỹ đầu tư cổ phiếu (stock fund):.............................................................. 18
1.5.4.2 Quỹ đầu tư trái phiếu và thu nhập (bond and income fund)................... 20
1.6
Bài học kinh nghiệm từ các nước: .......................................................................... 21
Kết luận Chương I ............................................................................................................... 24
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ TRÊN TTCK
VIỆT NAM ........................................................................................................................... 25
2.1
Công ty Quản lý Quỹ Vietcombank (VCBF)......................................... 57
2.3
Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của quỹ đầu tư tại Việt Nam .............. 57
Kết luận Chương II......................................................................................................... 61
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM........................................................ 62
3.1
Tiền đề cho việc phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam ............................ 62
3.1.1
Thực trạng của quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam ....................................... 62
3.1.2
Tiền đề cho việc phát triển quỹ đầu tư mạo hiểm ở Việt Nam .................... 63
3.1.3
Những khó khăn sẽ gặp phải khi đầu tư mạo hiểm ...................................... 65
3.2
Định hướng, triển vọng phát triển kinh tế Việt Nam và thị trường chứng khoán
Việt Nam trong thời gian tới ............................................................................................... 66
3.2.1
Triển vọng phát triển TTCK VN.................................................................... 66
3.2.2
Định hướng phát triển cuả TTCK Việt Nam: ............................................... 67
3.3
Hệ thống giải pháp phát triển quỹ đầu tư trên thị trường chứng khoán Việt
Nam: .................................................................................................................................... 69
3.3.1
Nhóm giải pháp từ phía chính phủ: ............................................................... 69
3.3.1.1 Hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động công ty quản lý quỹ, quỹ đầu tư
chứng khoán ................................................................................................................. 69
3.3.1.2 Ổn định nền kinh tế vĩ mô, tạo tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn đầu tư
NĐT:
Nhà đầu tư
NĐTNN:
Nhà đầu tư nước ngoài
SGDCK:
Sở Giao Dịch Chứng khoán
HCM:
Hồ Chí Minh
TPHCM:
Thành phố Hồ Chí Minh
HN:
Hà Nội
DNNN:
Doanh nghiệp nhà nước
CTCP:
CNTT:
Công nghệ thông tin
CTĐTCK:
Công ty đầu tư chứng khoán
CPH:
Cổ phần hoá
UpCom:
Thị trường OTC tập trung
CPH DNNN:
Cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước
ĐMTN:
Định mức tín nhiệm
-5-
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
…
Do đó tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp phát triển Quỹ đầu tư chứng khoán trên
TTCK Việt Nam” nhằm đưa ra những giải pháp để thúc đẩy hoạt động của các Quỹ
đầu tư, giúp các Quỹ này phát triển bền vững và trở thành nhà tạo lập thị trường,
qua đó thu hút được nguồn vốn mạnh mẽ từ các nhà đầu tư để giúp các công ty nhận
đầu tư cũng như cả nền kinh tế Việt Nam phát triển.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài trong và ngoài nước
Quỹ đầu tư vẫn còn là một khái niệm tương đối mới mẻ ở Việt Nam nên các nghiên
cứu đối với đề tài này chưa nhiều, đặc biệt là các nghiên cứu về quỹ đầu tư mạo
hiểm áp dụng cho tình hình thị trường Việt Nam.
-6-
Từ năm 1990 đến nay, số nghiên cứu về Quỹ đầu tư cũng như Quỹ đầu tư chứng
khoán có thể nói là đếm trên đầu ngón tay, có thể kể đến bài viết : ‘ Tổng quan các
Quỹ đầu tư ở Việt Nam’ của Bear Stens vào năm 1997; “ Thành lập Quỹ đầu tư mạo
hiểm ở Việt Nam – một nghiên cứu sơ bộ’ của Adam Sack và John McKenzie thuộc
Chương trình phát triển kinh tế tư nhân MPDF vào năm 1998. Bên cạnh những
nghiên cứu của tác giả nước ngoài có thể kể đến những công trình nghiên cứu khoa
học cấp Bộ của Vụ trưởng Trưởng VPĐD UBCKNN tại TP.HCM “ Các giải pháp
thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại quỹ đầu tư tại Việt Nam” vào năm
2000; chuyên đề nghiên cứu của thạc sĩ kinh tế Trần Văn Hoàng – năm 2005;
chuyên đề nghiên cứu của thạc sĩ Châu Thiên Trúc Quỳnh – năm 2006…Các đề tài
này chủ yếu đưa ra các giải pháp khác nhau cho việc thành lập và nâng cao vai trò
của Quỹ đầu tư nói chung, chưa đề cập sâu đến Quỹ đầu tư mạo hiểm vào các công
ty vừa và nhỏ. Bên cạnh đó, các tài liệu này đều được tác giả nghiên cứu cách đây
khá lâu, do vậy thiếu tính thời sự của đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Cập nhật được tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam và hoạt động của các
Quỹ đầu tư trên thị trường Việt Nam một cách tương đối đầy đủ.
-
Đưa ra được những cơ hội và thách thức cho việc hoạt động của Quỹ đầu tư mạo
hiểm trong tình hình thị trường chứng khoán rơi vào suy thoái như hiện nay.
-
Đã đưa ra hệ thống giải pháp đa dạng, thích hợp với một thị trường chứng khoán
mới nổi.
7. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm có 3 chương:
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC QUỸ ĐẦU TƯ
TRÊN TTCK VIỆT NAM
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN QUỸ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
-8-
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUỸ ĐẦU TƯ
1.1 Khái niệm:
QĐT là một định chế tài chính trung gian trên thị trường vốn. Nguồn vốn của
nhân nếu đầu tư nhiều vào nhiều loại cổ phiếu sẽ mất nhiều thời gian cho việc
nhận cổ tức, kê khai thu nhập để nộp thuế thu nhập. Đầu tư thông qua quỹ thì
công việc này sẽ chỉ phải làm một lần và công ty đầu tư sẽ có các bộ phận
chuyên môn để giúp NĐT thực hiện công việc này
• Giá trị đầu tư tối thiểu
NĐT có khả năng đầu tư gần như bất kỳ số tiền nào mình có vào bất kỳ thời gian
nào, bởi vì quỹ chào bán cổ phiếu liên tục.
• Dễ chọn lựa
Có hàng trăm quỹ nhưng mỗi quỹ chỉ có một mục tiêu đầu tư được định trước.
Điều này sẽ nói cho NĐT biết loại đầu tư nào mà người quản lý sẽ thực hiện
bằng tiền của ông ta. Điều này sẽ thỏa mãn nhu cầu, mục đích đa dạng của NĐT
(cần đảm bảo an toàn vốn, muốn có thu nhập đều đặn thường xuyên, chấp nhận
rủi ro cao để mong thu được lợi nhuận cao…)
• Tăng tính thanh khoản cho tài sản đầu tư:
Việc chuyển đổi tài sản thành tiền mặt với chi phí thấp nhất trong thời gian ngắn
nhất luôn là tiêu chí hàng đầu đối với mỗi NĐT. Chứng chỉ QĐT chính là một
loại chứng khoán, do vậy, người đầu tư hoàn toàn có thể mua bán nó trên TTCK
hoặc bán lại cho bản thân Quỹ (nếu là QĐT dạng mở).
1.2.2
Vai trò của quỹ đối với công ty muốn huy động vốn
Bên cạnh lợi ích của NĐT, bản thân các DN sử dụng vốn cũng có những lợi ích
nhất định:
-
Các DN có khả năng thu hút được nguồn vốn với chi phí thấp hơn khi vay qua
hệ thống ngân hàng
về giao dịch mua bán chứng khoán trực tiếp, về kiến thức và thông tin về chứng
khoán cũng như giảm thiểu các chi phí đầu tư. Đối với luồng vốn đầu tư trực
tiếp, QĐT góp phần thúc đẩy các dự án bằng cách tham gia góp vốn vào các liên
doanh hay mua lại một phần vốn của bên đối tác, tạo thuận lợi cho NĐTNN
trong việc thu hồi vốn cũng như tăng được sức mạnh trong nước ở các liên
doanh.
-
Trong một số trường hợp đặc biệt, chính phủ còn kêu gọi sự hỗ trợ của các quỹ
trong việc giải quyết các vấn đề cấp bách có liên quan đến thị trường tài chính,
cụ thể là TTCK. Cụ thể là trong thời gian chứng khoán đi xuống, chính phủ từng
yêu cầu các QĐT ngưng việc bán chứng khoán ra để giúp NĐT nhỏ lẻ yên tâm
về mặt tâm lý, giúp cho giá chứng khoán trên thị trường tăng lên.
-
QĐT bằng nguồn vốn và nguồn nhân lực có năng lực cao về tài chính và quản lý
sẽ góp phần thúc đẩy các công ty mà họ đầu tư ngày càng phát triển hơn nữa
-
QĐT cũng tạo điều kiện cho việc phát triển các kỹ năng của thị trường trong
nước do họ thường đòi hỏi các tiêu chuẩn cao về lưu ký, thanh toán và thanh
toán bù trừ, tiết lộ thông tin và quản lý nói chung.
-3-
1.2.4
chính quỹ công chúng đó hoặc của một quỹ khác.
-
Một quỹ công chúng không được đầu tư vào quá 15% tổng giá trị chứng khoán
đang lưu hành của một tổ chức phát hành
-4-
-
Một quỹ công chúng không được đầu tư quá 20% tổng giá trị tài sản quỹ vào
chứng khoán đang lưu hành của một tổ chức phát hành.
-
Một quỹ công chúng không được đầu tư quá 10% tổng giá trị tài sản quỹ vào bất
động sản.
-
Một quỹ công chúng không được đầu tư quá 30% tổng giá trị tài sản quỹ vào các
công ty trong cùng một tập đoàn hay một nhóm công ty có quan hệ sở hữu lẫn
nhau.
-
Vốn và tài sản của quỹ công chúng không được dùng để cho vay hoặc bảo lãnh
cho bất kỳ khoản vay nào, không được phép cho vay để tài trợ cho hoạt động của
quỹ công chúng, trừ trường hợp vay ngắn hạn để trang trải các chi phí cần thiết
hiện các dự án đầu tư. Thông thường CTQLQ kiêm luôn vai trò tư vấn đầu tư cho
QĐTCK.
Ngân hàng giám sát bảo quản: là ngân hàng thương mại, thực hiện việc bảo quản,
lưu ký tài sản của quỹ đồng thời giám sát CTQLQ trong việc bảo vệ lợi ích cổ đông.
Cổ đông của quỹ: là những người góp vốn mua cổ phần do quỹ phát hành, có
quyền lợi như các cổ đông của các công ty cổ phần bình thường.
Người hưởng lợi: là người mua chứng chỉ quỹ theo mô hình tín thác và được hưởng
lợi trên kết quả hoạt động của quỹ. Tuy nhiên, NĐT nắm giữ chứng chỉ quỹ không
có quyền biểu quyết cũng như thay đổi chính sách đầu tư của quỹ.
Công ty kiểm toán: là đơn vị xác nhận báo cáo tài chính của QĐT của Quỹ đầu tư.
1.4.2
Hoạt động của quỹ đầu tư:
¾ Hoạt động huy động vốn:
Phương thức phát hành:
Đối với các QĐT dạng công ty, quỹ phát hành cổ phần để huy động vốn hình
thành nên quỹ. Tương tự như các CTCP, cổ đông của quỹ cũng nhận được cổ phiếu
xác nhận số cổ phần mình sở hữu tại công ty.
-6-
Đối với các QĐT dạng hợp đồng, thơng thường lượng vốn dự kiến hình thành
nên quỹ được chia thành các đơn vị (tương tự như cổ phần của quỹ dạng cơng ty).
Quỹ sẽ phát hành chứng chỉ đầu tư, xác nhận số đơn vị tương đương với số vốn góp
của người đầu tư vào quỹ. Cũng như cổ phiếu phổ thơng khác, chứng chỉ đầu tư có
thể phát hành dưới hình thức ghi danh hoặc vơ danh và có thể được chuyển nhượng
như cổ phiếu.
Định giá phát hành:
NAV
100%- Tæ leä chaøo baùn
Giá mua vào = NAV/ chứng chỉ - Chi phí mua lại
¾ Giao dịch chứng chỉ quỹ đầu tư:
Đối với các QĐT dạng đóng ở bất kỳ mô hình nào, sau khi phát hành, chứng
chỉ QĐT được niêm yết trên TTCK và giao dịch như bất kỳ loại cổ phiếu niêm yết
nào. Chính vì vậy, giá của chứng chỉ QĐT do cung cầu thị trường quyết định và
giao động xung quanh giá trị tài sản ròng. Đối với QĐT dạng mở, sau khi phát hành,
chứng chỉ đầu tư của quỹ được phát hành thêm và mua lại tại chính CTQLQ hoặc
thông qua các đại lý của công ty. Giá chứng chỉ đầu tư của quỹ luôn gắn liền với giá
trị tài sản ròng của quỹ.
¾ Hoạt động đầu tư:
Bất kỳ QĐTCK nào được thành lập cũng nhằm đạt được những mục tiêu ban
đầu như sau:
-
Thu nhập: nhanh chóng, có nguồn chi trả cổ tức
-
Lãi vốn: làm tăng giá trị các nguồn vốn ban đầu thông qua đánh giá các cổ phiếu
trong danh mục đầu tư của quỹ
-
Thu nhập và lãi vốn: sự kết hợp giữa 2 yếu tố trên
Để đạt được các mục tiêu ban đầu, mỗi quỹ đều hình thành các chính sách đầu
tư riêng của mình, trên cơ sở đó có thể xây dựng danh mục đầu tư nhằm đạt được
Quỹ đầu tư dạng đóng (closed – end fund)
Quỹ chỉ phát hành cổ phiếu/chứng chỉ QĐT ra công chúng với một số lượng
nhất định và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/ chứng chỉ QĐT khi NĐT
có nhu cầu bán lại. QĐT dạng đóng có thể hoạt động theo mô hình công ty hoặc mô
hình hợp đồng. Quỹ có một khoản thời gian nhất định khi phát hành cổ phiếu/ chứng
chỉ quỹ lần đầu để huy động vốn và thường không phát hành thêm, ngoại trừ trường
hợp các cổ đông hiện hữu đồng ý tăng vốn (tương tự như công ty cổ phần).
-9-
Do không có nghĩa vụ mua lại chứng chỉ quỹ khi NĐT yêu cầu nên quỹ có thể
đầu tư vào tài sản có tính thanh khoản cao hoặc các tài sản kém tính thanh khoản.
Cũng do đặc điểm này nên loại hình QĐT này thường được thành lập để đầu tư vào
các nước có TTCK mới nổi hoặc đầu tư vào các công ty chưa niêm yết trên TTCK.
Sau khi phát hành lần đầu ra công chúng, cổ phiếu/ chứng chỉ QĐT của quỹ
được giao dịch như bất kỳ chứng khoán niêm yết nào trên TTCK tập trung, các
NĐT có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ QĐT của mình
trên thị trường thứ cấp thông qua các nhà môi giới.
¾ Ưu và nhược điểm của quỹ đóng:
- Ưu điểm thông thường nhất về cấu trúc của quỹ đóng là nó đảm bảo cho các
nhà quản lý quỹ thực hiện công việc tốt hơn bởi vì họ có thể làm việc với một nguồn
vốn ổn định. Họ không phải đối phó với tình trạng rút vốn của những người tham
gia góp vốn trong những thời điểm bất lợi. Nếu các NĐT muốn thu hồi lại tiền, họ
chỉ việc bán cổ phần của mình trên TTCK.
- Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ QĐT của quỹ đóng thường được bán với giá
chiết khấu hấp dẫn so với giá trị tài sản ròng của quỹ có thể là lợi thế chủ yếu cho
các NĐT. Mua với giá chiết khấu vừa đem lại những khoản thu nhập lớn đồng thời
còn có một mục đích tương đối phổ biến nữa đó là một chiến lược rủi ro thấp. Vì
hưởng nhiều đến giá thị trường). Một đặc điểm quan trọng đối với QĐT dạng mở là
giá của cổ phiếu/ chứng chỉ QĐT của quỹ mở luôn gắn trực tiếp với giá trị tài sản
thuần của quỹ. Cổ phiếu/ chứng chỉ QĐT của quỹ dạng mở không giao dịch trên thị
trường thứ cấp mà giao dịch trực tiếp với quỹ hoặc các đại lý được ủy quyền của
quỹ.
¾ Ưu và nhược điểm của quỹ mở so với quỹ đóng:
- Có tính thanh khoản tốt hơn: Vốn đầu tư quỹ mở có tính thanh khoản cao vì
NĐT có thể rút vốn vào bất kỳ lúc nào, ngay cả khi thị trường đang đi xuống. Việc
rút vốn của NĐT cũng được bảo đảm do các CTQLQ luôn phải nắm giữ một lượng
lớn tài sản có tính thanh khoản cao.
- Tính minh bạch cao và rủi ro đầu tư thấp: Ngoài việc công bố đầy đủ các
thông tin cần thiết, quỹ mở còn công bố giá trị tài sản ròng của quỹ hàng ngày. Để
mở rộng quy mô của quỹ và có những khách hàng ổn định, CTQLQ phải quản lý
- 11 -
quỹ đạt kết quả hoạt động tốt nhất có thể và cung cấp nhiều dịch vụ tư vấn cho
khách hàng; các CTQLQ cũng tranh thủ mọi cơ hội để giới thiệu triết lý đầu tư và
cách thức quản lý quỹ cho người đầu tư.
- Dễ dàng đầu tư và được cung cấp dịch vụ tốt nhất: Người đầu tư có thể dễ
dàng mua, bán chứng chỉ quỹ/ cổ phiếu tại văn phòng giao dịch của ngân hàng (hoặc
các đại lý được ủy quyền). Cơ chế mua bán linh hoạt của QĐT dạng mở cũng đòi
hỏi CTQLQ phải quan tâm hơn đến việc cung cấp các dịch vụ đáng tin cậy nhằm
mang lại sự thuận tiện và nhiều lợi ích cho khách hàng.
- Hạn chế: Do NĐT có thể rút vốn bất kỳ lúc nào họ cần nên quỹ mở có cơ cấu
vốn không ổn định. Quỹ luôn luôn phải duy trì một tỷ lệ lớn các tài sản có tính thanh
khoản cao. Quỹ này ít có khả năng tham gia vào các dự án dài hạn với mức độ rủi ro
lớn, tiềm năng phát triển cao mà chỉ chủ yếu đầu tư vào các công cụ được giao dịch
trên TTCK.
Phân biệt quỹ đầu tư dạng đóng với quỹ đầu tư dạng mở
Thời gian hoạt
Không xác định thời gian
thường từ 10-15 năm
động
Cách thức giao
Có thời gian cố định,
Giao dịch trực tiếp với quỹ Niêm yết và giao dịch trên
- 12 -
hoặc các đại lý được ủy TTCK tương tự như cổ
dịch
quyền
Giá giao dịch
phiếu
Bằng giá trị tài sản ròng Được quyết định bởi mối
cộng hoặc trừ phí hoa hồng
quan hệ cung cầu trên thị
trường
Theo phân loại này thì có 2 loại quỹ chính là:
-
Quỹ đầu tư riêng lẻ (quỹ đầu tư hạn chế)
-
Quỹ đầu tư tập thể
1.5.2.1
Quỹ đầu tư riêng lẻ (quỹ đầu tư hạn chế)
QĐT riêng lẻ (hay QĐT hạn chế) là một quỹ do một số tổ chức hoặc cá nhân có
quan hệ (quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, quan hệ đồng nghiệp…) góp vốn và thuê
CTQLQ quản lý nhằm mục đích đầu tư vốn của mình một cách có lợi nhất và đảm
bảo quản lý chặt chẽ vốn đầu tư, không mở rộng đối tượng tham gia quỹ. Các NĐT
này có thể đầu tư vào các công ty có tiềm năng nhưng hạn chế về vốn, sau đó khi
các công ty này phát triển đến một mức độ nào đó thì họ sẽ thu hồi vốn lại và thu
- 13 -
được một mức lãi cao, hoặc họ cũng có thể đầu tư vào chứng khoán của công ty
chưa niêm yết….
Có nhiều dạng QĐT riêng lẻ trong đó có hai loại hình quỹ điển hình và phổ biến
là :
¾ Quỹ đầu tư phòng ngừa rủi ro (hedge fund – quỹ phòng hộ)
Là một danh mục đầu tư được quản lý nhằm tối đa hóa lợi nhuận tới mức cao
nhất. Quỹ này sử dụng những chiến lược đầu tư hiện đại như các giao dịch chứng
QĐTMH cũng là một trong các dạng QĐT riêng lẻ xuất hiện từ những năm
70 tại các thị trường phát triển. Vốn đầu tư mạo hiểm là một trong 4 loại vốn đầu tư
trực tiếp được dùng để đầu tư vào các công ty có sản phẩm hoặc nguồn thu nhập
tiềm năng, nhưng chưa hoặc đang triển khai và thường các công ty này là những DN
vừa và nhỏ. Bỏ vốn ra, các NĐT mạo hiểm đồng thời thực hiện việc hỗ trợ điều
hành các công ty này. Như vậy QĐTMH và các công ty được đầu tư cùng chia sẻ
thành công và rủi ro. Các NĐT mạo hiểm có khuynh hướng đầu tư vào các ngành
kinh doanh đặc thù, hoặc nhắm vào những công ty mới thành lập, còn thiếu kinh
nghiệm quản lý, hoặc dùng quỹ mạo hiểm để vực dậy các công ty bề thế đang đứng
trước nguy cơ sa sút.
1.5.2.2
Quỹ đầu tư tập thể:
Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng rãi ra công chúng. NĐT có
thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các NĐT riêng lẻ. Quỹ công chúng
cung cấp cho các NĐT nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm
thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư
mang lại.
QĐT tập thể có thể được thành lập theo hai dạng là quỹ đóng và quỹ mở. Khi
muốn huy động vốn thì QĐT tập thể sẽ thực hiện quảng cáo để thu hút những người
tham gia góp vốn đầu tư. Việc quảng cáo chỉ được ghi rõ mục đích đầu tư, cơ cấu
danh mục dự kiến, lý do tại sao chọn cơ cấu danh mục như vậy và tuyệt đối phải
- 15 -
không được cam kết chắc chắn về việc đảm bảo lợi nhuận thu được. Vốn của QĐT
tập thể sẽ được thể hiện dưới dạng chứng chỉ quỹ được phát hành rộng rãi ra bên
ngoài.
Phạm vi đầu tư các quỹ tập thể thường rất rộng, họ có thể đầu tư vào chứng
Trong mô hình này, QĐT không có tư cách pháp nhân, nó chỉ gồm một khối
lượng vốn nhất định do NĐT đóng góp để sử dụng dịch vụ quản lý chuyên nghiệp,
nhằm mục đích thu lợi nhuận.
- 16 -
Khi huy động được đủ vốn thì CTQLQ ký với Ngân hàng giám sát một chứng
thư tín thác quy định mọi vấn đề đối với hoạt động của quỹ nhằm bảo vệ quyền lợi
của người đầu tư. Chứng thư tín thác này bắt buộc phải được sự phê chuẩn của Bộ
tài chính hay các cơ quan chức năng có thẩm quyền. Quỹ tín thác sẽ không có Hội
đồng quản trị. Trong mô hình này, CTQLQ sẽ có trách nhiệm quản lý và đề ra chính
sách, còn Ngân hàng giám sát sẽ nắm quyền giám sát và quản lý tài sản.
Người đầu tư vào Quỹ tín thác không được gọi là cổ đông vì họ chỉ có quyền
nhận lợi tức từ số vốn góp và không có quyền bầu cử và các quyền khác như mô
hình công ty. Vì thế người đầu tư lúc này được gọi là người thụ hưởng và chứng chỉ
QĐT được gọi là chứng chỉ hưởng lợi.
1.5.3.2
Mô hình công ty
QĐT có tư cách pháp nhân đầy đủ, được thành lập dưới hình thức công ty đầu
tư cổ phần, có điều lệ hoạt động, vốn huy động từ các NĐT bằng cách phát hành cổ
phiếu. Công ty đầu tư không chỉ chịu sự điều chỉnh của Luật công ty mà còn phải
chịu sự điều chỉnh khá phức tạp của các luật liên quan tới tín thác đầu tư chứng
khoán. Cổ phiếu của Quỹ có thể được giao dịch trên SGDCK hoặc thị trường OTC.
Những người góp vốn vào Quỹ sẽ trở thành những cổ đông được quyền hưởng
cổ tức và biểu quyết bầu Hội đồng quản trị cũng như các vấn đề cơ bản của Quỹ như
các cổ đông trong một công ty cổ phần truyền thống.
Điểm đặc trưng của công ty đầu tư là Hội đồng quản trị đại diện cho các cổ