Nghiên cứu bộ ba bất khả thi ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 2011 : Luận văn thạc sĩ - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----oOo-----

HUỲNH THỊ MAI TRÚC

NGHIÊN CỨU BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1996 - 2011

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----oOo-----

HUỲNH THỊ MAI TRÚC

NGHIÊN CỨU BỘ BA BẤT KHẢ THI Ở
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1996 - 2011
Chuyên ngành

: Tài Chính – Ngân hàng

Mã Số

: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
TÓM TẮT ................................................................................................................. 1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ..................................................................................... 3
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY .. 5
2.1 Mô hình bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming (1963) .......................... 5
2.2 Các nghiên cứu về bộ ba bất khả thi của nhóm tác giả Joshua Aizenman,
Menzie D. Chinn, Hiro Ito (2008,2010) .......................................................... 6
2.3 Một số nghiên cứu về bộ ba bất khả thi cho các nền kinh tế mới nổi và
đang phát triển ................................................................................................. 16
2.3.1 Sự thay đổi cấu trúc tài chính trong xu thế toàn cầu hóa ........................ 16
2.3.2 Quan hệ giữa dự trữ ngoại hối và bộ ba bất khả thi trong thời kỳ khủng
hoảng ....................................................................................................... 18
2.3.3 Sự lựa chọn bộ ba bất khả thi của các nước mới nổi và đang phát
triển ......................................................................................................... 20


CHƢƠNG 3: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ................................................... 22
3.1 Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................ 22
3.2 Xây dựng các chỉ số .................................................................................................... 23
3.2.1 Chỉ số tiền tệ độc lập (MI) ...................................................................... 23
3.2.2 Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS) ...................................................... 25
3.2.3 Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN) .................................................... 27
CHƢƠNG 4: NỘI DUNG VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ......................... 29

FDI

: Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FPI

: Đầu tư gián tiếp nước ngoài

GDP

: Tổng thu nhập quốc dân

IDC

: Các nước công nghiệp hóa

IR

: Dự trữ ngoại hối

IMF

: Quỹ tiền tệ quốc tế

KAOPEN

: Hội nhập tài chính

LDC


Chỉ số độc lập tiền tệ (MI) của Việt Nam

Bảng 3.2

Chỉ số ổn định tỷ giá hối đoái (ERS) của Việt Nam

Bảng 3.3

Chỉ số hội nhập tài chính (KAOPEN) của Việt Nam

Bảng 4.1

Kiểm định sự ảnh hưởng của các sự kiện kinh tế tài chính nổi bật đến sự
thay đổi các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam

Bảng 4.2

Dự trữ ngoại hối và GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011

Bảng 4.3

Tỷ lệ Dự trữ ngoại hối/GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011

Bảng 4.4

Bộ ba bất khả thi, dự trữ ngoại hối và tăng trưởng GDP

Bảng 4.5

Tác động của các định hướng chính sách đối với GDP

Đồ thị biểu diễn mức độ hội nhập tài chính (KAOPEN) của Việt Nam

Hình 4.1

Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 1996-2011

Hình 4.2

Sự phát triển các chỉ số bộ ba bất khả thi của Việt Nam giai đoạn 1996-2011

Hình 4.3

Hiệu quả kết hợp chính sách: (a MI + b ERS), (a MI + c KAOPEN), (b
ERS + c KAOPEN) và (a MI + b ERS + c KAOPEN)

Hình 4.4

Hiệu quả từng chính sách của a MI, b ERS và c KAOPEN

Hình 4.5

Dự trữ ngoại hối và GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011

Hình 4.6

Tỷ lệ dự trữ ngoại hối/GDP của Việt Nam từ 1996 đến 2011


1


hành chính sách ở các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Vì vậy, việc áp dụng lý
thuyết này một cách hiệu quả có vai trò rất quan trọng trong việc giúp đất nước mau
chóng thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng, sớm ổn định lại nền kinh tế. Đó chính là lý
do mà người viết lựa chọn đề tài này.
Việc điều hành bộ ba bất khả thi không thể dừng ở một mức riêng lẻ mà cần
phải gắn nó với sự phát triển kinh tế của đất nước. Có như vậy thì việc nghiên cứu lý
thuyết này mới có thể mang lại hiệu quả trong thực tiễn. Trong khuôn khổ luận văn
này, người viết không chỉ tập trung phân tích mối tương quan giữa các yếu tố trong bộ
ba mà còn mở rộng việc xem xét mối tương quan giữa bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại
hối và ảnh hưởng của các yếu tố đó đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam trong thời
đại toàn cầu hóa như thế nào.


3

CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
Đã có nhiều nghiên cứu của các tác giả nổi tiếng trên thế giới về bộ ba bất khả
thi và tác động của bộ ba bất khả thi đến nền kinh tế vĩ mô của các nước nên lý thuyết
bộ ba bất khả thi rất được các nhà làm chính sách quan tâm. Vì vậy các nhiều nhà kinh
tế đã và đang nghiên cứu về vấn đề này, các nghiên cứu này được áp dụng cho các
nước phát triển, các nước đang phát triển, đặc biệt là tại các nước có nền kinh tế mới
nổi.
Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, có thể thấy, đất nước
chúng ta đã và đang thay da đổi thịt từng ngày. Quyết sách về gia nhập thị trường tài
chính toàn cầu vào cuối những năm 80 thế kỷ trước đang đem lại cho đất nước ta nhiều
cơ hội phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế đó, cũng có rất nhiều khó khăn và
thách thức đang đặt ra trước mắt như vấn đề khủng hoảng kinh tế, ổn định tỷ giá,….
Mục tiêu nghiên cứu
Xem xét sự lựa chọn bộ ba bất khả thi ở các nền kinh tế mới nổi và đang phát
triển để thấy được tầm quan trọng của việc tích trữ ngoại hối – như là biến số thứ tư

đầu tư và dự trữ ngoại hối, tác giả lấy từ nguồn “World Development
Indicators” của World Bank.
Dựa vào nguồn dữ liệu thu thập được, tác giả tính toán các chỉ số bộ ba bất khả
thi bằng phần mềm Excel, sử dụng phần mềm Megastat Excel 2007 để phân tích
dữ liệu.
Kết cấu của luận văn: Luận văn bao gồm 5 chương chính:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận


5

CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
TRƢỚC ĐÂY
2.1

Mô hình bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming (1963)
Mô hình bộ ba bất khả thi của Mundell – Fleming (1963) chỉ ra rằng một đất

nước chỉ có thể đạt cùng lúc hai trong ba mục tiêu: chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ
giá hối đoái ổn định và tự do tài chính. Bộ ba bất khả thi – được minh họa trong hình
2.1; mỗi cạnh của tam giác – đại điện cho chính sách tiền tệ độc lập, chế độ tỷ giá hối
đoái ổn định và tự do tài chính – mô tả mong muốn mục tiêu tiềm năng, đối diện với
mỗi cạnh (hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh. Mục tiêu hội nhập
tài chính đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh
tỷ giá thả nổi hoàn toàn và mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập thì đối ngược đỉnh liên
minh tiền tệ (chính sách tiền tệ phụ thuộc). Việc đạt được cả ba mục tiêu là hoàn toàn

yếu tố là sự đánh đổi với sự giảm hiệu quả của hai yếu tố kia.
Nếu như lý thuyết nguyên thủy của bộ ba bất khả thi chưa có công cụ đo lường
các chỉ số bộ ba bất khả thi thì trong bài nghiên cứu “Giả thuyết “Bộ ba bất khả thi”
trong thời đại khủng hoảng toàn cầu: Sự đo lường và kiểm định” của nhóm tác giả
Joshua Aizenman, Menzie D. Chinn, Hiro Ito (2008) đã khắc phục sự thiếu sót này
bằng cách đưa ra các cách tính các yếu tố của bộ ba bất khả thi. Theo đó các chỉ số bộ
ba bất khả thi được đo lường như sau:


7

Chỉ số độc lập tiền tệ (MI): được đo lường bằng sự tương quan hàng năm của
lãi suất hàng tháng giữa một nước với nước cơ sở được đo lường bằng công thức:
MI

1

corr (ii , i j ) ( 1)
1 ( 1)

Trong đó i là nước nghiên cứu, j là nước cơ sở, lãi suất sử dụng là lãi suất trên
thị trường tiền tệ. Chỉ số MI có giá trị từ 0 tới 1, chỉ số này càng cao có nghĩa chính
sách tiền tệ càng độc lập.
Chỉ số ổn định tỷ giá (ERS): được tính toán dựa trên độ lệch chuẩn hàng năm
của tỷ giá hàng tháng giữa nước nghiên cứu và nước cơ sở, được đo lường như sau:
ERS

0.01
0.01 stdev( (log(exch _ rate))


trong tỷ giá hối đoái và sụt giảm sự độc lập tiền tệ. Các nước đang phát triển
nhưng không phải thị trường mới nổi (Non-EMG) cũng dần mở cửa tài chính,
cố gắng để đạt được mức độ nhất định của sự ổn định tỷ giá trong khi vẫn duy
trì mức độ độc lập tiền tệ.
Ngoài ra nhóm các nước mới nổi thì dễ dàng trong việc tăng dự trữ ngoại hối,
đây là khoản đệm an toàn cho sự đánh đổi trong bộ ba bất khả thi; các quốc gia
phát triển không phải thị trường mới nổi tăng dự trữ ngoại hối vừa phải hơn và
các nước công nghiệp giữ tỷ lệ dự trữ thấp nhất. Chính vì điều này mà các nền
kinh tế mới nổi đạt được sự kết hợp tương đối cân bằng giữa ba mục tiêu vĩ mô
trong những năm 2000 mà không có một nhóm nước nào đạt được.


9

Hình 2.2: Cấu hình bộ ba bất khả thi và dự trữ quốc tế theo thời gian.
Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2008)
Nhóm tác giả đã tiến hành kiểm tra mối quan hệ giữa các sự kiện kinh tế tài
chính nổi bật với sự thay đổi trong cấu trúc bộ ba bất khả thi (hay còn gọi là điểm gãy
cấu trúc). Sự kiện tài chính được xem xét như sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods
năm 1973, khủng hoảng nợ ở Mexico năm 1982, và khủng hoảng Châu Á 1997-1998
(tham khảo phần phụ lục 1a), làn sóng toàn cầu hóa 1990 và sự kiện Trung Quốc gia
nhập WTO năm 2001 (tham khảo phần phụ lục 1b). Nhóm tác giả xem các năm 1973,
1982, 1990, 1997-1998 và năm 2001 trùng với thời gian diễn ra sự phá vỡ cấu trúc bộ
ba bất khả thi và tiến hành kiểm định bằng nhau giữa giá trị trung bình của các nhóm
mẫu con là các thời kỳ có chứa năm diễn ra sự phá vỡ đó.


10

Kết quả cho các biến khác nhau và cho các mẫu được thể hiện trong phụ lục 2

việc đánh đổi trong lựa chọn các mục tiêu chính sách. Trải qua các thời kỳ khác nhau,
các hệ số ước tính sẽ khác nhau, chứng tỏ các quốc gia sẽ có sự thay đổi lựa chọn cấu
trúc bộ ba bất khả thi theo thời gian.
Từ kết quả tính toán được nhóm tác giả đã vẽ đường tổng hợp khuynh hướng
chính sách cho nhóm nước công nghiệp hóa (IDC) và các nước đang phát triển (LDC)
theo hình 2.3 như sau:
a. Hiệu quả kết hợp chính sách: (a MI + b ERS), (a MI + c KAOPEN), (b ERS + c
KAOPEN) và (a MI + b ERS + c KAOPEN)

b. Hiệu quả từng chính sách của a MI, b ERS và c KAOPEN

Hình 2.3: Khuynh hƣớng chính sách của các nƣớc công nghiệp hóa (IDC) và các
nƣớc đang phát triển (LDC)
Nguồn: Aizenman, Chinn và Ito (2008)


12

Hình 2.3a cho thấy xu hướng của các nước IDC có xu hướng kết hợp hai chính
sách là ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính từ những năm 1990, tuy nhiên xu hướng kết
hợp giữa ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính là xu hướng từ những năm 2000, mặc
khác các nước LDC thì xu hướng kết hợp chính sách độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá
hoàn toàn chiếm ưu thế.
Hình 2.3b cho thấy sự đóng góp của mỗi thành phần aMI, bERS và cKAOPEN
vào định hướng chính sách của hai nhóm quốc gia IDC và LDC: các nước LDC có xu
hướng cố gắng để đạt được mức độ nhất định của sự ổn định tỷ giá và hội nhập tài
chính trong khi vẫn duy trì mức độ độc lập tiền tệ ở mức cao, để thực hiện được điều
này các nước phải có lượng dự trữ ngoại hối đủ lớn để can thiệp vào thị trường tiền tệ;
trong khi đó các nước IDC có xu hướng tự do hóa tài chính và sự ổn định tỷ giá tương
ứng với sự sụt giảm trong chính sách độc lập tiền tệ và hững thay đổi tỷ trọng tương

Bằng cách phân tích hồi quy nhóm tác giả đã ước lượng mô hình tổng quát và
ước lượng các chỉ số tổng hợp (sự kết hợp của hai trong 3 chính sách) các chỉ số bộ ba
bất khả thi tác động như thế nào đến các yếu tố hiệu quả vĩ mô (biến động sản lượng,
biến động của lạm phát hoặc tỷ lệ lạm phát trung hạn) của 3 nhóm nước là các quốc gia
đang phát triển, các quốc gia xuất khẩu hàng hóa đang phát triển và các quốc gia thị
trường mới nổi, nhóm tác giả cũng có tính đến sự tương tác của các chỉ số với dự trữ
ngoại hối (tham khảo phụ lục 4 – 12)
Bảng 2.1: Tổng hợp các tác động của cấu hình bộ ba bất khả thi
Ƣớc lƣợng mô hình tổng quát
Ƣớc lƣợng các chỉ số tổng hợp
Mức độ tác động của các yếu tố bộ ba bất khả thi đến biến động sản lượng đầu ra
Nhóm các quốc
MI và
MI và
ERS và
MI
ERS
KAOPEN
gia
ERS
KAOPEN KAOPEN


14

Các quốc gia
đang phát triển
(LDC)

giảm

hợp với
mới nổi (EMG)
thể giảm
tỷ lệ IR
mức độ
cao
biến động
Mức độ tác động của các yếu tố bộ ba bất khả thi đến biến động của lạm phát
Nhóm các quốc
MI và
MI và
ERS và
MI
ERS
KAOPEN
gia
ERS
KAOPEN KAOPEN
Các quốc gia
đang phát triển
Tăng
(LDC)
Các quốc gia
xuất khẩu hàng
hóa đang phát
giảm
giảm
triển (LDCCMD)
Các quốc gia
Tăng

Các quốc gia
xuất khẩu hàng
hóa đang phát
triển (LDCCMD)
Các quốc gia
mới nổi (EMG)

tỷ lệ IR >
53-56%
thì biến
động tăng

Tăng

tỷ lệ IR >
67% thì sẽ
biến động
tăng

giảm

giảm

giảm

giảm

giảm

giảm

-

Trong số các chỉ số bộ ba bất khả thi thì độc lập tiền tệ tác động ngược chiều lên
mức biến động sản lượng đầu ra mặc dù nó có ảnh hưởng cùng chiều lên mức độ
lạm phát. Hội nhập tài chính tác động ngược chiều lên mức biến động đầu ra trong


16

khi nó vẫn gây ra ảnh hưởng ngược chiều lên mức lạm phát. Tỷ giá càng ổn định
càng làm giảm mức lạm phát nhưng nếu đồng thời nắm giữ quá nhiều dự trữ ngoại
hối (45% trên GDP) sẽ gây ra tác động cùng chiều làm tăng mức lạm phát.
-

Khi quan sát các nền kinh tế thị trường mới nổi, quốc gia với mức độ ổn định tỷ giá
cao hơn thường có biến động về sản lượng lớn, mặc dù tác động này có thể được
giảm thiểu bằng cách gia tăng tỷ lệ dự trữ ngoại hối trên GDP cao hơn ngưỡng
khoảng 20% trên GDP thì có thể làm giảm tác động lên sản lượng. Điều này giúp
giải thích được sự gia tăng trong dự trữ ngoại hối ở các quốc gia thị trường mới nổi
trong thời gian gần đây.

-

Nghiên cứu tìm thấy một số bằng chứng cho rằng nếu nền kinh tế theo đuổi sự ổn
định về tỷ giá cao hơn và mở cửa tài chính trong khi dự trữ ngoại tệ lớn, nó có thể
sẽ trải qua sự gia tăng về mức độ lạm phát. Phát hiện này cho thấy rằng nền kinh tế
với mức độ vượt quá ngưỡng dự trữ ngoại hối phải đối mặt với một giới hạn trong
việc vô hiệu hóa tỷ giá hối đoái.

2.3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status