Một số yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may mặc hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bình Dương - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------

HUỲNH THIỆN THẢO NGUYÊN

MỘT SỐ YẾU TỐ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC HÀNG
XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
--------

HUỲNH THIỆN THẢO NGUYÊN

MỘT SỐ YẾU TỐ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP MAY MẶC HÀNG
XUẤT KHẨU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƢƠNG

Chuyên ngành : Kinh Doanh Thương Mại
Mã số

: 60340121

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh: .................................................................................6
1.1.2 Khái niệm về lợi thế cạnh tranh: .....................................................................8
1.1.3 Khái niệm về khả năng hay năng lực cạnh tranh: ...........................................8
1.2

Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: .......................10

1.3

Một số quan điểm về chiến lược cạnh tranh: .................................................10

1.4

Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: ................13

1.4.1 Mô hình hình thoi của Michael Porter: .........................................................13
1.4.2 Chuỗi giá trị: ..................................................................................................19
1.4.3 Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may
mặc xuất khẩu tỉnh Bình Dương: ..............................................................................20
Tóm tắt chương 1 ......................................................................................................24
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG NGÀNH MAY TỈNH BÌNH DƢƠNG ...................25
2.1

Thực trạng ngành may mặc tỉnh Bình Dương: ..............................................25

2.1.1 Về đầu tư: .......................................................................................................25


2.1.2 Về lao động: ...................................................................................................26

3.3.1 Thông tin mẫu nghiên cứu: ............................................................................51
3.3.2 Phương pháp đánh giá sơ bộ thang đo:.........................................................51
3.3.3 Kết quả nghiên cứu sơ bộ: .............................................................................53
3.3.3.1 Kết quả Cronbach Alpha: .........................................................................53
3.3.3.2 Kết quả EFA: ............................................................................................54
3.4

Thiết kế nghiên cứu chính thức:.....................................................................57

3.4.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu: ...............................................................................57
3.4.2 Thông tin mẫu nghiên cứu: ............................................................................58


Tóm tắt chương 3 ......................................................................................................60
Chƣơng 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..........................................61
4.1

Kiểm định thang đo: .......................................................................................61

4.1.1 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha: .............................61
4.1.1.1 Kiểm định thang đo biến độc lập:.............................................................61
4.1.1.2 Kiểm định thang đo biến phụ thuộc:.........................................................62
4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis): ...............63
4.1.2.1 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho các biến độc lập: .........................63
4.1.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA cho biến phụ thuộc: ............................64
4.1.3 Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thiết: ..........................................65
4.2

Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thiết: ...........................................65


5.2.3 Kiến nghị đối với Hiệp hội dệt may tỉnh Bình Dương: ..................................78
5.2.4 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ: ..................80
5.2.5 Kiến nghị về thị trường tiêu thụ: ....................................................................81
5.2.6 Kiến nghị đối với các doanh nghiệp may mặc xuất khẩu trên địa bàn tỉnh
Bình Dương: ..............................................................................................................82
5.3

Những hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo: ............................................84

Tóm tắt chương 5 ......................................................................................................85
KẾT LUẬN ...............................................................................................................86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
BHLĐ

: Bảo hộ lao động

CNCBCT

: Công nghiệp chế biến chế tạo

Ctg

: Các tác giả

DN


Pls

: Please

PTTH

: Phổ thông trung học

QM

: Quy mô

QMLĐ

: Quy mô lao động

SB

: Sơ bộ

XNK

: Xuất nhập khẩu

XK

: Xuất khẩu

VN


PHẦN MỞ ĐẦU
May mặc là một trong những ngành kinh tế nổi bật của Việt Nam trong
những năm vừa qua, không những đã tạo một lượng lớn việc làm mà còn là một
trong những ngành kinh tế đóng góp chủ yếu vào GDP của đất nước cũng như mang
về một lượng lớn ngoại tệ từ việc xuất khẩu. Trong thời gian qua, ngành này đã có
những cải thiện đáng kể như năng suất sản xuất tăng lên, năng lực sản xuất cũng cải
thiện đáng kể, chất lượng hàng hóa đạt yêu cầu của khách hàng nước ngoài,... Đặc
biệt với cung cách kinh doanh hướng tới khách hàng, các doanh nghiệp may mặc
Việt Nam đã tạo được lòng tin nơi khách hàng cũng như tạo cho hàng may mặc Việt
nam có một chỗ đứng tương đối trên thị trường thế giới và ngày càng có nhiều
người tiêu dùng biết đến và sử dụng hàng may mặc của Việt Nam. Điều này thể
hiện qua việc trong những năm vừa qua Việt Nam luôn là một trong 10 nước xuất
khẩu may mặc nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên, khi môi trường kinh doanh thay đổi
theo chiều hướng ngày càng bất lợi cho các doanh nghiệp như chi phí ngày càng
tăng cao, yêu cầu của thị trường ngày càng cao, môi trường cạnh tranh ngày càng
gay gắt thì đòi hỏi các doanh nghiệp cũng phải có những bước chuẩn bị cũng như có
những chiến lược cho phù hợp để có thể tồn tại và phát triển. Do đó, nhu cầu cấp
thiết đặt ra cho các doanh nghiệp là phải xác định được năng lực cạnh tranh của
mình đang ở mức độ nào so với các doanh nghiệp khác trong nước cũng như ngoài
nước; những yếu tố nào tác động đến và làm thay đổi hay cải thiện được khả năng
cạnh tranh này để ngành may mặc Việt Nam vẫn còn là ngành kinh tế chính đối với
nền kinh tế trong nước và sản phẩm may mặc Việt Nam ngày càng chiếm lĩnh thị
trường thế giới.
1.

Lý do chọn đề tài:
May mặc là một trong những ngành công nghiệp mang lại kim ngạch xuất

khẩu chủ yếu cho Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng. Với kim
ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm, ngành công nghiệp này đã mang về cho Việt

nghiệp may ở Bình Dương là đến từ các tỉnh thành khác đặc biệt là từ khu vực miền
Trung và miền Bắc, khi ngày càng có nhiều doanh nghiệp may mới mở ra đều đặt
tại những khu vực này sẽ thu hút một lượng lớn lao động quay ngược về quê hương


3

họ để làm việc. Điều này cho thấy lợi thế cạnh tranh mà các doanh nghiệp may mặc
Việt Nam nói chung và doanh nghiệp may trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng
hiện nắm giữ đang mất dần đi. Câu hỏi đặt ra là các doanh nghiệp này làm thế nào
để có thể tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt từ bên
ngoài cũng như những áp lực từ bên trong như hiện tại đặc biệt là chi phí nhân công
ngày càng gia tăng với tốc độ “chóng mặt”, trong khi đó, đến thời điểm này vẫn còn
không ít doanh nghiệp may vẫn tự cho rằng lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp họ
chủ yếu vẫn dựa vào chi phí thấp, với quan điểm chủ quan như thế này thì liệu
doanh nghiệp của họ sẽ “trụ” lại được bao lâu. Thêm vào đó, để có thể phát triển
bền vững cho cả một ngành công nghiệp trong một địa phương, liệu rằng chỉ dựa
vào sự nổ lực hay chiến lược của mỗi một doanh nghiệp riêng rẽ sẽ mang lại thành
công hay còn cần cả sự quy hoạch tổng thể và đồng bộ cũng như những chính sách
và hỗ trợ cụ thể từ phía sở ban ngành và chính quyền địa phương.
Bối cảnh trên cho thấy rõ ràng rằng tương lai của các doanh nghiệp may xuất
khẩu trên địa bàn tỉnh Bình Dương không phải toàn là một màu hồng nếu như
không có một giải pháp nào được chuẩn bị và thực thi ngay từ bây giờ. Với nghiên
cứu “Một số yếu tố nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp may mặc
hàng xuất khẩu trên địa bàn tỉnh Bình Dương”, tác giả mong rằng sẽ giúp được các
doanh nghiệp may mặc trên địa bàn tỉnh Bình Dương tìm thấy một hướng đi mới để
có thể phát triển vượt bậc và bền vững hơn trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt như
hiện nay.
2.


thực hiện trong năm 2013.
4.

Phƣơng pháp nghiên cứu:
 Phương pháp định tính: được thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ.
 Phương pháp định lượng: được thực hiện trong giai đoạn nghiên cứu sơ bộ

và nghiên cứu chính thức.
5.

Tính mới của đề tài:
Trong thời gian qua, có một số nghiên cứu về ngành dệt may cũng như

ngành công nghiệp hỗ trợ cho dệt may nhưng chủ yếu ở cấp độ vĩ mô hoặc ở phạm
vi là cả nước như nghiên cứu “Phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may của Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của tiến sĩ Nguyễn Thị Dung Huệ trường Đại học
Ngoại thương (2013) hay Luận án tiến sĩ “Lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt
Nam” của Lê Anh Tuấn trường Đại học Thái Nguyên (2013) đã đưa ra những mô
hình và phương pháp đo lường lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt Nam cũng


5

như đánh giá các nhân tố quyết định đến lợi thế này từ đó đề xuất một số kiến nghị
về chính sách nhằm cải thiện lợi thế so sánh của ngành dệt may Việt Nam. Tuy
nhiên, nhìn chung nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu ở tầm vĩ mô và đề xuất dành
cho chính phủ là chủ đạo. Năm 2011, The Asian Foundation (Quỹ Châu Á) và
CIEM (Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) cũng đã đưa ra báo cáo nghiên
cứu về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xuất khẩu trong ba ngành ở Việt Nam
trong đó có ngành may mặc. Báo cáo này đã nêu thực trạng hoạt động xuất khẩu

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Một số khái niệm:

1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh:
Thuật ngữ cạnh tranh được dùng rất phổ biến trong nhiều lĩnh vực trong đời
sống, do đó dẫn đến có nhiều quan niệm khác nhau về thuật ngữ này khi xem xét ở
những góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh tế có các định nghĩa sau:
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1 (Vũ Tùng Lâm, 2006, trang 13) ghi
nhận rằng “cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người
sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị
trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu
thụ, thị trường có lợi nhất”.
Tiếp cận dưới góc độ nhấn mạnh đến cách thức cạnh tranh, từ điển kinh tế
kinh doanh Anh – Việt (Nguyễn Đức Dy, 2002, trang 115) cho rằng “cạnh tranh là
sự đối địch giữa các hãng kinh doanh trên cùng một thị trường để giành được nhiều
khách hàng, do đó thu được nhiều lợi nhuận hơn cho bản thân, thường bằng cách
bán theo giá cả thấp nhất hay cung cấp một chất lượng hàng hóa tốt nhất”.
Xem xét cạnh tranh dưới góc độ mục đích, giáo trình Những nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Nguyễn Viết Thông và cộng sự, 2012, trang 286)
viết rằng “cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản
xuất, kinh doanh hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và
tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận cao nhất”.
Tuy có sự khác biệt trong cách thức và phạm vi diễn đạt, nhưng các quan
niệm trên đều có những có những nét tương đồng về nội dung, đó là:
-

Chủ thể tham gia cạnh tranh là người sản xuất, người kinh doanh.

-

lược đại dương xanh đã đưa ra một quan điểm cạnh tranh mới là vô hiệu hóa cạnh
tranh thông qua việc tìm những thị trường ngách hay những mãng thị trường mới
mà ở đó chưa có đối thủ cạnh tranh nào tham gia. Mặc dù lý thuyết này chưa hẳn là
hoàn hảo để có thể áp dụng trong mọi trường hợp, nhưng nó đã giải thích được
những hiện tượng mới nổi như Ipad cũng như phần nào phản ánh được bản chất và
phương thức cạnh tranh cần phải có sự thay đổi cho phù hợp.
Tóm lại, khi điều kiện môi trường cạnh tranh thay đổi thì cũng cần phải có sự
thay đổi trong quan niệm về cạnh tranh. Chúng ta không hề phủ nhận những quan
niệm trước đây là cạnh tranh thì cần phải ganh đua và đối đầu nhằm tiêu diệt đối thủ
cũng như giá cả và chất lượng hàng hóa là những công cụ chủ yếu dùng để cạnh
tranh vì nó vẫn còn tồn tại đâu đó trên thị trường cũng như vẫn có tác dụng trong
một số điều kiện nhất định. Tuy nhiên, trong môi trường có nhiều thay đổi so với


8

trước đây, thì cạnh tranh đang chuyển dần từ thế đối đầu sang cạnh tranh gắn liền
với sự liên kết và hợp tác đã và đang diễn ra; chuyển dần từ cạnh tranh chỉ đơn
thuần nhằm vào giá cả sang hướng cạnh tranh là tạo ra những giá trị mới nhằm thỏa
mãn những nhu cầu của khách hàng đang là xu thế mà các chủ thể kinh tế cần phải
nắm bắt và thích ứng để tồn tại và phát triển.
1.1.2 Khái niệm về lợi thế cạnh tranh:
Theo Michael Porter “nền tảng cơ bản để hoạt động của doanh nghiệp đạt
mức trên trung bình trong dài hạn là lợi thế cạnh tranh bền vững” (Lợi thế cạnh
tranh, Porter, 1985, trang 43) và “lợi thế cạnh tranh phát sinh từ các giá trị mà
doanh nghiệp có thể tạo ra cho người mua, giá trị này phải lớn hơn các chi phí của
doanh nghiệp đã phải bỏ ra. Giá trị là mức mà người mua sẵn lòng thanh toán, và
một giá trị cao hơn xuất hiện khi doanh nghiệp chào bán với các tiện ích tương
đương nhưng với mức giá thấp hơn các đối thủ cạnh tranh hoặc cung cấp các tiện
ích độc đáo và người mua vẫn hài lòng với mức giá cao hơn bình thường. Có hai

chỉ tồn tại bên trong doanh nghiệp mà nó còn phụ thuộc vào những lợi thế bên
ngoài doanh nghiệp; đó là tổ hợp các doanh nghiệp, các nhà cung cấp, các thể
chế,…Cùng với chính phủ, khu vực tư nhân có vai trò đầu tư một số tài sản tập thể
hoặc hàng hóa công cộng ở một số địa phương nhất định, cũng như sự phụ thuộc lẫn
nhau không tránh khỏi giữa chính phủ và các doanh nghiệp trong việc quyết định
năng suất của quốc gia. Thêm vào đó, vai trò chủ động của các hiệp hội công nghiệp
và các thể chế kinh doanh khác cũng góp phần to lớn vào việc hình thành nên năng
lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành hay trong vùng.
Như vậy, khả năng hay năng lực cạnh tranh được xem xét ở 3 góc độ:
 Năng lực cạnh tranh của sản phẩm hay dịch vụ: được hiểu là khả năng vượt
trội của hàng hóa hay dịch vụ hơn so với các hàng hóa dịch vụ cùng loại trên thị
trường tại một thời điểm nhất định. Khả năng cạnh tranh của sản phẩm hay dịch vụ
có thể đo lường bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ đó trên thị trường.


10

 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: là khả năng duy trì và mở rộng thị
phần, khả năng tổ chức, quản trị kinh doanh,…nhằm phát huy những thế mạnh, hạn
chế và khắc phục những điểm yếu nhằm nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình trước
đối thủ cạnh tranh từ đó thu về lợi ích cao nhất.
 Năng lực cạnh tranh quốc gia: là khả năng của một nền kinh tế hay một quốc
gia để tăng trưởng bền vững, thu hút được vốn đầu tư, đảm bảo an sinh xã hội, nâng
cao mức sống của người dân.
Trong nghiên cứu này, chủ yếu đề cập đến năng lực cạnh tranh hay khả năng
cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp.
1.2

Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:
Các doanh nghiệp luôn tìm cách cải thiện năng lực cạnh tranh của mình vì

quyết định mua sắm của người tiêu dùng. Do đó, Scott Hoenig nhấn mạnh đến giải
pháp nhằm tăng doanh thu cao hơn để tạo ra lợi nhuận cao hơn là quan trọng hơn
việc giảm chi phí để làm ra sản phẩm.
Quan điểm của John Naisbitt: trong tác phẩm Nghịch lý toàn cầu (1995) ông
cho rằng khuynh hướng chính của kinh doanh toàn cầu trong thế kỷ 21 là liên minh
chiến lược. Yếu tố cạnh tranh hoặc là mờ nhạt hoặc là đã thay đổi ý nghĩa và các
liên minh chiến lược đang cùng nhau căng thật rộng tấm lưới để hứng mọi cơ hội
đến trong tương lai. (Quản trị chiến lược, Đoàn Thị Hồng Vân, 2011, trang 454).
Quan điểm của Kim và Mauborgne: so với các lý thuyết cạnh tranh trước,
Kim và Mauborgne lại tiếp cận vấn đề cạnh tranh ở một góc độ rất khác, thay vì đối
đầu hay thỏa hiệp với các đối thủ cạnh tranh thì trong lý thuyết đại dương xanh,
Kim và Mauborgne (2005) đưa ra một khái niệm khá mới mẽ là các doanh nghiệp
tận dụng các lợi thế và nguồn lực của mình để tạo ra và chiếm lĩnh một đại dương
xanh - đó là tạo ra những khoảng trống thị trường mới mà ở đó chưa có đối thủ cạnh
tranh nào tham gia qua đó sẽ vô hiệu hóa cạnh tranh hoặc cạnh tranh là không cần
thiết. Né tránh cạnh tranh hay tìm kiếm các thị trường ngách, những mãng thị
trường mà các đối thủ cạnh tranh chưa để ý hay chưa quan tâm đến vẫn đã và đang
là một trong những con đường mà nhiều doanh nghiệp vẫn đang lựa chọn. Điểm
khác biệt “mấu chốt”, theo quan điểm của Kim và Mauborgne là không phải tránh
né cạnh tranh và hay tìm góc khuất của thị trường mà chủ động tạo ra những mãng


12

thị trường mới mà ở đó không có cạnh tranh đó là những đại dương xanh trên thị
trường. Và nền tảng để tạo ra một đại dương xanh chính là sự đổi mới giá trị. Sự đổi
mới giá trị được tạo ra khi tổ chức tác động đến cả cơ cấu chi phí lẫn giá trị mang
lại cho người mua. Việc tiết kiệm chi phí được thực hiện bằng cách loại bỏ hoặc
giảm bớt các yếu tố cạnh tranh trong ngành. Giá trị mang lại cho người mua tăng
lên nhờ gia tăng và hình thành những yếu tố ít hoặc chưa xuất hiện trong ngành


13

Như vậy, không có một chiến lược cạnh tranh nào được xem là hoàn hảo để
có thể áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp trong mọi hoàn cảnh. Do đó, việc lựa
chọn và vận dụng một chiến lược phù hợp với môi trường kinh doanh bên ngoài và
vừa sức với nội lực doanh nghiệp là điều cần thiết đối với các doanh nghiệp.
Các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

1.4

1.4.1 Mô hình hình thoi của Michael Porter:
Theo Michael E. Porter (1990), khả năng cạnh tranh quốc gia (cũng được áp
dụng cho vùng hay khu vực) được thể hiện ở sự liên kết của bốn nhóm yếu tố, mối
liên hệ này tạo thành mô hình có tên là mô hình hình thoi Porter. Tuy nhiên cũng
theo Michael E. Porter không phải là một quốc gia này cạnh tranh với một quốc gia
khác trên thị trường quốc tế mà chính là các doanh nghiệp phải cạnh tranh nhau trên
thương trường. Do đó, có thể nói các yếu tố tác động này cũng chính là các yếu tố
tác động đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quốc gia đó.
Các nhóm yếu tố tác động bao gồm:
 Điều kiện về các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất được quan niệm là tất
cả những gì không phải là „„đầu ra‟‟ cần thiết để cạnh tranh trong bất kỳ ngành công
nghiệp như lao động, tài nguyên thiên nhiên, đất đai vốn và cơ sở hạ tầng. Có nhiều
cách phân loại điều kiện các yếu tố sản xuất, trong đó có 3 cách cơ bản như sau:


Dựa vào nhóm các yếu tố sản xuất gồm có: nguồn nhân lực, nguồn tài sản

vật chất, nguồn kiến thức, nguồn vốn, cơ sở hạ tầng.


để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp thường phải chủ động hủy bỏ hoặc
thay thế những lợi thế của các yếu tố cơ bản hiện có, thậm chí dù cho chúng vẫn
tiếp tục tồn tại. Nguồn yếu tố sản xuất sẽ ngày càng trở nên kém giá trị đối với lợi
thế lâu dài trừ khi nó liên tục được nâng cấp và chuyên môn hóa.
Tuy nhiên, Porter cũng nhấn mạnh rằng không một quốc gia nào có thể tạo ra
và phát triển tất cả các loại yếu tố sản xuất. Loại nào được tạo ra và nâng cấp và
hiệu quả như thế nào còn phụ thuộc vào các yếu tố quyết định khác như điều kiện
cầu, các ngành công nghiệp phụ trợ và liên quan hiện có, mục tiêu công ty, bản chất
cạnh tranh trong nước. Sự hiện diện của các yếu tố sản xuất chuyên sâu và tiên tiến
trong một quốc gia thường không chỉ là nguyên nhân mà còn là kết quả của lợi thế
quốc gia. Bên cạnh đó, ông cũng cho rằng những thuận lợi về các yếu tố đầu vào


15

sản xuất tạo nên vị thế cạnh tranh hiện tại nhưng những bất lợi lại là nền tảng cho
việc nâng cao vị thế cạnh tranh vì chính những bất lợi về yếu tố sản xuất sẽ tạo ra áp
lực cũng như kích thích các doanh nghiệp đổi mới. Thiếu sức ép nghĩa là ít tiến bộ,
nhưng quá nhiều khó khăn lại dẫn đến tê liệt. Áp lực ở mức trung bình, bao gồm sự
cân bằng giữa lợi thế trong một vài khu vực và bất lợi ở những khu vực khác dường
như là sự kết hợp tốt nhất cho cải tiến và đổi mới.
 Điều kiện về cầu: được thể hiện trực tiếp ở tiềm năng của thị trường. Thị
trường là nơi quyết định cao nhất năng lực cạnh tranh của một quốc gia. Thị trường
trong nước có những đòi hỏi cao về sản phẩm sẽ là động lực thúc đẩy các công ty
thường xuyên cải tiến và đổi mới sản phẩm nếu các công ty này muốn tồn tại và
phát triển. Cũng tương tự như vậy, thị trường nước ngoài đặt ra những tiêu chuẩn
cao đối với các sản phẩm và các dịch vụ, đặt ra cho những công ty muốn thành công
trên thị trường quốc tế phải luôn đổi mới và đáp ứng kịp thời các nhu cầu của thị
trường nước ngoài (để kinh doanh thành công thì phải biết bán cái gì người ta cần
chứ không phải bán cái gì mình có).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status