Ảnh hưởng của lạm phát đến độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư đối với giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2009 - 2017 - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------------------------

LÊ THỊ NGOAN

ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN ĐỘ NHẠY CẢM CỦA
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI GIÁ CỔ PHIẾU TẠI
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2009 - 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
---------------------------------------

LÊ THỊ NGOAN

ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN ĐỘ NHẠY CẢM CỦA
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ ĐỐI VỚI GIÁ CỔ PHIẾU TẠI
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
GIAI ĐOẠN 2009 - 2017

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

1.3. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 2
1.4. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................... 3
1.5. Bố cục đề tài .................................................................................................. 3
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
TRƯỚC ĐÂY ............................................................................................................ 4
2.1. Cơ sở lý thuyết ............................................................................................... 4
2.1.1. Lạm phát .............................................................................................. 4
2.1.2. Quyết định đầu tư của doanh nghiệp .................................................. 5
2.1.3. Độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá cổ phiếu..................................... 7
2.1.4. Mô hình cấu trúc q của Tobin - chỉ số đánh giá hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp .................................................................................................... 8
2.2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây ............................................................ 9


2.2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới về độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá
cổ phiếu .......................................................................................................... 10
2.2.2. Một số nghiên cứu tại Việt Nam ........................................................ 12
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................. 15
3.1. Dữ liệu ......................................................................................................... 15
3.2. Mô hình........................................................................................................ 16
3.3. Xử lý dữ liệu ................................................................................................ 16
3.3.1. Các biến chính ................................................................................... 17
3.3.2. Biến kiểm soát ................................................................................... 18
3.4. Phương pháp ước lượng .............................................................................. 21
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ............................................................. 24
4.1. Phân tích thống kê mô tả và ma trận tương quan ........................................ 24
4.2. Kiểm định tự tương quan và đa cộng tuyến ................................................ 28
4.2.1. Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến ..................... 28
4.2.2. Kiểm tra đa cộng tuyến ..................................................................... 29
4.3. Kiểm định lựa chọn mô hình phù hợp ......................................................... 30

FEM

Fixed effect model

Mô hình các ảnh hưởng cố định

GDP

Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm quốc nội

HNX

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội

HNX

HOSE

Sở Giao dịch Chứng khoán thành phố
Hồ Chí Minh

PIN

Probability of informed trading

Pooled OLS

Pooled Ordinary least squares

Biểu đồ 4.1. Tình hình lạm phát ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2017..................... 25
Biểu đồ 4.2. Đồ thị phân tán của các biến độc lập so với biến phụ thuộc ............. 27


TÓM TẮT
Trong thời gian qua, tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu xoay quanh mối
quan hệ giữa lạm phát, giá cổ phiếu và hoạt động đầu tư. Tuy nhiên, vấn đề nghiên
cứu độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư với giá cổ phiếu của các công ty và các yếu tố
tác động đến nó vẫn là một chủ đề khá mới mẻ và đang được quan tâm. Bài nghiên
cứu này được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của lạm phát đến độ nhạy cảm
của hoạt động đầu tư đối với giá cổ phiếu của các công ty trên thị trường Việt Nam
giai đoạn năm 2009 - 2017. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng được thiết lập từ 146
công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán
thành phố Hồ Chí Minh, tương ứng với 1.314 quan sát. Sau quá trình kiểm định,
phương pháp hồi quy Pooled OLS là phương pháp hồi quy phù hợp với mô hình
nghiên cứu so với các phương pháp ước lượng như FEM và REM.
Kết quả hồi quy cho thấy yếu tố lạm phát có ảnh hưởng nghịch biến đến độ
nhạy cảm của hoạt động đầu tư đối với giá cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sàn
chứng khoán Việt Nam. Là một trong những nước thị trường mới nổi, giai đoạn năm
2009 - 2017, Việt Nam tích cực mở cửa quan hệ quốc tế, cải thiện môi trường kinh
doanh, tuy nhiên giai đoạn này vẫn còn nhiều biến động. Do đó, khi lạm phát tăng
cao, lượng thông tin hàm ý trong giá cổ phiếu của các công ty giảm, các nhà quản lý
không tin tưởng và ít sử dụng giá cổ phiếu làm cơ sở để đưa ra quyết định chiến lược
đầu tư cho công ty, từ đó dẫn đến độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư với giá cổ phiếu
giảm. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy rằng, tỷ lệ tăng trưởng doanh thu tác
động ít đến hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp tại Việt Nam giai đoạn này.
Từ khóa: lạm phát, độ nhạy cảm của đầu tư, giá cổ phiếu, chi tiêu vốn, Pooled
OLS.




Lý do chọn đề tài
Lạm phát là một trong những chỉ báo kinh tế vĩ mô quan trọng và thường xuyên

được sử dụng trong phân tích kinh tế, được sự quan tâm của nhiều chuyên gia kinh tế
cũng như các tầng lớp dân cư. Tác động của lạm phát diễn ra rất rộng, ảnh hưởng trên
nhiều lĩnh vực. Lạm phát tăng thể hiện sự bất ổn trong nền kinh tế, đặc biệt về giá cả.
Trong một nền kinh tế bất ổn, tâm lý các nhà đầu tư trên thị trường bị ảnh hưởng
nghiêm trọng. Friedman (1977) cho rằng lạm phát làm giảm nội dung thông tin của
giá cả bằng cách gây ra độ nhiễu. Tommasi (1996) cũng đưa ra nhận định rằng lạm
phát sẽ làm suy giảm lượng thông tin được thể hiện trong giá cả.
Theo Farooq và Ahmed (2017), tại các quốc gia có lạm phát cao thuộc các thị
trường mới nổi, các nhà quản lý ít nhạy cảm hơn với giá cổ phiếu. Khi lạm phát tăng
cao, thị trường có ít thông tin về giá cổ phiếu, những nhà quản lý sẽ ít sử dụng giá cổ
phiếu để đưa ra quyết định đầu tư, do đó làm giảm độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ
phiếu ở các nước có tình trạng lạm phát tăng cao. Sự nhạy cảm của đầu tư đối với giá
cổ phiếu tăng lên khi tính thông tin của giá cổ phiếu tăng.
Trong thời gian vừa qua, lạm phát ở Việt Nam có nhiều biến động. Giai đoạn
trước đây (khoảng từ năm 2008 - 2012), lạm phát ở Việt Nam tăng cao do ảnh hưởng
của các cuộc khủng hoảng kinh tế trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, trong
vài năm nay (khoảng từ năm 2013 - 2017), tình trạng lạm phát thấp đang diễn ra và
nhiều khả năng tiếp tục được duy trì trong những năm tới nếu không có các tác động
của các cú sốc lớn từ phía cung như giá dầu, giá lương thực, giá dịch vụ y tế, giáo
dục…Việc biến động lạm phát cùng với sự hoàn thiện và từng bước phát triển của thị
trường chứng khoán ở Việt Nam đã tác động đến những quyết định đầu tư của những
nhà quản lý. Hiện nay, Việt Nam là một nước đang trong quá trình mở cửa, hội nhập
và phát triển kinh tế với nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tăng trưởng và phát triển.
Vì vậy, chúng ta cần hiểu rõ lạm phát có tác động như thế nào đến độ nhạy cảm của
đầu tư với giá cổ phiếu của các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt


Bài nghiên cứu sẽ lần lượt giải quyết các câu hỏi sau:
- Ảnh hưởng của lạm phát đến độ nhạy cảm của hoạt động đầu tư đối với giá
cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2009 đến 2017 như
thế nào?


3

- Ngoài yếu tố lạm phát, có các nhân tố khác tác động đến độ nhạy cảm của
hoạt động đầu tư với giá cổ phiếu hay không?
1.4.

Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu trên, tác giả sẽ thu thập dữ liệu từ 146 công

ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội và Sở giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh theo dữ liệu bảng trong giai đoạn 2009 - 2017. Phương pháp nghiên
cứu được sử dụng là kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng (panel data) bằng các phương
pháp ước lượng bao gồm: ước lượng mô hình các ảnh hưởng cố định (FEM), ước
lượng mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM) và ước lượng mô hình hồi quy kết
hợp tất cả các quan sát (Pooled OLS) cũng như các kiểm định F-Test (so sánh mô
hình FEM và Pooled OLS), kiểm định Kiểm định Breusch and Pagan Lagranian (so
sánh mô hình Pooled OLS và REM), và kiểm định White, kiểm định Wooldridge Test
để lựa chọn phương pháp hồi quy phù hợp nhất.
1.5.

Bố cục đề tài
Bài nghiên cứu được trình bày theo cấu trúc như sau.
Chương 1: Tác giả đề cập lý do nghiên cứu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu,


dùng so với năm gốc cụ thể. Thông thường các nhóm chính trong giỏ hàng hóa là
thực phẩm, quần áo, nhà cửa, chất đốt, vận tải và y tế.
Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tùy theo
mức độ của nó. Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên
cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những
tác hại rất nghiêm trọng đối với kinh tế và đời sống. Tác động của lạm phát còn tùy
thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được hay không, công chúng và các thể chế
có thể tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là một điều bất
ngờ. Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán trước được, cơ cấu nền kinh tế
dễ mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực
hàng hóa có giá cả tăng lên cao, những ngành sản xuất có chu kỳ ngắn, thời gian thu
hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản xuất có chu kỳ dài, thời gian thu
hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro. Lạm phát phát triển nhanh, biểu
giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin được bao hàm trong giá cả bị phá
hủy, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các
hoạt động đầu tư (Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng, 2008).
Nghiên cứu của Saryal (2007) về ảnh hưởng của lạm phát đến biến động thị
trường chứng khoán đã góp phần khẳng định tỷ lệ lạm phát là một trong những yếu
tố cơ bản quyết định biến động thị trường chứng khoán. Tỷ lệ lạm phát càng cao, biến


5

động thị trường chứng khoán càng lớn, theo đó rủi ro thị trường cũng càng cao hơn.
Phân tích lạm phát giúp các nhà quản trị xem xét các kỳ vọng cho tương lai của nền
kinh tế để đưa ra những quyết định chiến lược kinh tế phù hợp.
Theo Campbell và Vuolteenaho (2004), lạm phát cao có thể làm cho các nhà
quản trị và nhà đầu tư dự báo tăng trưởng của công ty một cách chủ quan dựa trên
những dữ liệu về tăng trưởng trong quá khứ, kết quả là định giá sai giá trị doanh
nghiệp. Ổn định lạm phát thành công có thể làm giảm khả năng xảy ra việc định giá

rộng thị trường hoặc có thể tham gia vào thị trường tài chính như đầu tư chứng khoán,
cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh...
Thứ ba, doanh nghiệp phải lựa chọn nguồn vốn và phương thức thanh toán các
nguồn vốn sao cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian
hợp lý.
Mỗi năm, các doanh nghiệp lớn và nhỏ chi tiêu rất nhiều tiền vào đầu tư vốn.
Các hoạt động đầu tư này vạch ra hướng hoạt động cho tương lai của một công ty
trong nhiều năm tới. Công ty không chỉ đầu tư vào các nhà máy, thiết bị mới mà còn
cho những chương trình như các chiến dịch quảng cáo, các chương trình nghiên cứu
phát triển.
Quyết định đầu tư của doanh nghiệp bị chi phối và tác động bởi nhiều yếu tố
như yếu tố nội lực bên trong như dòng tiền, quy mô công ty, tỷ lệ đòn bẩy tài chính,
tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận của công ty, … và các yếu tố ngoại lực bên ngoài
doanh nghiệp như lạm phát, pháp luật, GDP, văn hóa quốc gia …. Để đưa ra một
quyết định đầu tư, nhà quản trị phải xem xét các nhân tố tác động và quan tâm thứ tự
ưu tiên trong việc chọn lựa.
Chi tiêu vốn (capital expenditure) là chi phí tiền mặt dự kiến tạo ra một dòng
các lợi ích tiền mặt trong tương lai kéo dài hơn một năm. Có nhiều loại chi phí khác
nhau như chi phí mua một thiết bị mới, một bất động sản hay một tòa nhà để mở rộng
một sản phẩm hay một ngành dịch vụ hiện có hoặc bước vào một lĩnh vực kinh doanh
mới; Thay thế một tài sản cố định hiện có; Chi phí cho một chiến dịch quảng cáo; Chi
phí cho một chương trình nghiên cứu phát triển; Các đầu tư cho đào tạo và huấn luyện


7

nhân viên…Các chi tiêu vốn rất quan trọng đối với một doanh nghiệp, bởi vì chúng
đòi hỏi các chi phí tiền mặt lớn và chúng có tác động dài hạn đối với thành quả doanh
nghiệp (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007).
Các chi tiêu vốn của doanh nghiệp sẽ tác động đến khả năng sinh lợi tương lai

của doanh nghiệp
Tobin (1969) đưa ra khái niệm q. Ý tưởng của Tobin là nếu thị trường chứng
khoán đánh giá một công ty cao hơn giá trị vật lý (physical captital) của công ty đó
thì đó là tín hiệu cho rằng công ty này có triển vọng phát triển trong tương lai. Để
định lượng giá trị này, Tobin đề xuất lấy giá trị vốn hóa thị trường chia cho chi phí
thay thế của các tài sản của công ty đó và gọi tỷ số đó là q. Khi q lớn hơn hoặc bằng
1 thì công ty sẽ đẩy mạnh đầu tư để tăng trưởng phát triển, ngược lại nếu q nhỏ hơn
1 thì công ty sẽ không thực hiện đầu tư nữa, nghĩa là bán bớt giá trị vật lý đi hoặc
giảm đầu tư xuống thấp hơn mức hấu khao để giá trị vật lý tự động giảm dần.
Theo Yoshikawa (1980), các quyết định đầu tư của doanh nghiệp dựa theo tỷ
lệ q. Nếu giá trị thị trường (được đo lường trên thị trường chứng khoán) của một
doanh nghiệp cao hơn giá trị sổ sách của doanh nghiệp đó thì đấy là tín hiệu thị trường
cho rằng doanh nghiệp này có triển vọng phát triển.
Thống kê q của Tobin phụ thuộc vào lợi nhuận hiện tại và lợi nhuận kỳ vọng
trong tương lai từ vốn hóa thị trường của doanh nghiệp. Nếu giá trị vốn biên vượt quá
chi phí vốn, doanh nghiệp sẽ thu được lợi nhuận trên vốn hóa thị trường và ngược lại.
Đây là phương pháp để xem xét hiệu quả đầu tư dựa trên sự phản chiếu của lợi nhuận
kỳ vọng trong tương lai cũng như lợi nhuận hiện tại. Lý thuyết q của Tobin nhấn
mạnh rằng, các quyết định đầu tư không chỉ phụ thuộc vào các chính sách kinh tế
hiện hành mà còn phụ thuộc vào kỳ vọng chính sách trong tương lai.
Do đó, điểm khác biệt và là ưu điểm đặc biệt của mô hình q của Tobin là đo
lường độ nhạy của vốn đầu tư được phản ánh bởi kỳ vọng vào lợi nhuận tương lai
dựa trên giá trị lợi nhuận hiện tại.
Theo Mayer (2003), nhiều nghiên cứu trước đây về đầu tư cho thấy cái nhìn
sâu sắc về mô hình Tobin q của đầu tư. Một công ty sẽ muốn đầu tư nếu giá thị trường


9

của một dự án vượt quá giá trị thay thế của nó. Nếu thị trường đầu ra cạnh tranh hoàn



10

lý thường sử dụng thông tin được tiết lộ thông qua giá cổ phiếu của công ty để tìm
hiểu những người tham gia thị trường chứng khoán nghĩ gì về triển vọng tương lai
của công ty họ. Một số nghiên cứu sau đây cho thấy mối quan hệ giữa độ nhạy cảm
của đầu tư với giá cổ phiếu và lượng thông tin mà giá cổ phiếu mang lại.
2.2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới về độ nhạy cảm của đầu tư đối với
giá cổ phiếu
Chen, Goldstein và Jiang (2005) đã đánh giá rằng giá cổ phiếu và đầu tư thực
tế của một công ty có mối tương quan cao. Với mục tiêu là kiểm tra mức độ tin cậy
của giá cổ phiếu có vai trò quan trọng trong việc tạo ra mối tương quan tích cực giữa
giá cổ phiếu và đầu tư thực tế hay không, nhóm tác giả đã dựa trên hai biện pháp
thông tin khác nhau là tính không đồng bộ của giá và xác suất giao dịch được thông
báo (mã PIN). Cả hai biện pháp này tập trung vào lượng thông tin riêng biệt được
tích hợp chứa đựng trong giá cổ phiếu. Với mẫu dữ liệu gồm 7.268 công ty giai đoạn
năm 1981 đến 2001 tương ứng với 68.277 quan sát, tác giả đã thiết lập mô hình với
các biến chính như đầu tư (thể hiện qua chi tiêu vốn, tỷ lệ thay đổi trong giá trị sổ
sách của tài sản), Tobin Q, biến thông tin giá cổ phiếu và các biến kiểm soát bao gồm
tổng tài sản, dòng tiền, lợi nhuận. Kết quả đã cho thấy mối tương quan tích cực và
mạnh mẽ giữa thông tin trong giá và độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu. Giá
không chỉ đóng vai trò thụ động mà giá cả phản ánh các thông tin mà các nhà quản
lý không biết được và cung cấp những thông tin hướng dẫn cho các nhà quản lý để ra
quyết định đầu tư. Khả năng giá cả của cổ phiếu sẽ mang tính định hướng cho các
nhà quản lý trong quá trình đưa ra quyết định đầu tư của họ và điều đó có nghĩa là thị
trường tài chính ảnh hưởng đến nền kinh tế thực và thị trường tài chính có thể tăng
hiệu quả đầu tư vì đã cung cấp các thông tin có giá trị cho nhà quản lý. Bên cạnh đó,
nghiên cứu cũng đặt ra vấn đề là tính minh bạch của thị trường và việc khuyến khích
thu thập thông tin về giá cả cổ phiếu của các công ty.

đến các nhà quản lý ít phụ thuộc vào giá cổ phiếu, độ nhạy cảm của đầu tư vào giá cổ
phiếu giảm trong những môi trường có lạm phát cao. Đồng thời, ở những nước có
môi trường thông tin mạnh mẽ, tác động tiêu cực của lạm phát đến độ nhạy cảm của
đầu tư với giá cổ phiếu ít rõ rệt hơn.


12

Theo Edman, Jayaraman, Schneemeier (2017), các quyết định đầu tư không
chỉ phụ thuộc vào tổng lượng thông tin về giá mà còn phụ thuộc vào nguồn gốc thông
tin mà các nhà quản lý có được từ giá cả. Các tác giả sử dụng Tobin q để đo lường độ
nhạy cảm của đầu tư đối với tổng thông tin thể hiện trong giá cổ phiếu.
Durnev (2011) đã nghiên cứu độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu dưới
tác động của môi trường chính trị xung quanh những cuộc bầu cử. Tác giả đã thu thập
thông tin về các các quốc gia có tổ chức bầu cử. Mẫu nghiên cứu bao gồm 47.808
công ty từ 79 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1980 - 2006 tương ứng với 214.046
quan sát. Bên cạnh đó tác giả cũng đưa vào biến lạm phát như là một biến kiểm soát
để xem xét tác động của lượng thông tin trong giá cổ phiếu trong những thời kỳ diễn
ra bầu cử.
Một số nghiên cứu khác trên thế giới về độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá cổ
phiếu, tuy không đề cập sâu về yếu tố lạm phát mà nghiên cứu về những yếu tố khác
như việc niêm yết chéo của các công ty (Foucault và Frésard (2012)), văn hóa của
các quốc gia (Farooq và Amin (2016)), biến động chính trị (Durnev (2011)) … cũng
cho rằng việc tác động đến lượng thông tin hàm chứa trong giá cổ phiếu sẽ ảnh hưởng
đến độ nhạy cảm của các nhà quản lý khi đưa ra quyết định đầu tư. Hầu như phương
pháp nghiên cứu chung mà các tác giả lựa chọn khi xem xét tác động của một yếu tố
lên độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá cổ phiếu là thu thập, xử lý dữ liệu bảng, bên
cạnh biến chính đại diện cho hoạt động đầu tư, các tác giả thường sử dụng các biến
kiểm soát, các biến giả. Đồng thời các mô hình ước lượng thường được sử dụng là
FEM và REM, áp dụng cho dữ liệu bảng với số lượng các quan sát lớn.

giảm, kéo theo giá cổ phiếu giảm; Thứ hai, nếu chi phí đầu vào tăng nhưng giá sản
phẩm tăng nhanh hơn thì lợi nhuận ròng không giảm mà lại tăng, kéo theo giá cổ
phiếu tăng theo. Như vậy, có thể thấy rằng tác động của lạm phát đến các công ty
niêm yết có tính chất riêng biệt và đặc thù.
Nghiên cứu của Lê Thị Diệu (2013) về các yếu tố tác động đến quyết định đầu
tư của doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam cho rằng lạm phát
không có tác động đến đầu tư ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2006 – 2012. Bằng
phương pháp hồi quy Pooled OLS, tác giả cho rằng các yếu tố bên trong doanh nghiệp


14

như dòng tiền, đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu, quy mô công ty và tài sản
cố định có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Tóm lại, những bằng chứng thực nghiệm với các yếu tố tác động khác nhau
cho thấy giá trị thông tin trong giá cổ phiếu liên quan đến sự nhạy cảm của đầu tư vào
giá cổ phiếu. Trong đó, yếu tố lạm phát là một trong những yếu tố tác động đến lượng
thông tin hàm chứa trong giá cổ phiếu, ảnh hưởng đến độ nhạy cảm của đầu tư với
giá cổ phiếu, đặc biệt là các nước ở thị trường mới nổi.
Như vậy, các nghiên cứu trước đây liên quan đến độ nhạy cảm đầu tư vào giá
cổ phiếu của công ty dựa trên các mẫu dữ liệu bảng, với số lượng quan sát lớn. Các
biến chính được sử dụng thường xuyên và đặc trưng để xem xét độ nhạy cảm của đầu
tư với giá cổ phiếu là biến chi tiêu vốn, chỉ số Tobin Q. Các biến kiểm soát được sử
dụng thường gồm hai nhóm: Thứ nhất là nhóm các biến mang tính đặc trưng của công
ty như quy mô công ty (thể hiện qua logarit của tổng tài sản), tỷ lệ đòn bẩy tài chính,
doanh thu, thu nhập mỗi cổ phần… và thứ hai là nhóm các biến mang tính đặc trưng
của quốc gia như tỷ giá hối đoái, GDP, các quy định pháp luật, môi trường kinh
doanh, môi trường chính trị, văn hóa… Để xem xét sự tương tác của một yếu tố đến
độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu, các tác giả sẽ xem xét hệ số của tích số giữa
yếu tố đó với chỉ số Tobin Q.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status