1
GIẢI PHÁP SỬ DỤNG MARKETING NHẰM NÂNG CAO
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HÀ NỘI
3.1. Dự báo xu hướng sử dụng Marketing trong nâng cao năng lực cạnh tranh
của các Ngân hàng trên thị trường Ngân Hàng Việt Nam
Đến năm 2010, về cơ bản Việt Nam đã hoàn thành việc cơ cấu lại các NHTM. Năng lực
cạnh tranh của các NHTM Việt Nam đã được nâng lên rõ rệt và cạnh tranh bình đẳng với các
ngân hàng nước ngoài. Các hệ số an toàn và tiêu chuẩn quản trị hoạt động NH cơ bản đáp ứng
được các chuẩn mực quốc tế, công nghệ thông tin được xây dựng hiện đại đáp ứng tốt cho các
yêu cầu phát triển đa dạng các sản phẩm dịch vụ NH. Các NHTM nhà nước sau khi được cơ
cấu lại phát triển thành các tập đoàn tài chính đa sở hữu có tầm cỡ trong khu vực. Trong giai
đoạn này, thị trường chứng khoán đã phát triển ở trình độ cao hơn và trở thành một kênh huy
động vốn dài hạn quan trọng của nền kinh tế. Thị trường tín dụng của các NHTM được thu hẹp
dần.
Sức nóng cạnh tranh đang ngày càng tăng lên trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở Việt
Nam. Đặc biệt là trong năm tới, khi các ngân hàng ngoại có thể cạnh tranh trực tiếp với các
ngân hàng nội, thay vì hoạt động bó hẹp khi còn là một chi nhánh của ngân hàng mẹ ở nước
ngoài.Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, quy mô vốn của các ngân hàng Việt
Nam hiện vẫn còn nhỏ, ngay cả ngân hàng có quy mô vốn lớn nhất Việt Nam là Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn (Agribank) cũng mới chỉ là 650 triệu USD (11.000 tỷ đồng), vẫn thấp so
với các nước trong khu vực. Bên cạnh đó, tâm lý chuộng ngoại của người Việt Nam cũng là
một trong những khó khăn của ngân hàng nội. Chi nhánh của Ngân hàng ANZ tại phố Lý Thái
Tổ (Hà Nội), mặc dù là điểm giao dịch nhỏ nhưng vẫn có rất nhiều khách hàng người Việt giao
dịch. Bởi nhu cầu của nhiều người Việt Nam hiện nay không chỉ bó hẹp trong phạm vi sử dụng
các dịch vụ thanh toán tại Việt Nam mà còn sử dụng những dịch vụ thanh toán quốc tế, điều
này thì những ngân hàng Việt Nam chưa thực sự thuận tiện.
Cạnh tranh giữa ngân hàng nội và ngoại là xu thế tất yếu. Có thể, trong năm 2009 các
ngân hàng ngoại chưa thể áp đảo ngay được các ngân hàng Việt Nam vì họ chưa quen khách
hàng, hệ thống pháp luật Việt Nam nhưng nếu trong tương lai dài hạn, các ngân hàng nội không
tự củng cố tiềm lực hoặc tìm ra cho mình những hướng phát triển riêng thì có thể phải chịu
hành chứng chỉ tiền gửi VNĐ ngắn hạn...
- Qua cơn bão tài chính Mỹ vừa qua và các chính sách thắt chặt tiền tệ của chính phủ
và ngân hàng trung ương làm các ngân hàng nhỏ điêu đứng và sang năm 2009 này các
ngân hàng nhỏ, lẻ, yếu kém sẽ bị sáp nhập. Sự sáp nhập này có các điều lợi sau:
•
Củng cố hệ thống ngân hàng trong nước.
•
Việc quản lý vĩ mô của chính phủ qua các ngân hàng sẽ dễ dàng hơn vì có ít các ngân
hàng để quản lý hơn.
•
Tạo sức mạnh mới cho các ngân hàng sáp nhập, mở rộng về quy mô và tầm hoạt động.
- Các dịch vụ ngân hàng sẽ được củng cố, các ngân hàng sẽ chú trọng đến mảng bán
lẻ hơn. Trong số đó, các dịch vụ cho vay chứng khoán, mua vàng, hay mua bất động sản
sẽ được chú trọng và phát triển nhiều hơn. Bên cạnh đó sẽ có các dịch vụ chăm sóc
khách hàng cá nhân tốt hơn. Mảng bán lẽ này sang năm 2009 sẽ là mảng đấu tranh quyết
liệt nhất giữa các ngân hàng thương mại với nhau. Sẽ có hàng loạt các dịch vụ mới được
tung ra khi các mảng đầu tư lớn đang ẩn chứa nhiều rủi ro cao.
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
3
3.2. Định hướng, chỉ tiêu hoạt động Kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn Hà Nội
3.2.1. Định hướng
Năm 2009, NHNo Hà nội phấn đấu đạt các chỉ tiêu cơ bản theo thông báo
KHKD và Đề án phát triển kinh doanh giai đoạn 2006-2010 của NHNo Việt Nam phê
duyệt và định hướng phát triển kinh doanh của NH No Hà Nội đề ra đó là:
Một là: Tập trung tìm mọi giải pháp huy động nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn
huy động từ dân cư, các TCKT và tổ chức xã hội khác. Chú trọng huy động nguồn vốn
trung và dài hạn cả nội và ngoại tệ.
Hai là: Tập trung khai thác và mở rộng cho vay các thành phần kinh tế hoạt
động kinh doanh có hiệu quả, dự án khả thi, tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng đầy
- Tiếp tục đào tạo, đào tạo lại toàn diện các mặt nghiệp vụ, đặc biệt là ngoại ngữ
và tin học..
3.3. Giải pháp sử dụng Marketing nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân
hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội
3.3.1. Nâng cao nhận thức của Ngân hàng về tầm quan trọng của hoạt động
Marketing trong nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng
Sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức kinh tế lớn nhất thế giới WTO là sự kiện
quan trọng làm cho môi trường hoạt động kinh doanh nước ta thay đổi.Trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng, những cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO đã làm cho các
điều kiện kinh doanh, môi trường pháp lý ở lĩnh vực này thay đổi mạnh mẽ, đòi hỏi
Ngân hàng thương mại quốc doanh phải đổi mới để giữ thị trường, đặc biệt trong công
tác tiếp thị Marketing là rất quan trọng.
Hiện nay các ngân hàng đã nhận thấy rõ vai trò của hoạt động Marketing và đã có
những biện pháp để ứng dụng nó nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động này. Tuy vậy công
tác Marketing còn hạn chế, chưa có chiến lược rõ ràng. Như vậy việc cần làm ngay của
AGRIBANK Hà Nội là phải thấy rõ được rằng hoạt động Marketing là phải thường
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
5
xuyên, liên tục, đó là hoạt động của mọi cán bộ nhân viên trong toàn ngân hàng chứ
không phải riêng lẻ của 1 bộ phận nào. Cần đầu tư thích đáng cho hoạt động Marketing,
vận dụng có chọn lọc kinh nghiệm của các ngân hàng trên thế giới cũng như ở Việt Nam
sao cho phù hợp với điều kiện của mình. Bộ phận Marketing phải xây dựng được những
chiến lược rõ ràng và đưa ra những biện pháp kịp thời để tránh bị tụt hậu so với các
ngân hàng khác, nhất là trong xu thế hội nhập về kinh tế toàn cầu như hiện nay.
Các bộ phận trong phòng Marketing đều đảm nhận 1 nhiện vụ cụ thể, không có
sự trùng lặp giữa các bộ phận khác nhau. Nhưng các bộ phận lại có mối liên quan chặt
chẽ với nhau. Ví dụ khi bộ phận nghiên cứu đưa ra sản phẩm dịch vụ mới thông qua bộ
phận tuyên truyền quảng cáo để giới thiệu sản phẩm đó ra ngoài, trong cả quá trình bộ
phận kiểm tra theo dõi tình hình để đưa ra những kết luận sát thực, để sản phẩm dịch vụ
mới có thể tiếp xúc với khách hàng 1 cách nhanh nhất, công việc còn lại sẽ thuộc về bộ
lược Marketing.
Cần thành lập một bộ phận riêng nằm trong phòng Marketing chịu trách nhiệm
về hệ thông tin Marketing nhằm làm chuyên nghiệp hoá hệ thống thông tin Marketing.
Bộ phận này có thể cấu trúc như sau:
Bảng 3.2.
Bộ phận phụ trách về hệ thống thông tin Marketing
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
7
Người phụ trách thu thập thông tin bên
ngoài
Người phụ trách
thu thập thông tin nội bộ
Người phân tích hỗ trợ ra quyết định Marketing
Việc tuyển chọn nhân sự cho bộ phận này đòi hỏi là những người vừa có kiến
thức về Marketing và vừa có kiến thức nhất định về ngân hàng. Ngoài ra, những người
này còn phải có một số kỹ năng nhất định như: kỹ năng phân tích tổng hợp, kỹ năng
phán đoán…
Một hệ thống thông tin hoàn hảo phải đảm bảo cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp
thời những loại thông tin sau: thứ nhất, phân tích đánh giá môi trường Marketing từ đó
dự đoán được những cơ hội cũng như những nguy cơ đối với hoạt động Marketing ngân
hàng; thứ hai, phân tích đánh giá đối thủ cạnh tranh. Dự đoán các đòn tấn công, phản
công của đối thủ cạnh tranh; thứ ba, phân tích đánh giá thái độ, hành vi của khách hàng
của cả ngân hàng mình và ngân hàng đối thủ; thứ tư, phân tích đánh giá những điểm
mạnh, điểm yếu của chính ngân hàng mình từ đó dự đoán năng lực cạnh tranh của ngân
hàng mình so với các ngân hàng khác trên cùng địa bàn.
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
8
3.3.3. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường mở cửa hội nhập quốc tế, các sản phẩm
quản lý kế cận, cần chọn ra những người có đủ năng lực, tiến hành đào tạo theo hình
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
9
thức luân chuyển để có được những nhà lãnh đạo xứng đáng đủ năng lực đảm nhiệm
công việc. Công tác này giúp cho ngân hàng tránh được tình trạng thừa nhân viên nhưng
lại thiếu cán bộ quản lý.
* Một vấn đề cần chú trọng nữa là xây dựng đội ngũ nhân viên tư vấn bán
hàng nhiệt tình năng động tại các phòng giao dịch của AGRIBANK Hà Nội
Đội ngũ nhân viên này có nhiệm vụ giới thiệu các sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng mình tới khách hàng, thăm dò nhu cầu của khách hàng, tiếp nhận và xử lý các thắc
mắc và những lời phàn nàn từ phía khách hàng hoặc gửi về các phòng ban chức năng để
xử lý;
Ngoài nhiệm vụ tư vấn, đội ngũ này còn có một nhiệm vụ khác không kém phần
quan trọng đó là bán hàng, trong đầu họ thuộc lòng hầu như toàn bộ các sản phẩm dịch
của ngân hàng. Thông qua quá trình tư vấn, nhân viên bán hàng có thể biết được một số
thông tin về khách hàng, đồng thời phát hiện ra các nhu cầu tiềm ẩn khác của khách
hàng. Nhiệm vụ của họ là phải khêu gợi các nhu cầu đó của khách hàng và bán các sản
phẩm dịch vụ thích hợp nhằm thoả mãn các nhu cầu đó của khách hàng. Trong kinh
doanh, người ta gọi công việc bán thêm các sản phẩm dịch vụ khác kèm theo, hoặc
thông qua việc bán dịch vụ ban đầu là kỹ thuật bán chéo.
Để bán chéo thành công, thì đội ngũ nhân viên bán hàng phải xây dựng mối quan
hệ tốt với khách hàng bằng cách thường xuyên thăm hỏi khách hàng về sức khoẻ, gia
đình, công việc của khách hàng; việc thăm hỏi này có thể diễn ra tại trụ sở ngân hàng,
hoặc có thể thăm hỏi qua điện thoại trong thời gian rỗi của khách hàng. Dựa trên mối
quan hệ này, nhân viên bán hàng biết thêm nhiều thông tin về khách hàng, từ đó họ có
thể tiến hàng quá trình bán chéo.
Có một nhân viên bán hàng ở một ngân hàng nước ngoài nói rằng: “ Hiện tại, các
nhân viên mới đang phải nghĩ đến quan hệ khách hàng nhiều hơn là về sản phẩm. Nếu
anh ta không nghĩ đến nó thì khách hàng sẽ rời bỏ ngân hàng và đi tìm một quan hệ khác
tốt hơn.”
lượng thẩm định. Bám sát các dự án cho vay trung, dài hạn để đẩy mạnh cho vay
vốn lưu động, giảm tỷ lệ cho vay trung và dài hạn, đồng thời phát triển các dịch vụ
khác như bảo lãnh, thanh toán quốc tế... Đặc biệt thực hiện chủ trương hỗ trợ lãi suất
cho các khách hàng vay vốn theo Quyết định 131/QĐ-TTg ngày 23/01/2009 của Thủ
tướng chính phủ về việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn Ngân hàng
để sản xuất kinh doanh; Thông tư 02/2009/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng
Nhà nước quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay
vốn Ngân hàng để sản xuất kinh doanh và Quy định số 120/HĐQT-TDDN ngày
6/2/2009 của Chủ tịch Hội Đồng Quản Trị Agribank Việt Nam quy định việc Hỗ trợ
lãi suất cho các tổ chức, cá nhân vay vốn sản xuất kinh doanh trong hệ thống
Agribank Việt Nam, Agribank Hà Nội tiến hành tập huấn cho cán bộ làm nghiệp vụ,
tổ chức hội nghị khách hàng, tiếp cận khách hàng có nhu cầu vay vốn sản xuất kinh
doanh, phục vụ nhu cầu của khách hàng trong nước hoặc xuất khẩu để đẩy mạnh cấp
tín dụng và các dịch vụ ngân hàng.
Tiếp thị để mở rộng cho vay các công ty trực thuộc Agribank Việt Nam như
Công ty in thương mại và dịch vụ ngân hàng, Công ty vật tư thiết bị ngân hàng…vừa
tăng dư nợ, an toàn lại có thể đẩy mạnh dịch vụ bảo lãnh, TTQT và các dịch vụ khác.
Nghiên cứu cải tiến quy trình, thủ tục cấp tín dụng cho khách hàng tại các PGD,
đặc biệt là các khách hàng lớn để có thể nhanh chóng trong phục vụ, đáp ứng tốt
nhất nhu cầu, đảm bảo thời gian cho khách hàng yên tâm quan hệ giao dịch với
Agribank Hanoi.
Đánh giá lại hiệu quả của những sản phẩm tín dụng đã triển khai nhưng hiệu quả
chưa cao như cho vay người đi lao động có thời hạn ở nước ngoài, thấu chi… để có
biện pháp chấn chỉnh, mở rộng.
Rà soát lại những khách hàng cũ, hiện nay không còn sử dụng dịch vụ của Agribank
Hanoi để tiếp cận lại. Đối với những khách hàng hiện đang giao dịch cần có biện
pháp chăm sóc khách hàng kịp thời, không để khách hàng sang ngân hàng khác.
+ Chuyển tiền: trên cơ sở hoạt động chuyển tiền hiện có cải tiến, mở rộng thêm các
phương thức chuyển tiền mới, đơn giản thủ tục chuyển tiền, tạo điều kiện thuận lợi
nhất cho người chuyển và nhận tiền. Các phòng giao dịch có thế mạnh về chuyển
có tập trung vào một số đối tượng cụ thể. Triển khai tất cả các dịch vụ liên quan đến thẻ
rút tiền mặt. Phòng Dịch vụ & Marketing phối hợp chặt chẽ với các phòng ban có liên
quan (tín dụng, TTQT, KTNQ, NV&KHTH…) để tìm kiếm nguồn khách hàng tiềm
năng.
. Tăng cường phát hành thẻ quốc tế Visa; ngoài các đối tượng thường xuyên đi công
tác nước ngoài thì có thể tập trung vào các đối tượng thanh niên thường xuyên mua sắm
trên mạng internet và thanh toán qua thẻ quốc tế.
. Phát triển thêm các Đơn vị chấp nhận thẻ đặc biệt là tại các siêu thị (như Hapro,
Fivimart,…) để mở rộng đơn vị chấp nhận thẻ và tăng cường lượng giao dịch tại các
POS. Phòng Dịch vụ & Marketing phối hợp chặt chẽ với các PGD và các phòng ban có
liên quan, có nguồn khách hàng tiềm năng như TD, TTQT…để tăng cường mở rộng
dịch vụ này, để hưởng phí chiết khấu đại lý. Vối các ĐVCNT cũ cần có biên pháp chấn
chỉnh để tăng lượng giao dịch như cử cán bộ chuyên trách thường xuyên theo dõi, kiểm
tra, đôn đốc, phổ biến cho nhân viên bán hàng mới (nếu có) về cách sử dụng POS.
. Các PGD đã được lắp đặt EDC cần chủ động tiếp thị khách hàng giao dịch tại EDC
và bản thân nhân viên ngân hàng cũng cần tăng cường giao dịch bởi có như vậy thì mới
thuần thục trong xử lý và rút kinh nghiệm cũng như biết cách xử lý trong nhiều tình
huống.
- Dịch vụ thu hộ, chi hộ: Tập trung vào các trường đại học, bệnh viện, Ban quản lý
dự án, các đơn vị hành chính sự nghiệp, các doanh nghiệp…để vừa huy động nguồn,
vừa triển khai các dịch vụ thu hộ, chi hộ…để khuyến khích người dân sử dụng các
phương tiện thanh toán hiện đại, giảm bớt lưu lượng tiền mặt trong lưu thông.
- Phát triển mạnh dịch vụ chuyển tiền kiều hối nói chung và dịch vụ chuyển tiền
nhanh Western Union nói riêng: tiếp cận với các công ty, trung tâm xuất khẩu lao động
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
13
nhằm triển khai đến người lao động đi làm việc ở nước ngoài, thân nhân ở nước ngoài
có nhu cầu chuyển tiền về Việt Nam qua hệ thống Agribank Hanoi.
- Đại lý bảo hiểm phi nhân thọ: tiếp tục triển khai dịch vụ đại lý cho công ty Bảo
Việt đến các phòng giao dịch trực thuộc nhằm hạn chế rủi ro trong tín dụng cũng như
Agribank Hanoi. Bộ phận Services tại hội sở chính hoặc bộ phận Kế toán Ngân quỹ tại
các Phòng giao dịch nói riêng và tất cả cán bộ của Agribank Hanoi nói chung chủ động
liên hệ và tiếp thị với khách hàng mở tài khoản cá nhân tại các đơn vị.
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
14
- VNTopup - Nạp tiền điện thoại bằng SMS: khách hàng sử dụng dịch vụ trả trước
của các mạng viễn thông và những người nạp tiền điện thoại trả trước cho người khác là
đối tượng khách hàng chính của dịch vụ này.
- VnMart và APaybill: Nạp tiền ví điện tử và Thanh toán hoá đơn là những dịch vụ
hiện đại nên sẽ dễ thu hút được khách hàng trẻ tuổi. Do vậy, cần chú trọng các phương
pháp tiếp thị quảng bá tới đối tượng khách hàng này.
+ Phát hành và thanh toán thẻ quốc tế Visa: Agribank Vietnam đã phát hành thẻ
Visa. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển dịch vụ thẻ nói chung và thẻ quốc tế nói
riêng. Đối tượng phát hành thẻ quốc tế là những khách hàng
- Có thu nhập cao và trung bình
- Thường xuyên đi công tác nước ngoài hoặc hoặc có người thân đi lao động, học tập
và chữa bệnh tại nước ngoài
- Thường mua sắm hoặc thanh toán trên Internet
Do vậy đối tượng chính của thẻ quốc tế là
- Cán bộ của các cơ quan báo chí, ngoại giao, trung tâm xuất khẩu lao động, các tập
đoàn kinh tế, doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa (VTC, Văn phòng quốc hội, …)
- Sinh viên, cán bộ trẻ, …những người thường xuyên mua và thanh toán tiền hàng
hóa trên Internet
+ Chương trình hợp tác với Viettel về việc phổ cập điện thoại cố định không dây
Home phone: thống nhất với Viettel, lên chương trình đào tạo, tập huấn; phối hợp
với Viettel để quảng bá sản phẩm, thu tiền bán máy, thu cước phí và hưởng hoa hồng
bán máy,…và các dịch vụ giá trị gia tăng khác như nhắn tin SMS…
Phát triển các dịch vụ mới như
- Cho thuê ngăn tủ két sắt.
- Đại lý bảo hiểm đặc biệt với Công ty bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp ABIC,…
huy được tối đa các nguồn lực, nâng cao sức cạnh tranh để phát triển bền vững, hoạt
động đem lại hiệu quả cao, phòng ngừa được những rủi ro để đảm bảo an toàn, công tác
Marketing có ảnh hưởng trực tiếp giúp cho Ban lãnh đạo NH lựa chọn các mục tiêu hoạt
động và các giải pháp quan trọng nhất thực hiện các mục tiêu phát triển đó.
Trong khi đó hoạt động Nh luôn đòi hỏi tính dài hạn và ổn định, hoạt động Nh
không phải là những phi vụ mà là những cam kết có thời hạn ( trong đó nhiều cam kết
trung và dài hạn ) với khách hàng. Việc đầu tư cho phát triển hoạt động của NH cũng hết
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8
16
sức tốn kém và đòi hỏi thời gian hoàn toàn tương đối do đầu tư chủ yếu là công nghệ
cao. Với quy mô như Agribank Hà nội, việc chuyển hướng hoạt động càng khó khăn và
tốn kém nên đòi hỏi phải xác định đúng đắn các mục tiêu phát triển có tính dài hạn và
ổn định. Trên cơ sở đó NH có thể đầu tư các nguồn lực để phát triển theo định hướng đã
lựa chọn một cách hiệu quả nhất.
Chính vì vậy NH cần phải xây dựng một chiến lược Markeitng dài hạn, ổn định
và tiên tiến để phục vụ tốt nhất cho sự phát triển lâu dài. Công tác Markeitng nếu không
có chiến lược hoặc chiến lược không vững chắc, không ổn định và không tiến tiến sẽ
hạn chế nhiều tới hiệu quả hoạt động NH. Yêu cầu đối với một chiến lược Marketing
dài hạn, ổn định và tiên tiến bao gồm:
- Lựa chọn được lĩnh vực đầu tư và thị trường có tiềm năng phát triển, ổn định,
lâu dài.
- Lựa chọn được nền khách hàng có tiềm năng.
- Lựa chọn được các sản phẩm dịch vụ cần thiết để cung cấp ra thị trường.
- Lựa chọn được nền tảng cộng nghệ hoạt động đáp ứng được các yêu cầu phát
triển sản phẩm, cung ứng sản phẩm và hoạt động quản lý.
- Lựa chọn các kênh phân phối sản phẩm.
- Lựa chọn chiến lược tiếp thị
- Xác định nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng các mục
tiêu phát triển.
- Xác định mức độ rủi ro cho phép trong tất cả các hoạt động của Agribank Hà
triển nền khách hàng tiềm năng, xây dựng nền tảng công nghệ và phát triển các sản
phẩm dịch vụ đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường và khách hàng với chi phí phù
hợp, cạnh tranh, phát triển mạng lưới hoạt động, mạng lưới các kênh phân phối sản
phẩm khác, lường đón những rủi ro trong các mặt hoạt động và các sản phẩm dịch vụ
để có giải pháp điều tiết, hạn chế những tổn thất có thể xảy ra trong mực độ cho phép.
SV: Trần Ngọc Lan Phương QTMA-K8