NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 67

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN
QUỐC TẾ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm và đặc điểm của Thương mại quốc tế
1.1.1. Khái niệm của Thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế (TMQT) là sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các
quốc gia, thông qua mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới tuân theo nguyên tắc trao
đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên.
TMQT là một trong những hoạt động chính và cơ bản của quan hệ kinh tế
quốc tế. TMQT ra đời từ rất sớm, ban đầu đó chỉ là sự trao đổi hàng hóa đơn
thuần giữa các thương gia mang quốc tịch khác nhau. Nguồn gốc của nó liên
quan đến việc giảm chi phí sản xuất, mở rộng sản xuất, chuyên môn hóa sản
xuất dựa trên cơ sở lợi thế so sánh.
Trong thế giới hiện đại, TMQT giữ vai trò hết sức quan trọng và cần
thiết cho việc thực hiện chuyên môn hóa để đạt hiệu quả kinh tế cao
trong nền công nghiệp hiện đại. Có thể nói hiện nay, TMQT giữ một vị trí
trung tâm trong quan hệ kinh tế quốc tế.
1.1.2. Đặc điểm của Thương mại quốc tế
TMQT có những đặc điểm nổi bật khác với thương mại trong nước những
điểm cơ bản sau:
Một là, TMQT là hoạt động buôn bán vượt ra ngoài biên giới quốc gia.
Hàng hóa có thể di chuyển từ nước này qua nước khác. Nhưng khái niệm này
cũng chỉ mang tính chất tương đối bởi mua bán hàng hóa cho người nước ngoài
đang sinh sống ở một quốc gia cũng có thể coi là hoạt động xuất khẩu.
Hai là, tham gia vào TMQT là những người có quốc tịch khác nhau, tuy
nhiên khái niệm này cũng không chính xác tuyệt đối vì trong điều kiện hiện nay,
ở các nước trên thế giới, để phân biệt TMQT và kinh doanh trong nước, người
ta sử dụng yếu tố lãnh thổ, nơi cư trú hoặc trụ sở thay vì yếu tố quốc tịch.
Ba là, đồng tiền thanh toán trong TMQT là ngoại tệ đối với một bên hoặc
cả hai bên.
Trong thời đại ngày nay, không có nền kinh tế quốc gia nào có thể
tồn tại độc lập mà bắt buộc phải tham gia TMQT. Hoạt động TMQT bao

chính là lợi nhuận của NHTM. Hoạt động của NHTM phục vụ mọi nhu
cầu về vốn của mọi tầng lớp dân chúng, mọi loại hình doanh nghiệp và
các tổ chức khác trong xã hội.
Theo PGS.TS Phan Thị Lưu Hà, giáo trình “Ngân hàng thương
mại”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2007 “Ngân hàng thương mại là
các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa
dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực
hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh
doanh trong nền kinh tế”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng số 07/1997 ban hành ngày
12/12/1997 thì “Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng
được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có
liên quan. Trong đó tổ chức tín dụng là loại hình doanh nghiệp được
thành lập theo luật này và các quy định khác của pháp luật liên quan để
hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
thanh toán”.
Tóm lại, qua các khái niệm khác nhau về ngân hàng thương mại đã
được đề cập ở trên, ta có thể khái quát lại như sau: “ NHTM là doanh
nghiệp đặc biệt, kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt đó là tiền tệ, thông
qua hoạt động tín dụng, thanh toán, tiết kiệm… nhằm mục đích chính là
đáp ứng nhu cầu về vốn của dân cư để thu lợi nhuận.
1.2.2. Chức năng của Ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Trung gian tài chính
Có thể nói, đây là chức năng cơ bản nhất của NHTM, thể hiện tầm
quan trọng của nó đối với nền kinh tế. Ngân hàng thực hiện chức năng
trung gian tài chính bằng cách huy động nguồn vốn nhàn rỗi của xã hội
nhằm mục đích kích thích quá trình luân chuyển vốn để tái sản xuất mở
rộng, đồng thời đưa tiết kiệm đến với đầu tư trên phạm vi toàn xã hội.
Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là chuyển tiết kiệm thành đầu tư

khách hàng. Giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành với ưu điểm nhất
định đã trở thành phương tiện thanh toán thay cho tiền kim loại dựa trên
số lượng tiền kim loại đang nắm giữ. Với nhiều ưu thế, dần dần giấy nợ
của ngân hàng đã thay thế tiền kim loại làm phương tiện lưu thông và
phương tiện cất trữ, nó trở thành tiền giấy.
Việc in tiền mang lại lợi nhuận rất lớn, đồng thời với nhu cầu có
đồng tiền quốc gia duy nhất đã dẫn đến việc Nhà nước tập trung quyền
lực phát hành (in) tiền giấy vào một tổ chức hoặc là Bộ Tài chính là ngân
hàng Trung ương. Từ đó chấm dứt việc các ngân hàng thương mại tạo
ra các giấy bạc của riêng mình.
Trong điều kiện phát triển nhanh toán qua ngân hàng, các khách
hàng nhận thấy nếu họ có được số dư trên tài khoản tiền gửi thanh
toán, họ có thể chi trả để có được hàng hoá và các dịch vụ theo yêu
cầu.
Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của
khách hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng và dịch vụ.
Do đó, bằng việc cho vay (hay tạo tín dụng), các ngân hàng đã tạo ra
phương tiện thanh toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi
các khoản tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng
khác trên cơ sở cho vay. Khi khách hàng tại một ngân hàng sử dụng
khoản tiền vay để chi trả thì sẽ tạo nên khoản thu (tức làm tăng số dư
tiền gửi) của một khách hàng khác tại một ngân hàng khác từ đó tạo ra
các khoản cho vay mới.
1.2.2.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng trở thành trung gian thanh toán lớn nhất hiện nay của
hầu hết các quốc gia. Thay mặt khách hàng, ngân hàng thực hiện thanh
toán giá trị hàng hóa và dịch vụ. Để việc thanh toán nhanh chóng, thuận
tiện và tiết kiệm chi phí, ngân hàng đưa ra cho khách hàng nhiều hình
thức thanh toán khác nhau như: thanh toán bằng séc, ủy nhiệm chi, nhờ

với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ ngân hàng của các nước liên
quan.
Nếu chỉ đề cập đến các quan hệ thanh toán phát sinh trong lĩnh vực
kinh tế và tài chính ta có thể định nghĩa TTQT như sau:
TTQT là việc chi trả các nghĩa vụ yêu cầu về tiền tệ phát sinh từ các
quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế
quốc tế, giữa các hãng, giữa các cá nhân của các nước khác nhau để
kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng
các hình thức chuyển tiền hay bù trừ trên các tài khoản tại các ngân
hàng.
TTQT giữ chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thương
mại. Nó được hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại
thương của một nước và ngân hàng thương mại được nhà nước giao
cho độc quyền làm công tác thanh toán này. Do vậy, các giao dịch thanh
toán trong ngoại thương đều phải thông qua ngân hàng. Đây là nghiệp
vụ đòi hỏi trình độ chuyên môn, ứng dụng công nghệ ngân hàng, tạo sự
an toàn và hiệu quả đối với NHTM và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
1.3.1.2. Vai trò của Thanh toán quốc tế của NHTM trong TMQT
TTQT là khâu then chốt cuối cùng khép kín một chu kỳ mua bán
hàng hóa hay trao đổi dịch vụ. Việc thanh toán tiền hàng được nhanh
chóng, chính xác, an toàn là đảm bảo giải quyết được mối quan hệ lưu
thông hàng hóa - tiền tệ giữa người mua - người bán. Về mặt kinh
doanh, thanh toán tiền hàng thể hiện chất lượng kinh doanh, nói lên hiệu
quả kinh tế về tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp.
Đối với NHTM, TTQT thể hiện những vai trò quan trọng như sau:
Một là: TTQT tạo điều kiện thu hút khách hàng, mở rộng thị trường.
Khách hàng tìm đến ngân hàng với mong muốn được thỏa mãn các
nhu cầu về dịch vụ tài chính. Trong điều kiện hiện nay, buôn bán kinh
doanh, du lịch, đầu tư,… đã vượt ra khỏi biên giới của quốc gia, nhu cầu
TTQT đối với các cá nhân, tổ chức ngày càng lớn hơn. Mặt khác, trong

phạm vi quốc gia, hòa nhập cộng đồng ngân hàng thế giới, nâng cao uy
tín trên quốc tế. Trên cơ sở đó, ngân hàng phát triển các quan hệ đại lý,
khai thác nguồn tài trợ của các ngân hàng nước ngoài và nguồn vốn
trên thị trường tài chính quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu vốn để phát
triển kinh tế xã hội.
Năm là: Góp phần tạo dựng và nâng cao uy tín của ngân hàng trên
thị trường tài chính quốc tế
Sự phát triển của hoạt động TTQT tại các ngân hàng mà đặc biệt là
sự phát triển của các dịch vụ TTQT, trình độ xử lý nghiệp vụ của cán bộ
TTQT… đã góp phần tạo dựng niềm tin đối với ngân hàng và cả khách
hàng nước ngoài. Vậy hoạt động TTQT giúp cho ngân hàng mở rộng
trên lĩnh vực kinh doanh đối ngoại, hòa nhập hệ thống tài chính ngân
hàng toàn cầu, giúp ngân hàng tạo dựng được uy tín đối với quốc tế.
Vậy hoạt động TTQT của các NHTM trong thương mại quốc tế nói
riêng và kinh tế đối ngoại nói chung có một vị trí hết sức quan trọng. Nó
là mắt xích không thể thiếu trong toàn bộ dây chuyền bắt đầu từ khi
chuẩn bị những bước đầu tiên để sản xuất hàng hóa và bước cuối khi
thu đồng tiền về tay người xuất khẩu.
1.3.1.3. Điều kiện hoạt động TTQT
Thanh toán quốc tế liên quan đến thanh toán tiền hàng trong ngoại
thương nên các bên phải thỏa thuận những điều kiện về thanh toán,
gồm: điều kiện về tiền tệ, điều kiện về địa điểm thanh toán, điều kiện về
thời gian thanh toán và điều kiện về phương thức thanh toán.
a, Điều kiện về tiền tệ
Trong điều kiện về tiền tệ, các bên thỏa thuận những vấn đề như:
đồng tiền tính giá, đồng tiền thanh toán và bảo đảm rủi ro tỷ giá.
Trước hết, ta chú ý đến vấn đề phân loại tiền tệ trong TTQT. Để
phân loại tiền tệ, có một số tiêu chí như:
- Căn cứ phạm vi sử dụng: tiền tệ bao gồm
+ Tiền tệ quốc gia (National currency): đồng tiền của một nước do

- Căn cứ mức độ sử dụng trong dự trữ và TTQT:
+ Đồng tiền mạnh (Hard currency): đồng tiền tự do chuyển đổi, có giá trị
ổn định và đứng sau nó là một nền kinh tế phát triển. Những đồng tiền mạnh
hiện nay như: USD, EUR, GBP, JPY …
+ Đồng tiền yếu (Weak currency): đồng tiền không được tự do chuyển đổi,
giá trị không ổn định và đứng sau nó là nền kinh tế nhỏ hoặc phát triển chậm.
Đồng tiền này chủ yếu lưu thông nội địa và ít được sử dụng trong TTQT như:
VND, LAK…
- Căn cứ vào mục đích sử dụng trong TTQT:
+ Tiền tệ tính toán (Account currency): là đơn vị tiền tệ dùng để biểu hiện
giá cả hàng hóa và tính toán tổng giá trị trong hợp đồng ngoại thương.
+ Tiền tệ thanh toán (Payment currency): là đơn vị tiền tệ được sử dụng để
thanh toán công nợ, thanh toán giá trị hợp đồng ngoại thương.
Tóm lại, việc phân loại tiền tệ như thế chỉ mang tính tương đối vì trong
thực tiễn hiện nay, việc lựa chọn đồng tiền nào để tính toán và thanh toán phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Ngày nay, việc các bên thanh toán bằng đồng tiền nào
không thật sự quan trọng vì thị trường ngoại hối đang ngày càng phát triển, liên
kết toàn cầu, cho phép chúng ta chuyển đổi đồng tiền này sang đồng tiền khác
một cách nhanh chóng và thuận lợi.

Trích đoạn Chính sách quản lý ngoại hố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status