MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TÀI SẢN VÔ HÌNH TRONG DOANH NGHIỆP - Pdf 67

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TÀI SẢN
VÔ HÌNH TRONG DOANH NGHIỆP
I. Khái niệm về đầu tư, đầu tư vào tài sản vô hình
1. Khái niệm về đầu tư.
1.1 Khái niệm về đầu tư
Đầu tư là một trong những hoạt động quan trọng nhất của nền kinh tế. Nó là một
thành tố không thể thiếu được trong nền sản xuất. Nó cũng là mối quan tâm của bất kỳ
doanh nghiệp nào muốn gia tăng lợi nhuận; bất kỳ cá nhân, gia đình nào muốn gia
tăng thu nhập, đời sống vật chất và tinh thần. Vậy đầu tư là gì?
Có khá nhiều khái niệm về đầu tư được các nhà kinh tế học đưa ra. P.A.
Samuelson cho rằng, đầu tư là hoạt động tạo ra tư bản thực sự. Đầu tư có thể
dưới dạng vô hình như đầu tư cho giáo dục nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực, nghiên cứu phát minh. Theo ông, trong lĩnh vực tài chính, đầu tư có ý nghĩa
hoàn toàn khác. Còn theo Pierce Conso, đầu tư có thể xem xét theo cách tiếp
cận khác nhau như theo quan điểm kinh tế, tài chính và kế toán. Theo cuốn “từ
điển kinh tế”, đầu tư bao gồm đầu tư tài chính và đầu tư tài sản vật chất. Đầu tư
tài sản vật chất là hoạt động chi dùng vốn vào việc mua sắm các tài sản vật chất
như nhà xưởng, máy móc thiết bị (tài sản cố định) và các tài sản tồn trữ (hàng
tồn kho). Đầu tư tài sản vật chất tạo ra những tài sản mới cho nền kinh tế, trong
khi đầu tư tài chính chỉ thuần túy là việc chuyển quyền sở hữu những tài sản
hiện có từ chủ này sang chủ khác.
Có thể thấy khái niệm đầu tư được hiểu khá rộng. Theo nghĩa rộng, đầu tư
có thể hiểu là sự hy sinh nguồn lực hiện tại để đạt được một hay tập hợp mục
đích (mục tiêu) của nhà đầu tư trong tương lai. Theo khái niệm này, đầu tư là
khoản chi trong hiện tại, bao trùm nhiều lĩnh vực như đầu tư tài chính, đầu tư
thương mại, đầu tư tài sản vật chất và phi vật chất…nhiều cấp độ như cấp độ
nền kinh tế, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các cá nhân. Do đó, mục tiêu
của đầu tư cũng được hiểu là đa lĩnh vực như mục tiêu chính trị, kinh tế, văn
hóa – xã hội và cũng có thể là một mục tiêu nhân đạo đơn thuần… của chủ đầu
tư.
Theo nghĩa hẹp, đầu tư là việc chi dùng vốn và các nguồn lực khác trong

chính, đầu tư thương mại, đầu tư phát triển.
1.3. Đặc điểm của đầu tư phát triển.
Hoạt động đầu tư phát triển có 5 đặc điểm chủ yếu sau:
Quy mô tiền vốn, vật tư, lao động cần thiết cho hoạt động đầu tư phát
triển thường rất lớn. Đầu tư phát triển là một hoạt động quan trọng của nền
kinh tế. Nó là một bộ phận của tăng trưởng kinh tế. Khi quy mô đầu tư tăng, nó
tạo đà cho kinh tế tăng trưởng. Vậy nguồn lực để thực hiện đầu tư phát triển là
từ đâu? Đó là vốn. Bản chất đầu tư phát triển được thể hiện ở vốn. Vậy vì sao
cần phải có một nguồn vốn lớn dành cho đầu tư phát triển?
Vốn đầu tư phát triển là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những chi phí đã chi ra
để tạo năng lực sản xuất (tăng thêm tài sản cố định và tài sản lưu động) và các
hoạt động đầu tư khác. Nguồn vốn này dùng để chi cho đầu tư xây dựng cơ bản,
chi bổ sung cho các hoạt động đầu tư phát triển. Trong đó, chi xây dựng cơ bản
đóng vai trò quan trọng nhất. Nó là nguồn để xây dựng mới, mở rộng, xây dựng
lại, hoặc khôi phục năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nền kinh tế quốc
dân. Ví dụ như tạo thêm những công trình nhà máy, dây chuyền sản xuất, thiết
bị máy móc mới, diện tích khai hoang, trồng rừng; những công trình thuỷ lợi,
giao thông vận tải, truyền thông bưu điện; hay như sửa chữa, nâng cấp cầu
đường, mua sắm, xây dựng lắp đặt trang thiết bị. Việc chi vốn này đẩy mạnh
hoạt động sản xuất của cả nền kinh tế. Chính vì vậy, nguồn vốn cần thiết cho
hoạt động này rất lớn. Thực tế, nó chiếm trên 80% tổng vốn đầu tư phát triển
của một nước đang phát triển như Việt Nam. Ngoài ra còn có nguồn vốn chi bổ
sung. Đó là các khoản đầu tư dùng để mua sắm nguyên vật liệu, thuê mướn lao
động. Nguồn vốn này dùng để vận hành các công trình xây dựng cơ bản làm gia
tăng tài sản quốc gia.
Vốn chi cho đầu tư phát triển khác bao gồm tất cả các khoản đầu tư nhằm
gia tăng năng lực sản xuất của xã hội: trình độ dân trí, trình độ lao động, chất
lượng môi trường. Cụ thể chi cho các công trình vì sức khỏe cộng đồng, phòng
chống tệ nạn xã hội, giáo dục, y tế. Các nguồn vốn này đều vì sự tăng trưởng và
phát triển ổn định của một quốc gia. Để đưa nền kinh tế tăng trưởng nhanh

Thời gian vận hành các kết quả đầu tư thường kéo dài. Thời gian vận
hành các kết quả đầu tư được tính từ khi công trình đưa vào hoạt động cho đến
khi hết thời hạn sử dụng và đào thải công trình. Đây là một đặc điểm rất riêng
của đầu tư phát triển. Thứ nhất, những sản phẩm của đầu tư phát triển đều là bộ
phận của nền sản xuất. Nó tạo ra của cải vật chất cho xã hội, tạo đà tăng trưởng
cho nền kinh tế, nên thời gian sử dụng dài. Thứ hai, quy mô của các công trình
rất lớn, nên cần có một khoảng thời gian tương đối để thu hồi vốn và có lợi
nhuận. Trên thực tế có rất nhiều công trình đã tồn tại vài chục năm, hàng trăm
năm, thậm chí hàng thế kỷ như thủy điện sông Đà, cầu Long Biên, phố cổ Hội
An.... Do tính chất này, nên trong suốt quá trình vận hành, nó chịu ảnh hưởng
nhiều của các nhân tố bên ngoài, và đa phần là có ảnh hưởng tiêu cực đến sự
thành công của dự án.
Các nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng lớn đến quá trình thực
hiện và vận hành kết quả đầu tư, nhất là đối với các công trình xây dựng. Các
công trình xây dựng nói chung thường có quy mô lớn và phát huy tác dụng ngay
tại địa phương xây dựng. Do vậy quá trình đầu tư cũng như thời gian vận hành
các công trình này chịu nhiều tác động của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội
của vùng. Xây dựng một công trình ở nơi có khí hậu nhiệt đới gió mùa khác với
xây dựng ở vùng hanh khô, hay xây dựng công trình ở nơi có địa chất ổn định
khác với xây dựng ở nơi hay xảy ra động đất. Do vậy nhà đầu tư cần có tính
toán hợp lý vừa để đảm bảo tính kiên cố của công trình, vừa có thể giảm được
chi phí cho doanh nghiệp. Tiếp đến, sự phát triển kinh tế của vùng có ảnh hưởng
rất lớn đến quyết định đầu tư và quy mô của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng đến
việc mặt hàng của doanh nghiệp có khả năng phát triển trong điều kiện kinh tế
vùng hay không? Lấy ví dụ về việc mở con đường ở nông thôn - kinh tế còn hạn
chế - và ở thành phố - kinh tế phát triển. Ở nông thôn liệu nhu cầu đi lại đã đủ
lớn để xây dựng con đường đó chưa? Nếu như nó được xây dựng có cần thiết
phải xây con đường lớn không? Điều này buộc nhà đầu tư phải cân nhắc. Ngược
lại ở thành phố, nhu cầu giao thông rất lớn, cần phải mở thêm đường để giảm
bớt lưu lượng xe trên nhũng con đường khác, tránh ùn tắc... Điều kiện xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status