Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước sản xuất bao bì Carton in Offset ở thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

TRẦN TẤN HOÀNG HẬU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2005


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .......................................................................................................1
CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ CẠNH TRANH VÀ TỔNG QUAN VỀ SẢN
PHẨM BAO BÌ CARTON ....................................................................................3
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH ......................................................3
1.1.1. Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh .............................3
1.1.2. Môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ...............................4
1.1.2.1. Môi trường bên ngoài .............................................................4
1.1.2.2. Môi trường bên trong ..............................................................7
1.1.3. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp ..8
1.2. TỔNG QUAN VỀ SẢN PHẨM BAO BÌ CARTON ...................................8
1.2.1. Chức năng và phân loại sản phẩm bao bì carton ..............................8
1.2.2. Tình hình phát triển ngành sản xuất bao bì carton tại một số nước trên
thế giới và tại Việt Nam............................................................................11
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON IN OFFSET Ở THÀNH
PHỐ HỒ CHÍ MINH ............................................................................................15
2.1. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON IN OFFSET Ở TP.HCM................................15
2.2. KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÁC DOANH

OFFSET Ở TP.HCM.........................................................................................32
2.4.1. Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài ..........................................32
2.4.2. Ma trận đánh giá nội bộ..................................................................33
2.4.3. Ma trận hình ảnh cạnh tranh ...........................................................34
2.5. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP NHÀ NƯỚC SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON IN OFFSET Ở TP.HCM
35
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON IN
OFFSET TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.......................................................37
3.1. MỤC TIÊU TỪ NAY ĐẾN NĂM 2010 CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ
NƯỚC SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON IN OFFSET Ở TP.HCM ...................37
3.1.1. Cơ sở xác đònh mục tiêu ..................................................................37
3.1.2. Mục tiêu phát triển của bốn doanh nghiệp nhà nước sản xuất bao bì
carton in offset ở TP.HCM từ nay đến năm 2010 .....................................38

2


3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON IN OFFSET TẠI
TP.HCM............................................................................................................39
3.2.1. Nhóm giải pháp phát triển thò trường và đẩy mạnh các hoạt động
marketing ..................................................................................................39
3.2.1.1. Giải pháp phân khúc và lựa chọn thò trường mục tiêu .........39
3.2.1.2. Giải pháp thu hút và phát triển khách hàng .........................42
3.2.1.3. Giải pháp đẩy mạnh công tác marketing..............................46
3.2.2. Nhóm giải pháp tiết kiệm chi phí và giảm giá thành sản phẩm .....48
3.2.2.1. Giải pháp tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu .........................48
3.3.2.2. Giải pháp giảm hao phí trong quá trình sản xuất .................49

chưa hoạch đònh cho mình những chiến lược trung và dài hạn, hầu như chỉ tập trung
vào những kế hoạch ngắn hạn, chưa quan tâm đến công tác tiếp thò làm cho chất
lượng dòch vụ còn kém, chưa đủ sức cạnh tranh trên thò trường.
Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước sản xuất bao bì carton in offset tại
Thành Phố Hồ Chí Minh” với mong muốn để các doanh nghiệp này có thể tồn tại
và phát triển trong tương lai.
Mục đích chính của luận văn này là từ việc phân tích đánh giá thực trạng cạnh
tranh của các doanh nghiệp nhà nước sản xuất bao bì carton in offset kết hợp với
việc đối chiếu so sánh với một số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhằm đề
xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp nhà nước
này.

4


Đối tượng nghiên cứu của đề tài chủ yếu là 4 doanh nghiệp nhà nước sản xuất
bao bì carton in offset tại Thành Phố Hồ Chí Minh, là trung tâm kinh tế lớn nhất
của cả nước.
Để thực hiện luận văn này, tác giả đã vận dụng toàn bộ các kiến thức đã học,
vận dụng các lý thuyết về cạnh tranh, về quản trò học và các môn học có liên quan.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các phương pháp như: phương pháp tiếp cận thông tin
thực tế từ doanh nghiệp, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp phân tích và
tổng hợp, phương pháp lấy ý kiến của chuyên gia khi phân tích các yếu tố về môi
trường để trình bày và diễn đạt các ý tưởng.
Kết cấu của luận văn gồm ba chương ngoài lời mở đầu và kết luận bao gồm:
-

Chương 1: Lý thuyết về cạnh tranh và tổng quan về sản phẩm bao bì carton


khách hàng và thò trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu
được lợi nhuận cao.
Tuy nhiên cần phân biệt giữa cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành
mạnh trong nền kinh tế thò trường. Đối với cạnh tranh không lành mạnh: mục đích
của nó là tìm mọi cách loại trừ mọi đối thủ để tạo nên thế độc tôn trên thò trường,
về phương cách nó dùng mọi thủ đoạn xảo quyệt, từ dựa dẫm thế quyền đến ám
hại cá nhân và hậu quả của nó là vật cản cho sự phát triển của xã hội, sớm muộn
cũng sẽ bò loại bỏ. Đối với cạnh tranh lành mạnh là nhằm phục vụ nhu cầu khách
hàng ngày một tốt hơn và từ đó khách hàng sẽ lựa chọn mình, về phương cách thực
sự là một tiến trình tiếp diễn không ngừng và là một cuộc tranh tài giữa các doanh
nghiệp và kết quả là động lực phát triển của xã hội, củng cố một nền văn minh
khai thông cho việc thiết lập những cơ chế hành xử mang tính nhân văn trong kinh
tế.
Hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp. Có quan niệm gắn sức cạnh tranh với ưu thế của sản phẩm mà
doanh nghiệp đưa ra thò trường. Có quan điểm lại gắn sức cạnh tranh của doanh
nghiệp theo thò phần mà nó chiếm giữ, có người lại đồng nghóa công cụ cạnh tranh
với các chỉ tiêu đo lường sức cạnh tranh của hàng hoá, của doanh nghiệp, và thậm
chí có người còn đồng nghóa sức cạnh tranh với hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp... có tác giả sau khi phân tích bản chất của sức cạnh tranh đã đi đến kết
luận: "Sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của nó so với
6


Trong thực tế, có doanh nghiệp thực lực rất nhỏ nhưng vẫn duy trì được vò trí
của nó trên thò trường so với các đối thủ cạnh tranh bằng cách huy động ngoại lực
về thực lực và lợi thế hoặc cả hai. Do vậy, nếu chỉ hiểu sức cạnh tranh của doanh
nghiệp là thực lực và lợi thế của nó sẽ làm giảm những suy nghó sáng tạo dám nghó
dám làm, dám huy động thực lực hoặc lợi thế của doanh nghiệp khác vào việc duy
trì vò trí của nó trên thò trường. Đó không phải là sức cạnh tranh của doanh nghiệp

- Các yếu tố về chính trò, chính phủ và luật pháp: bao gồm hệ thống các quan
điểm, đường lối chính sách của chính phủ, hệ thống pháp luật hiện hành, các
xu hướng chính trò, những diễn biến chính trò… Các yếu tố này có ảnh hưởng
ngày càng lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.
- Các yếu tố tự nhiên: các điều kiện tự nhiên luôn là một yếu tố quan trọng
trong hoạt động mọi mặt của con người. Đồng thời nó là yếu tố đầu vào rất
quan trọng cho nhiều ngành kinh doanh. Tuy vậy, nếu không biết quan tâm
tái tạo môi trường, doanh nghiệp cũng như xã hội sẽ phải gánh chòu ngay
những hậu quả nặng nề mà không cần chờ đến các thế hệ kế tiếp.
- Các yếu tố về văn hóa xã hội: bao gồm một hệ thống những chuẩn mực và giá
trò được chấp nhận và tôn trọng bởi một xã hội hoặc một nền văn hóa cụ thể.
Các yếu tố xã hội có tác động chậm nhưng lâu dài và có hệ quả rất sâu rộng
lên mọi mặt hoạt động của doanh nghiệp.
- Các yếu tố về kỹ thuật và công nghệ: đây là một yếu tố rất năng động, chứa
đựng nhiều cơ hội và đe dọa đối với các doanh nghiệp. Chắc chắn sẽ có nhiều
công nghệ tiên tiến tiếp tục ra đời, tạo nên các cơ hội cũng như nguy cơ đối
với tất cả các ngành công nghiệp và các doanh nghiệp.
Mỗi yếu tố của môi trường vó mô nói trên có thể ảnh hưởng đến tổ chức một
cách độc lập hoặc trong mối liên kết với các yếu tố khác.
Thứ hai là: Môi trường vi mô hay còn gọi là môi trường cạnh tranh, bao
gồm các yếu tố ngoại cảnh đối với doanh nghiệp, quyết đònh tính chất và mức
độ cạnh tranh trong ngành kinh doanh đó. Theo quan điểm quản trò chiến lược
của Michael Porter, giáo sư Trường kinh doanh Harvard của Mỹ, phân tích rằng:
đối với mỗi ngành, dù là trong hay ngoài nước, năng lực cạnh tranh chòu ảnh
hưởng bởi các yếu tố thể hiện qua mô hình sau:

8


Các đối thủ mới

mình đối với các thành viên trong cuộc thương lượng bằng cách đe dọa tăng
giá hoặc giảm chất lượng hàng hóa dòch vụ đã mua.
- Hai là, người mua: Có thể nói lý do tồn tại của các doanh nghiệp là để góp
phần làm tăng thêm giá trò cho các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của
khách hàng – những người tiêu thụ sản phẩm của họ – và tìm kiếm lợi nhuận.
Do vậy khách hàng là ân nhân của doanh nghiệp, quyết đònh sự tồn tại của
nó, đồng thời cũng có thể có những áp đặt quyền lực của người mua với
doanh nghiệp và do đó khách hàng tạo ra cả cơ hội lẫn rủi ro, đe dọa cho
doanh nghiệp.
- Ba là, các đối thủ tiềm năng: Là nguy cơ đến từ những đối thủ mới hoặc sẽ
gia nhập của ngành. Những đối thủ mới của ngành mang đến năng lực sản
xuất mới, sự mong muốn chiếm lónh một thò phần nào đó và thường là những

9


nguồn lực to lớn. Giá bán có thể bò kéo xuống hoặc chi phí của các doanh
nghiệp đi trước có thể bò tăng lên và kết quả là làm giảm mức lợi nhuận.
- Bốn la,ø sản phẩm thay thế: Sản phẩm thay thế phần lớn là kết quả của cuộc
bùng nổ công nghệ để tạo ra những sản phẩm mới có cùng công năng, thay
thế sản phẩm hiện tại. Người ta sẽ chuyển sang sử dụng sản phẩm thay thế
khi giá cả của sản phẩm hiện tại quá cao. Trường hợp thiếu vắng các sản
phẩm thay thế, các sản phẩm hiện tại trở nên luôn cần thiết đối với người sử
dụng. Để duy trì sự cần thiết đó, các doanh nghiệp cũng không ngừng hoàn
thiện chất lượng, hạ thấp chi phí để đảm bảo khả năng cạnh tranh hơn nữa.
- Năm là, các đối thủ cạnh tranh trong ngành: Có thể nói, lónh vực trung tâm
của việc nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp chính là sự
phân tích có tính thuyết phục về các đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh giữa các
đối thủ hiện có trong ngành là một trong những yếu tố phản ánh bản chất của
cạnh tranh. Sự có mặt của các doanh nghiệp cạnh tranh chính trên thò trường

1.1.3. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Phương pháp này được tiến hành qua các bước:
- Bước 1: Dùng ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE) và ma trận đánh
giá nội bộ (IFE) để đánh giá các yếu tố môi trường tác động đến năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Bước 2: Đánh giá khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp bằng ma trận
hình ảnh cạnh tranh, cụ thể:
(1) Xác đònh các chỉ tiêu có vai trò quyết đònh trong việc nâng cao tính cạnh
tranh.
(2) Phân loại mức độ quan trọng của từng chỉ tiêu. Từ 0.0 (không quan trọng)
đến 1.0 (rất quan trọng) cho mỗi chỉ tiêu. Việc phân loại này cho thấy
tầm quan trọng của từng chỉ tiêu đối với hiệu quả cạnh tranh của từng
doanh nghiệp trong ngành.
(3) Phân loại phản ứng của doanh nghiệp với từng chỉ tiêu nghiên cứu: 4 là
phản ứng tốt nhất, 3 là phản ứng trên trung bình, 2 là phản ứng trung
bình, 1 là phản ứng ít
(4) Xác đònh tổng số điểm bằng cách nhân mức độ quan trọng với từng phân
loại của các chỉ tiêu
(5) Cộng tổng số điểm của mức độ quan trọng để xác đònh tổng số điểm
quan trọng cho từng doanh nghiệp. Từ đó có thể xác đònh được vò thế
cạnh tranh của từng doanh nghiệp.
Cạnh tranh là tất yếu khách quan trong nền kinh tế thò trường. Sự tăng trưởng
kinh tế của một quốc gia hay sự thành công của doanh nghiệp phụ thuộc vào sản
phẩm của họ có hay không có sức cạnh tranh trên thương trường.

11


1.2.


Để đáp ứng chức năng chứa đựng sản phẩm, bao bì phải được thiết kế với
nhiều loại mẫu mã và kích thước khác nhau.

12


- Chức năng trình bày, quảng cáo sản phẩm. Để đáp ứng chức năng này, bao bì
carton cần phải được thiết kế tạo nên sự hấp dẫn, nổi bật của sản phẩm bên
trong, phân biệt dễ dàng sản phẩm của nhà sản xuất này với nhà sản xuất
khác,… Bao bì phải đẹp và hấp dẫn, màu sắc hình ảnh phải đáp ứng yêu cầu
của nhà sản xuất sản phẩm, màu phải bền với thời gian, với ánh sáng, phải
giống nhau giữa các đợt in khác nhau. Khi thiết kế bao bì phải thể hiện đầy
đủ thông tin về sản phẩm bên trong đáp ứng được yêu cầu của nhà sản xuất
lẫn người tiêu dùng: ngày sản xuất, thời hạn sử dụng, nguồn gốc sản phẩm,
thành phần, hướng dẫn sử dụng… trong một số trường hợp yêu cầu này cực kỳ
nghiêm khắc, như những bao bì dược phẩm.
- Chức năng bảo quản sản phẩm, làm cho sản phẩm không bò hư hỏng trong
những điều kiện thay đổi bất lợi như: nhiệt độ, không khí, độ ẩm, ánh sáng…
Để đáp ứng chức năng bảo quản sản phẩm, giữ sản phẩm bên trong được
nguyên vẹn như ban đầu về chất lượng, kéo dài thời gian bảo quản, bao bì
phải có các tính chất sau: chòu được sự va đập, đè nén, khả năng ngăn cản hơi
nước, tính giữ mùi, độ bền kéo đứt…
Các nhà sản xuất bao bì phải cân nhắc kỹ lưỡng để quyết đònh xem sẽ phải làm
như thế nào để bao bì phải là một thể thống nhất với sản phẩm bên trong và bao bì
phải góp phần để gia tăng giá trò của sản phẩm. Chẳng những thế, bao bì còn phải
có tính kinh tế, nghóa là với một lượng vật liệu tối thiểu phải có số thành phẩm tối
đa. Bao bì phải vừa khít, quá trình đóng gói sản phẩm dễ dàng ít tốn thời gian,
giảm thiểu số màu in nhưng đạt hiệu quả trình bày.
Dựa trên công nghệ in khác nhau, người ta chia bao bì carton thành 2 loại chính
sau (tham khảo phục lục 2):

sản phẩm bao bì carton in flexo) để trở thành tấm carton đã in ấn có từ 03
đến 05 lớp. Sau đó sẽ qua các công đoạn bế và dán (hoặc đóng ghim) để
trở thành bao bì dạng hộp hoặc thùng hoàn chỉnh. Loại bao bì này thường
chứa đựng các sản phẩm có kích thước lớn và nặng như: thùng đựng 12
hoặc 24 lon nước ngọt hoặc bia, thùng đựng các loại đầu DVD, VCD…
Ngoài các loại bao bì carton kể trên còn có một số loại bao bì giấy sử dụng
công nghệ in UV (in trên màng metalize sau đó ghép màng với giấy), công nghệ in
ống đồng…để cho ra những sản phẩm óng ánh và đầy màu sắc, chẳng hạn như một
số loại hộp kem đánh răng có nhũ bạc, nhũ vàng,…
Tuy nhiên, đề tài này chỉ tập trung vào việc nghiên cứu các doanh nghiệp sản
xuất bao bì carton in offset.

14


1.2.2. Tình hình phát triển ngành sản xuất bao bì carton tại một số nước trên
thế giới và ở Việt Nam
1.2.2.1.

Tình hình phát triển ngành bao bì carton tại một số nước trên thế
giới:

Ngành bao bì carton trên thế giới được thành lập ban đầu tại Nhật, nhưng nó lại
được phát triển rất mạnh ở Trung Quốc. Hiện tại, Trung Quốc là một trong những
quốc gia có ngành công nghiệp bao bì carton mạnh nhất thế giới do có thò trường
rất lớn, tiềm năng về xuất khẩu rất cao. Đồng thời tổ chức bao bì thế giới cũng đã
chọn Trung Quốc là nơi để thiết lập Trung tâm bao bì thế giới tại Châu Á nhằm
xây dựng một thể thống nhất các khâu sản xuất bao bì từ sản xuất, đào tạo nhân
viên, nghiên cứu phát triển, buôn bán đến thông tin và các loại dòch vụ khác.
Bảng 1: Tình hình phát triển ngành bao bì carton

8,9
12,2
10,6
21,5
Sản lượng (ngàn tấn)
990
1.041
1.149
1.275
Hàn Quốc
Tốc độ tăng trưởng (%) (10,2)
5,1
10,5
10,9
Sản lượng (ngàn tấn)
1.382
1.230
1.244
1.335
Đài Loan
Tốc độ tăng trưởng (%)
5,0
(11,0)
1,0
7,5
Sản lượng (ngàn tấn)
950
1.091
1.187
1.250


Qua các số liệu trên cho thấy tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp sản
xuất bao bì ở Trung Quốc hiện nay đang phát triển rất mạnh với tốc độ tăng trưởng
bình quân hàng năm khoảng trên 13%, riêng năm 2003 tốc độ tăng trưởng của
ngành này tại Trung Quốc là 21.5% (tương đương 10.341 ngàn tấn). Trong khi đó,
Nhật là quốc gia có tốc độ tăng trưởng không cao do nhu cầu ổn đònh nhưng lại có
sản lượng cao hơn gấp 5 lần so với Hàn Quốc và Thái Lan, là hai quốc gia có tốc
15


độ tăng trưởng khá cao. Như vậy, hiện nay, Trung Quốc là nước đang dẫn đầu
Châu Á về ngành công nghiệp sản xuất bao bì carton, tiếp theo là Nhật, Đài Loan,
Hàn Quốc…
1.2.2.2.

Tình hình phát triển ngành bao bì carton tại Việt Nam

Ngành công nghiệp sản xuất bao bì carton đã hình thành và phát triển ở nước ta
từ những năm 60. Sau ngày thống nhất đất nước, mặc dù thiết bò công nghệ còn rất
lạc hậu, thô sơ, hầu hết được chế tạo tại Việt Nam, sản phẩm làm ra có chất lượng
thấp, ngành bao bì carton vẫn tiếp tục phát triển và có mức tỷ suất lợi nhuận bình
quân ngành khá cao. Đó là do không có cạnh tranh và được hưởng các ưu đãi về
nguồn nguyên liệu mua theo nghò đònh thư trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Tuy nhiên, đến những năm 89-90, nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thò
trường, ưu đãi không còn đã làm cho cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn, đặc
biệt là khi các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia vào ngành với thiết
bò công nghệ hiện đại hơn, khả năng tài chính mạnh hơn đã chiếm lónh hầu hết thò
trường, càng làm cho cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn. Đồng thời với sự phát triển
vượt bậc của nhiều ngành công nghiệp có nhu cầu về bao bì giấy đã làm cho tốc độ
tăng trưởng của ngành bao bì carton tại Việt Nam tăng nhanh một cách đáng kể.


(Nguồn: Tạp chí bao bì Việt Nam số 1/2004, Tạp chí Công nghiệp giấy số 2/2004)
Riêng ngành bao bì carton in offset tại TP.HCM có thể chia ra:
- Thứ nhất là các doanh nghiệp sản xuất bao bì carton in offset trong nước, bao
gồm 4 doanh nghiệp nhà nước và hơn 120 doanh nghiệp sản xuất chuyên
ngành và không chuyên ngành thuộc các thành phần kinh tế khác. Các doanh
nghiệp này chiếm khoảng 73% sản lượng, trong đó doanh nghiệp nhà nước
chiếm khoảng 23% sản lượng, còn lại là các doanh nghiệp khác chiếm
khoảng 50% sản lượng.
- Thứ hai là các doanh nghiệp sản xuất bao bì carton in offset có vốn đầu tư
nước ngoài, bao gồm 3 doanh nghiệp, tuy nhiên sản lượng của 3 doanh nghiệp
này chiếm khoảng 27% sản lượng toàn ngành ở thành phố. Ba doanh nghiệp
16


có quy mô đầu tư khá lớn và hiện đại, máy móc thiết bò đồng bộ. Các khách
hàng của 3 doanh nghiệp thường là những công ty và tập đoàn lớn tại Việt
Nam như Coca Cola, P&G, Tiger, Heineken, Pepsi, Foster…
Sau đây là một vài số liệu về sản lượng và năng lực đáp ứng của các doanh
nghiệp sản xuất bao bì carton in offset tại TPHCM:
Bảng 3: Khả năng cung cấp và sản xuất bao bì carton in offset
của các doanh nghiệp tại TP.HCM
Sản lượng (tấn)
2001 2002 2003

Lọai hình doanh nghiệp

Năng lực sản xuất
năm 2003 (tấn)


Qua tình hình trên cho thấy, khả năng cung cấp của các doanh nghiệp bao bì là
rất lớn, sản lượng thực tế năm 2003 chỉ đáp ứng được khoảng 60% so với công suất
máy móc thiết bò. Vì vậy việc cạnh tranh giữa ba loại hình doanh nghiệp là rất lớn,
đặc biệt là việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài, làm cho tỷ suất lợi nhuận bình quân ngành giảm một
cách nhanh chóng.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã nêu một cách khái quát về cơ sở lý luận của luận văn như sau:
- Tóm tắt một số lý thuyết về cạnh tranh trong nền kinh tế thò trường.
- Các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Tổng quan về sản phẩm bao bì carton và tình hình phát triển của ngành bao bì
carton tại Việt Nam và một số nước trên thế giới.
Những vấn đề được giới thiệu trên đây có thể làm cơ sở để phân tích thực trạng
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước sản xuất bao bì carton in offset
tại TP.HCM ở chương sau, đồng thời cũng là căn cứ để rút ra các giải pháp nhằm
nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp này.
17


CHƯƠNG 2:

PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC SẢN XUẤT BAO BÌ
CARTON IN OFFSET Ở TP.HCM
2.1.

QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
SẢN XUẤT BAO BÌ CARTON IN OFFSET Ở TP.HCM

Hiện tại ở TP.HCM có tất cả 4 doanh nghiệp nhà nước chuyên sản xuất bao bì

3

Công ty XNK ngành in Primexco

1990

30 tỷ đồng

4

Xí nghiệp in Gia Đònh

1993

17 tỷ đồng

(Nguồn: Sở Kế Họach Đầu Tư TP.HCM)
Tuy nhiên, khi nền kinh tế bắt đầu mở cửa, với sự xuất hiện một cách ồ ạt các
sản phẩm công nghiệp có sử dụng bao bì giấy in offset thì các doanh nghiệp này
mới bắt đầu hướng vào việc sản xuất bao bì nhằm phục vụ cho các ngành công
nghiệp có nhu cầu. Ban đầu, việc sản xuất hầu hết chỉ tập trung vào công đoạn in
ấn, còn các công đoạn sau khi in như bồi, bế, dán thì chỉ sử dụng những máy móc
thiết bò thô sơ, thủ công để sản xuất. Do đó chất lượng của bao bì không thể cạnh
tranh được với các sản phẩm bao bì được nhập từ Trung Quốc, Đài Loan… Đồng
thời, vào thời điểm đó, nhu cầu về sản phẩm này chưa cao, do đó việc đầu tư của
các doanh nghiệp này còn nhiều hạn chế, chưa được chú trọng.
Đến năm 1995, khi nhà nước bắt đầu cho phép các doanh nghiệp in tư nhân và
nước ngoài thành lập nhằm sản xuất các loại bao bì giấy phục vụ cho các ngành

18


Liksin

In 7

Primexco

In Gia
Đònh

Cộng

Doanh số
(Tr. đồng)

2001
2002
2003

52215
70210
80715

25720
37170
54543

19742
28789
45740

4370
8000

1543
2103
2705
1250
2027
3389
5000

512
845
1023
845
1045
1477
4000

Tốc độ tăng doanh số
bình quân (%)
Lợi nhuận
(Tr.đồng)
Sản lượng
(tấn)
Năng lực sản xuất (tấn)

2001
2002
2003

Liksin

In 7

Primexco

2003

2002

2001

10000

2001

2001

20000

2002

2002

30000

2003

2003


Về môi trường vó mô, các doanh nghiệp nhà nước sản xuất bao bì carton in
offset tại TP.HCM chòu ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:

20


Một là, các yếu tố kinh tế
Từ năm 1990 đến nay, kinh tế Việt Nam luôn đạt mức độ tăng trưởng hàng năm
thuộc loại cao trên thế giới. Trong những năm gần đây tuy tốc độ có giảm xuống
mức thấp nhất 4,8% năm 1999 do tác động của khủng hoảng kinh tế khu vực nhưng
đã được phục hồi vào năm 2000.
Đến năm 2003, mức tăng trưởng đạt 7,26%, là một kết quả đáng khích lệ khi
nền kinh tế nước ta phải đương đầu với nhiều biến động phức tạp trên thế giới
trong vài năm gần đây. Đặc biệt, trong tình hình đầu tư nước ngoài giảm mạnh trên
qui mô toàn cầu, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng 17% về vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài 1 .
Ngoài ra, quan hệ giao thương quốc tế ngày càng mở rộng, nhất là hiệp đònh
Thương mại Việt – Mỹ chính thức có hiệu lực sẽ thúc đẩy quan hệ thương mại và
đầu tư giữa hai nước, đồng thời hiện nay đang tiến hành các thủ tục để gia nhập
WTO đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế. Từ đó
thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, tạo thêm nhiều cơ hội cho các
doanh nghiệp ngành bao bì giấy, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước. Bên cạnh
đó, việc gia nhập vào AFTA cũng mang lại nhiều cơ hội cho ngành như thuế suất
nhập khẩu nguyên liệu chính của bao bì là giấy các loại giảm xuống còn 0% nhưng
cũng tạo ra nguy cơ là các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng bao bì sẽ nhập khẩu
bao bì từ các nước lân cận. Chính điều này cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước sản xuất bao bì carton in offset
trong phạm vi nghiên cứu do không những phải cạnh tranh với những đối thủ trong
nước mà còn phải cạnh tranh với những đối thủ ở nước ngoài.
Hai là, các yếu tố về chính trò, chính phủ và luật pháp

chất của nó là dễ tái sinh và không gây ô nhiễm môi trường. Do đó, hiện nay một
số ngành công nghiệp đã chuyển dần từ sử dụng bao bì nhựa, bao bì hộp thiếc, bao
bì gỗ sang bao bì giấy. Khi những ngành này phát triển thì nhu cầu về bao bì cũng
tăng theo, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sản xuất bao bì giấy có cơ hội được
tái đầu tư và phát triển, trong đó có các doanh nghiệp nhà nước.
TP.HCM là một trong hai thành phố lớn nhất Việt Nam, có vò trí điạ lý thuận
lợi, nằm giữa miền Đông, miền Tây và miền Nam Tây nguyên, các trục đường bộ,
đường sông, đường sắt đều đi qua TP.HCM trước khi đi qua các vùng khác. Đây là
khu vực phát triển kinh tế năng động nhất nước. Do đó các doanh nghiệp nhà nước
sản xuất bao bì carton in offset tại TP.HCM rất có lợi thế trong việc phát triển kinh
doanh và mở rộng thò trường. Mặc dù vậy nó cũng tạo cho các doanh nghiệp nhà
nước sản xuất bao bì carton in offset một sức ép cạnh tranh rất lớn.
Bốn là, các yếu tố về văn hóa xã hội
Hoạt động chi phối của yếu tố văn hóa đến ngành bao bì được thể hiện rõ nét ở
các loại bao bì mang tính chất truyền thống như: hộp bánh trung thu in đậm màu đỏ
22


tươi, in hình chiếc bánh bên cạnh ly trà xanh, các hình ông trăng, chò Hằng,… Hay
như các hộp quà tết thường được in màu đỏ để thể hiện sự may mắn vào đầu năm
và cho cả năm tiếp theo, hoặc vào các dòp lễ như: ngày Nhà Giáo Việt Nam
(20/11) hoặc ngày Quốc Tế Phụ Nữ (8/3), các loại bao bì giấy cùng tranh nhau xuất
hiện với nhiều mẫu mã và được thiết kế in ấn đặc sắc để thể hiện đậm nét sự tôn
kính thầy cô và cha mẹ. Chính điều đó cho thấy yếu tố văn hóa ảnh hưởng rất lớn
đến sự cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất bao bì giấy, đặc biệt là các doanh
nghiệp nhà nước với lợi thế hiểu rõ nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như các vấn
đề về văn hóa nên thường xuyên thay đổi các thiết kế cho phù hợp và để thu hút
được nhiều khách hàng công nghiệp hơn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh so với
các đối thủ.
Năm là, các yếu tố về kỹ thuật và công nghệ

thực phẩm bánh kẹo, thủy hải sản, điện tử,… Để tiện cho việc nghiên cứu các khách
hàng của các doanh nghiệp nhà nước này, tác giả đã tiến hành phân chia nhóm
khách hàng theo các ngành công nghiệp như sau :
ƒ Nhóm khách hàng rượu, bia và nước giải khát: đặc điểm của nhóm khách
hàng này là đơn đặt hàng với số lượng lớn, doanh số rất cao, thời gian đặt
hàng thường tập trung vào dòp lễ, tết. Yêu cầu về chất lượng in ấn của nhóm
khách hàng này rất phức tạp, đòi hỏi chất lượng rất cao. Ngoài ra nhóm
khách hàng này không đòi hỏi khắt khe về chủng loại giấy, do đó các doanh
nghiệp có thể chủ động trong việc lựa chọn các nhà cung cấp giấy cho phù
hợp với máy móc của doanh nghiệp. Đây là nhóm khách hàng có nhu cầu
lớn nhất về sản lượng và có tốc độ tăng trưởng cao. Đại diện nhóm này là
những khách hàng có tầm cỡ đã và đang hoạt động sản xuất tại thò trường
Việt Nam như : Heineken, Tiger, Sanmiguel, Coca Cola, Pepsi, Foster…
nhóm khách hàng này có mức hấp dẫn cao đối với doanh nghiệp.
ƒ Nhóm khách hàng thực phẩm và bánh kẹo: đặc điểm của nhóm khách hàng
này là đơn đặt hàng với số lượng lớn, doanh số khá cao, phụ thuộc mùa vụ
tương đối, thường tập trung đặt hàng vào dòp lễ, tết. Tuy nhiên, nhóm khách
hàng này không đòi hỏi khắt khe về nguyên liệu giấy, do đó các doanh
nghiệp có thể chủ động trong việc tồn kho nguyên vật liệu. Giá cả trong
nhóm khách hàng này rất cạnh tranh do chất lượng in ấn không đòi hỏi quá
phức tạp, đồng thời sản lượng của nhóm khách hàng này khá lớn, có tốc độ
tăng trưởng cao do có khả năng xuất khẩu trong thời gian tới.
ƒ Nhóm khách hàng nông dược, dược phẩm và hóa mỹ phẩm: đặc điểm của
nhóm khách hàng này là số lượng đơn hàng tương đối nhiều, sản lượng lớn,
thời gian đặt hàng quanh năm, doanh số của nhóm khách hàng này khá lớn,
có tốc độ tăng trưởng tương đối ổn đònh ở mức vừa phải. Đặc biệt đối với
nhóm khách hàng dược phẩm, do đây là sản phẩm chăm sóc sức khỏe của
con người, nên yêu cầu về chất lượng rất cao, đòi hỏi nhà cung cấp bao bì
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status