BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
------------------
NGUYỄN THÚY NGA
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN
TẢI CONTAINER ĐƯỜNG BIỂN CỦA CÁC
CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÁC CÔNG
TY FORWARDER TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM
------------------
NGUYỄN THÚY NGA
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH
LỰA CHỌN NHÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ VẬN
TẢI CONTAINER ĐƯỜNG BIỂN CỦA CÁC
CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU VÀ CÁC CÔNG
TY FORWARDER TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60340102
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................... 3
1.4. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 4
1.5. Ý nghĩa đề tài ................................................................................................. 4
1.6. Kết cấu luận văn ............................................................................................. 5
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT............................................................................. 6
2.1. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng và quá trình ra quyết định lựa chọn hãng
tàu của khách hàng ................................................................................................... 6
2.1.1. Lý thuyết hành vi người tiêu dùng ............................................................ 6
2.1.2. Quá trình ra quyết định lựa chọn hãng tàu ................................................ 8
2.2. Các nghiên cứu liên quan đến việc lựa chọn hãng tàu ..................................... 9
2.3. Giả thuyết nghiên cứu .................................................................................. 15
2.4. Mô hình nghiên cứu ...................................................................................... 24
Tóm tắt chương 2 ................................................................................................... 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................ 25
3.1. Quy trình nghiên cứu .................................................................................... 25
3.2. Thiết kế nghiên cứu ...................................................................................... 26
3.2.1. Chọn mẫu ............................................................................................... 27
3.2.1.1.
Đám đông nghiên cứu ...................................................................... 27
3.2.1.2.
Phương pháp chọn mẫu ................................................................... 27
3.2.1.3.
Thang đo biến phụ thuộc “Quyết định lựa chọn hãng tàu” ............... 50
4.4. Kiểm định mô hình và giả thuyết nghiên cứu ................................................ 50
4.4.1. Phân tích tương quan.............................................................................. 51
4.4.2. Phân tích hồi quy ................................................................................... 52
4.4.3. Dò tìm sự vi phạm các giả định hồi quy ................................................. 55
4.4.4. Phân tích ảnh hưởng của các biến định tính ............................................ 57
4.4.4.1.
Giới tính .......................................................................................... 57
4.4.4.2.
Độ tuổi ............................................................................................ 57
4.4.4.3.
Thời gian hợp tác với hãng tàu ........................................................ 58
4.4.4.4.
Mức độ thường xuyên thực hiện giao dịch với hãng tàu ................... 59
4.4.4.5.
Nhóm khách hàng ............................................................................ 60
Tóm tắt chương 4 ................................................................................................... 62
Bảng 4.7: Sự khác biệt về quyết định lựa chọn hãng tàu giữa 2 nhóm khách hàng ....61
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang
Hình 2.1. Hành vi người tiêu dùng ............................................................................ 7
Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất ...................................................................... 24
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu .................................................................................. 26
Hình 4.1: Kết cấu mẫu chia theo giới tính .................................................................41
Hình 4.2: Biểu đồ kết cấu mẫu theo độ tuổi .............................................................. 42
Hình 4.3: Kết cấu mẫu theo cơ quan công tác ........................................................... 43
Hình 4.4: Biểu đồ kết cấu mẫu theo thời gian hợp tác với hãng tàu ........................... 44
Hình 4.5: Kết quả phân tích hồi quy........................................................................... 54
1
CHƯƠNG 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài
Container hóa là một yếu tố quan trọng của cuộc cách mạng trong logistic, đã
góp phần làm thay đổi diện mạo của ngành vận tải. Ngày nay, khoảng 90% hàng
hóa được đóng trong các container và được xếp lên các tàu chuyên chở thành từng
cụm. Như vậy, vận tải hàng container là xu hướng phát triển của toàn thế giới nằm
trong xu thế vận tải đa phương thức. Với những ưu điểm nổi trội nó đã phát triển
nhanh chóng những năm gần đây trong chuyên chở hàng xuất nhập khẩu và nội địa,
đặc biệt ở khu vực TP. Hồ Chí Minh. Hiện nay có rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ
vận tải container bằng đường biển hay còn gọi là hãng tàu đã xuất hiện tại thị
trường TP. Hồ Chí Minh, tạo ra nhiều sự chọn lựa cho khách hàng (chủ hàng, các
công ty logistics, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu...).
Trong bối cảnh đối thủ cạnh tranh ngày càng gia tăng, mức độ cạnh tranh ngày
với đối thủ trong ngành.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu:
-
Xác định các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ
vận tải container đường biển tại TP. Hồ Chí Minh.
-
So sánh trọng số các yếu tố tác động có sự khác nhau hay không giữa 2
nhóm khách hàng là các công ty Xuất nhập khẩu và các công ty Forwarder/
Logistics.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp giúp các hãng tàu đưa ra
các chiến lược kinh doanh nhằm duy trì khách hàng hiện có, thu hút thêm nhiều
khách hàng mới, mở rộng thị phần, tăng doanh số và lợi nhuận.
3
Đề tài thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu như sau:
-
Các yếu tố nào tác động đến việc quyết định lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ
vận tải container đường biển tại TP. Hồ Chí Minh của khách hàng nói
chung?
-
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để xác định
các yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn hãng tàu tại TP. Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp định tính với Phiếu thăm
dò ý kiến nhằm xác định các yếu tác động đến quyết định lựa chọn hãng tàu tại TP.
Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu chính thức được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định
lượng. Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng để đo lường giá trị các biến số. Mẫu
nghiên cứu được lấy theo phương pháp thuận tiện, phi xác suất.
Luận văn sử dụng thống kê suy diễn phân tích kết quả thu thập được từ mẫu.
Cronbach’s alpha được dùng để xác định độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố
EFA được dùng để xác định độ phân biệt và hội tụ của thang đo, cuối cùng hồi quy
tuyến tính được sử dụng để xác định các nhân tố thực sự có ảnh hưởng đến quyết
định lựa chọn hãng tàu cũng như trọng số của các nhân tố này trong phương trình
hồi quy tuyến tính.
1.5. Ý nghĩa đề tài
Đề tài có một số ý nghĩa như sau:
Về mặt lý thuyết, đề tài nghiên cứu sẽ cung cấp một bức tranh toàn cảnh về các
yếu tố tác động đến quyết định lựa chọn hãng tàu tại TP. Hồ Chí Minh, đóng góp
vào nguồn tài liệu học thuật để tham khảo về quyết định lựa chọn hãng tàu được đa
dạng và phong phú hơn.
Về mặt thực tiễn, giúp cho các nhà cung cấp dịch vụ vận tải container bằng
đường biển nắm rõ hơn về các yếu tố tác động đến quyết định tiêu dùng của khách
hàng đối với dịch vụ của họ. Điều này sẽ góp phần tạo cơ sở cho việc hoạch định
các chiến lược marketing trên thị trường hiệu quả hơn để tăng khả năng cạnh tranh.
5
Hành vi người tiêu dùng là tổng thể các quyết định của người tiêu dùng đối với
việc thu nhận, tiêu dùng, loại bỏ hàng hoá, bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hoạt động
và ý tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định (con người) theo thời gian. (Nguyễn Xuân
Lãn và cộng sự, 2011) (Xem hình 2.1)
Lý thuyết hành vi người tiêu dùng đề cập đến các quyết định hợp lý của người
tiêu dùng thông qua việc phân phối ngân sách tiêu dùng của mình cho các loại
hàng hoá để tối đa hoá sự thoả mãn và lợi ích.
Việc nghiên cứu hành vi khách hàng là một phần quan trọng trong nghiên cứu
kinh tế học với mục đích tìm hiểu xem bằng cách nào và tại sao khách hàng mua
(hoặc không mua) các sản phẩm và dịch vụ, và quá trình mua sắm của khách hàng
diễn ra như thế nào.
Nghiên cứu hành vi tiêu dùng là việc thiết yếu để hoạch định các chiến lược và
chiến thuật marketing. Khách hàng được đặt ở vị trí trung tâm của họat động
marketing. Một trong những nguyên tắc quan trọng của sản xuất kinh doanh là phải
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Vì vậy, nghiên cứu hành vi mua của khách hàng
sẽ góp phần thành công trong kinh doanh của doanh nghiệp.
7
Tồng thể các
quyết định
Sản phẩm
Dịch vụ
Hoạt động
Ý tưởng
Người thu thập
thông tin
Người ảnh hưởng
Người quyết định
Người mua
Người sử dụng
Các chiến lược và chiến thuật Marketing
-
Phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường
mục tiêu
Định vị sản phẩm thương hiệu
Marketing - mix
Hình 2.1. Hành vi người tiêu dùng
(Nguồn: Nguyễn Xuân Lãn và cộng sự, 2011, Hành vi người tiêu dùng, trang 54)
hoá. Đó là, hàng hoá cần được chuyên chở bằng tàu rời (charter) hay tàu
container – tàu chợ (liner), trên thị trường có những hãng tàu nào chuyên
tuyến vận chuyển đến cảng đích của hợp đồng, v.v… Những thông tin
này khách hàng có thể có được dựa vào kinh nghiệm của bản thân, hoặc
có thể tìm được trên các tạp chí về hàng hải, trên internet hoặc thông qua
giới thiệu của bạn bè.
Đánh giá các lựa chọn thay thế: Mỗi khách hàng có những tiêu chuẩn
đánh giá khác nhau dựa trên những thông tin thu thập được. Tầm quan
trọng của mỗi tiêu chuẩn cũng khác nhau cho từng nhóm đối tượng
khách hàng. Các tiêu chuẩn đánh giá có thể là các yếu tố hữu hình (giá
cả, container) lẫn các yếu tố vô hình (hình ảnh, vị thế, cảm xúc). Từ
danh sách những hãng tàu đáp ứng được các tiêu chuẩn của mình, khách
hàng tiến hành đánh giá các phương án lựa chọn dựa trên mỗi tiêu chuẩn
đánh giá.
9
Quyết định mua: Sau khi đánh giá, khách hàng quyết định lựa chọn
phương án tối ưu nhất là hãng tàu đáp ứng được nhiều nhất các tiêu
chuẩn đánh giá, tiến hành kí kết hợp đồng vận chuyển với nhà cung cấp
dịch vụ. Tuy nhiên, cũng có trường hợp quyết định mua được đưa ra theo
thói quen, không đòi hỏi bất kì đánh giá nào (mua lặp lại hay mua trung
thành không xem xét đến các thông tin khác).
Các hành vi sau mua: Đó là thái độ của khách hàng cảm thấy hài lòng
hoặc bất mãn về dịch vụ mình đã mua. Nếu hài lòng, khách hàng có thể
sẽ sử dụng nhà cung cấp đó cho lần sử dụng sau, giới thiệu cho bạn bè,
v.v… Nếu không hài lòng, khách hàng có thể phản ứng bằng các hành vi
như viết thư khiếu nại, khiếu kiện ra toà đòi bồi thường thiệt hại, ngưng
không mua dịch vụ của nhà cung cấp đó nữa, nói cho nhiều người khác
-
Nhóm nhân tố về giá: giá cước vận chuyển thấp, các chương trình giảm giá,
mối quan hệ giữa chi phí thực tế so với chi phí dự tính.
-
Nhóm nhân tố về thời gian: thời gian vận chuyển ngắn, mức độ tin cậy của
thời gian giao hàng, có nhiều chuyến tàu khởi hành trong tuần.
-
Nhóm nhân tố về độ an toàn: mức độ tổn thất, hư hỏng hàng hóa thấp, khả
năng điều phối hàng hóa ở cảng trung chuyển, kiểm soát được thời gian giao
hàng, kiến thức về cầu cảng.
-
Nhóm nhân tố về dịch vụ: mối quan hệ hợp tác với hãng tàu, khả năng đáp
ứng vận chuyển những lô hàng đặc biệt, sẵn sàng đáp ứng việc giao hàng
gấp.
Trong bốn nhóm trên, nhóm nhân tố về giá được đánh giá là quan trọng hơn so
với các nhóm khác, ngay cả đối với những mặt hàng có giá trị cao cũng chỉ có 50%
các nhà xuất khẩu cho rằng nhóm nhân tố về thời gian quan trọng hơn giá cả. Điều
này được Pedersen và cộng sự giải thích là do hai nguyên nhân chính. Thứ nhất, Na
Uy là quốc gia có mức chi phí cao do đặc điểm địa lý, khoảng cách vận chuyển và
sự hạn chế của cạnh tranh nội địa. Thứ hai, các mặt hàng xuất khẩu chính của Na
Uy là nguyên liệu thô, đây là mặt hàng nhạy cảm về giá. Từ đó dẫn đến nhóm nhân
tố về giá được xem là quan trọng nhất khi các nhà xuất khẩu lựa chọn hãng tàu.
đánh giá các tiêu chí lựa chọn theo thứ tự quan trọng nhất là chứng từ chính xác, độ
tin cậy của lịch trình tàu chạy được đưa ra, khả năng nhận hàng hóa và trả lời khiếu
nại nhanh chóng. Sự khác biệt này đòi hỏi những nhà cung cấp dịch vụ vận tải phải
12
xem xét và thay đổi chiến lược kinh doanh cho phù hợp với nhu cầu của khách
hàng, vì theo quan điểm của marketing là “bán cái khách hàng cần chứ không phải
bán cái mình có sẵn”.
Premeaux (2007) cũng nghiên cứu sự khác biệt giữa chủ hàng và hãng tàu khi
đánh giá mức độ quan trọng của các tiêu chí lựa chọn dịch vụ vận chuyển tại thị
trường Mỹ. Với 36 tiêu chí đánh giá, có đến 9 tiêu chí khác nhau, trong đó 5 tiêu chí
được khách hàng đánh giá quan trọng hơn và 4 tiêu chí còn lại được đánh giá cao
hơn bởi hãng tàu. Trong khi khách hàng quan tâm nhiều đến các yếu tố phản ứng
của hãng tàu đối với các trường hợp khẩn cấp hoặc các trường hợp không mong đợi,
dữ liệu điện tử, giá cước linh hoạt, thông tin cung cấp cho khách hàng, dịch vụ tra
cứu thông tin qua internet, thì hãng tàu lại đánh giá cao các yếu tố danh tiếng của
hãng tàu, sự hợp tác giữa hãng tàu và khách hàng, kiến thức của nhân viên kinh
doanh về nhu cầu của khách hàng và kết quả hoạt động trong quá khứ của hãng tàu.
Khi có sự khác biệt về các tiêu chí lựa chọn, thì sẽ dẫn đến một khoảng cách về mức
độ hài lòng giữa dịch vụ được cung cấp bởi hãng tàu và sự mong đợi của khách
hàng về dịch vụ đó (Wong, 2007).
Wong, P. C. C (2007) thực hiện nghiên cứu tại các tỉnh phía nam Trung Quốc
về các yếu tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn phương thức vận tải và lựa chọn nhà
cung cấp dịch vụ vận chuyển. Luận án Tiến sĩ này của Wong được thực hiện trong 5
năm từ năm 2002 đến năm 2007. Dữ liệu phân tích được thu thập thông qua bảng
câu hỏi khảo sát với 82 câu hỏi, và số lượng mẫu lên đến 1100 mẫu. Sau khi phân
tích nhân tố EFA để loại bớt những biến không phù hợp và nhóm các biến lại thành
những nhóm nhân tố chung, Wong sử dụng phương pháp so sánh cặp AHP
Địa điểm của hàng hóa cần vận chuyển
-
Danh tiếng của khách hàng: nhân tố này thể hiện danh tiếng của khách hàng
dưới góc nhìn của văn phòng Hải quan, như là doanh nghiệp có đáng tin cậy
không, hàng hóa của doanh nghiệp này có bị kiểm định thường xuyên hay
không, v.v..
-
Mối quan hệ với Hải quan
Kết quả phân tích AHP cho thấy đối với những mặt hàng nhạy cảm về thời gian
thì khách hàng ưu tiên chọn phương thức vận chuyển bằng xe tải (Truck). Còn đối
với phương thức vận chuyển bằng sà lan (Barge), yếu tố về mức độ thường xuyên
của số chuyến khởi hành trong tuần lại được khách hàng quan tâm hàng đầu. Cuối
cùng, những lô hàng nặng hoặc hàng với số lượng lớn thì lại được vận chuyển bằng
tàu lửa (Rail) nhiều hơn.
Barthel et al. (2010) đã tổng kết các yếu tố tác động đến việc lựa chọn hãng tàu
dựa trên 27 nghiên cứu được công bố từ sau năm 1990 đến năm 2009 tại thị trường
châu Âu. Kết quả tổng kết cho thấy các nhân tố cốt lõi tác động đến việc lựa chọn
dịch vụ vận tải gồm chi phí, thời gian vận chuyển, độ tin cậy và chất lượng vận
chuyển. Trong đó, chi phí vận chuyển được đánh giá là quan trọng nhất trong số các
14
nhân tố trên. Nhân tố chất lượng và các yếu tố liên quan đến chất lượng vận tải cũng
15
và thời gian vận chuyển nếu tăng thì sẽ làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận, ngược
lại, nhân tố không có tổn thất và sự đúng giờ nếu được cải thiện thì lại làm giảm chi
phí, từ đo tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
2.3. Giả thuyết nghiên cứu
Quá trình lựa chọn nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hóa là một quá trình
tương đối phức tạp bao gồm nhiều bên tham gia tác động qua lại lẫn nhau để đưa ra
quyết định lựa chọn dựa vào thái độ, nhận thức, việc thu thập và phân tích thông tin
(Barthel et al., 2010). Các bên tham gia gồm có người gửi hàng, người nhận hàng,
người vận chuyển, người cung cấp dịch vụ logistics/forwarder, và các bên trung
gian khác nếu có.
Khách hàng lựa chọn hãng tàu nhằm mục đích tối thiểu hóa chi phí sản xuất và
phân phối, đồng thời tối đa hóa lợi ích của họ (Rotaris et al., 2012), từ đó nâng cao
hiệu quả trong toàn bộ chuỗi cung ứng. Kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả đi
trước đã cho thấy hầu hết các tiêu chí để khách hàng lựa chọn hãng tàu đều có liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến yếu tố chi phí chuỗi cung ứng.
Chi phí vận chuyển (Transportation Cost)
Chi phí vận chuyển bao gồm tiền cước phí vận chuyển và các phụ phí kèm theo
cước. Theo Luật Hàng hải Việt Nam (2005), cước vận chuyển là tiền công trả cho
người vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển. Phụ phí
cước biển là các khoản phí tính thêm vào cước biển trong biểu giá của hãng tàu hay
của công hội. Mục đích của các khoản phụ phí này là để bù đắp cho hãng tàu những
chi phí phát sinh thêm hay doanh thu giảm đi do những nguyên nhân cụ thể nào đó
(như giá nhiên liệu thay đổi, bùng phát chiến tranh…). Các phụ phí này thường thay
đổi, và trong một số trường hợp, các thông báo phụ phí mới hãng tàu cung cấp cho
người gửi hàng trong thời gian rất ngắn trước khi áp dụng.
17
Thời gian vận chuyển có ảnh hưởng đến tổng chi phí logistics và cũng được đề
cập đến trong nhiều nghiên cứu. Theo khung giá logistics của Tyworth và Zeng
(1998), tổng chi phí logistics bao gồm chi phí vận chuyển, chi phí cho việc dự trữ
hàng trong kho, chi phí do thiếu hụt hàng hóa và chi phí dự trữ trong quá trình vận
chuyển hàng hóa, theo đó thời gian vận chuyển có tác động trực tiếp đến chi phí dự
trữ hàng trong quá trình vận chuyển (in-travel storage cost). Sự tác động này càng
có ý nghĩa quan trọng đối với những lô hàng có khoảng cách vận chuyển ngắn.
Bergkvist (2001) chỉ ra rằng việc giảm một giờ thời gian vận chuyển rất quan trọng
nếu thời gian vận chuyển là rất ngắn, nhưng lại có thể ít quan trọng nếu thời gian
vận chuyển dài hơn. Bergkvist (2001) còn bổ sung thêm rằng thời gian giao hàng
nhanh hơn có thể làm giảm việc chậm thanh toán, tăng lợi nhuận, và làm giảm lãi
suất vay vốn.1
Thời gian vận chuyển được xác định là một trong những yếu tố quan trọng nhất
ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hãng tàu trong các nghiên cứu của Wong
(2007), Danielis và Marcucci (2007), Kofteci et al. (2010), Rotaris et al. (2012).
Cùng một cảng xuất và đến cùng một cảng đích, khách hàng ưu tiên chọn hãng tàu
nào có thời gian vận chuyển ngắn hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Golias và
Yannis (1998) lại cho thấy thời gian vận chuyển có mức độ quan trọng kém hơn so
với cước phí vận chuyển. Khách hàng không muốn trả thêm tiền để được giảm thời
gian vận chuyển, nhưng lại sẵn sàng chấp nhận thời gian vận chuyển dài hơn để
được hưởng cước phí vận chuyển thấp 2.
Từ đó, giả thuyết thứ hai được đưa ra như sau:
H2: Thời gian vận chuyển có tác động dương đến quyết định lựa chọn nhà cung
cấp dịch vụ vận tải container đường biển tại TP. Hồ Chí Minh.
1