thỰc trạng quản lý các dự án đầu tư phát triển sử dụng
vốn ngân sách trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.
I. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình:
Tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2001 - 2005 tỉnh Ninh Bình đạt
11,9% thì vốn đầu tư tăng 41,7% tức là để tăng thêm 1% GDP thì cần tốc độ
tăng vốn đầu tư là 3,5% và hiện là thấp so với mức trung bình của cả nước.
Nhìn chung thì chuyển đổi cơ cấu kinh tế vẫn chưa tiến bộ kịp thời được
cơ cấu kinh tế của cả nước nói chung cũng như của các tỉnh vùng đồng bằng
sông Hồng nói riêng. Tỉ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu ngành cao, cơ
cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm, chưa ổn định vì chưa phát huy đầy đủ được
tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.
Tổng sản phẩm xã hội bình quân tăng hàng năm xấp xỉ 11,9%, tăng 1,24
lần so với giai đoạn 1996 - 2000. Bình quân GDP/người năm 2007 gấp 3,1 lần
năm 2000, đạt 7,8% triệu đồng. Tuy nhiên GDP/người hiện nay mới đạt khoảng
55% so với mức trung bình của cả nước và bằng gần 80% của vùng đồng bằng
sông Hồng.
Chênh lệch giữa thu và chi ngân sách khá lớn: Trung bình giai đoạn
2001-2005 chỉ gấp khoảng 2 lần thu, năm 2007 thu: 1370 tỷ VND/chi: 2365,6 tỷ
VND, là một trong những tỉnh có mức chênh lệch lớn giữa thu và chi trong cả
nước, thuộc diện đơn vị hành chính nghèo so với các tỉnh khác trong vùng đồng
bằng sông Hồng, quy mô của nền kinh tế còn nhỏ bé, cơ cấu kinh tế lạc hậu và
GDP/người thấp.
Đối với Ninh Bình, lao động đóng góp vào tăng trưởng kinh tế là 82%.
Điều này chứng tỏ tốc độ tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào lao động, công
nghệ còn đang kém (cả nước mức đóng góp của lao động trong tăng trưởng kinh
tế khoảng 68%)
Mặc dù có các mặt hàng, đặc biệt là hàng hoá nông nghiệp (nông nghiệp
theo nghĩa rộng) rất phong phú nhưng quy mô nhỏ bé, nhiều loại mới sơ chế,
chưa theo tiêu chuẩn quốc tế và chưa xuất khẩu được trực tiếp.
Trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật và trình độ chuyên
môn, quản lý còn hạn chế so với mặt bằng cả nước cũng như so với ngay vùng
Ninh Bình:
1.1. Số lượng dự án và nguồn vốn ngân sách nhà nước cân đối cho dự
án đầu tư:
Tổng vốn đầu tư từ ngân sách ngày một tăng tuy nhiên số lượng dự án
được cân đối vốn trong năm ngày càng giảm: Từ đỉnh cao 195 dự án năm 2005
đã giảm dần còn 88 dự án năm 2007. Nguyên tắc thực hiện đầu tư có trọng
điểm, hiệu quả, chống giàn trải đã được triển khai rất tích cực đẩy nhanh tiến độ
xây dựng, giảm ứ đọng nợ, góp phần đưa lại hiệu quả quản lý đầu tư xây dựng
cơ bản khá cao. Hơn nữa năm 2006, 2007 sự gia tăng số lượng các dự án tầm
cỡ, quy mô lớn (dự án nhóm A) càng thể hiện rõ quyết tâm đầu tư xây dựng
phát huy cao tính trọng điểm và hiệu quả; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng hiện
đại, quy mô nhằm nhanh chóng đưa nền kinh tế Ninh Bình lên một tầm cao mới.
Bảng: Dự án sử dụng vốn NSNN và tổng vốn ngân sách cân đối cho dự án
giai đoạn 2003 - 2007.
Năm 2003 2004 2005 2006 2007
Số dự án 120 195 188 141 88
Vốn NSNN (tỷ đồng) 441,5 450,3 798,176 1056,898 1982,71
Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Ninh Bình
Thời gian qua, cơ sở vật chất được tăng cường. Nhiều công trình hoàn
thành đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển,
giao lưu hàng hoá thông suốt, các mặt xã hội về giáo dục, văn hoá, thể thao có
nhiều tiến bộ.
Nhiều dự án lớn do địa phương quản lý đã đưa vào sử dụng như: Xây
dựng nhà thi đấu 4.300 chỗ ngồi; kiên cố hoá kênh Cánh Diều; kênh tưới đường
12B; sửa chữa, nâng cấp hồ Yên Thắng; xây dựng đê bao gạt lũ 5 xã huyện Nho
Quan; đường chống lũ quyết thị xã Tam Điệp; sân vận động tỉnh; xây dựng
vùng nuôi tôm công nghiệp 70 ha Kim Trung; đường chống lũ thượng nguồn thị
xã Tam Điệp;VV..Một số dự án lớn đang triển khai xây dựng như: Xây dựng
CSHT vùng phân lũ, chậm lũ 2 huyện Nho Quan, Gia Viễn; Xây dựng CSHT
khu du lịch Tam Cốc - Bích Động; xây dựng khu du lịch hang động Tràng
hoàn thành dự án một số nghành trọng điểm như nông nghiệp, thương mại -m
du lịch, giao thông vận tải, y tế, giáo dục. Bên cạnh đó cũng thể hiện sự phân
cấp mạnh cho cấp huyện tự phân bổ cho các công trình, dự án và triển khai thực
hiện. Đối với nguồn ngân sách tập trung chỉ đầu tư cho tu bổ đê điều, kiên cố
kênh mương, các công trình xây dựng CSHT từ nguồn thu đấu giá quyền sử
dụng đất được được thực hiện cùng với kết quả thực hiện đấu giá quyền sử dụng
của các huyện, thành phố, thị xã.
Ngành nông - lâm - thuỷ sản tuy tỉ trọng vốn đầu tư có xu hướng giảm
dần nhưng vẫn là nghành chiếm khối lượng vốn đầu tư cao nhất. Số dự án vẫn
chiếm mức cao nhất bởi trong điều kiện các ngành kinh tế khác đang đem lại
một mức lợi nhuận hấp dẫn, thu hút đầu tư lớn từ các khu vực thì ngân sách nhà
nước thực hiện vai trò đảm bảo phát triển cân đối là nguồn đầu tư chính cho sự
nghiệp hiện đai hoá công nghiệp hoá nông thôn, ổn định sản xuất, đảm bảo tự
chủ nông sản, cân đối sản phẩm giữa ba nghành kinh tế.
Ngành công nghiệp do điều kiện kinh tế nhà nước còn nhiều khó khăn
nên vốn Ngân sách phân bổ cho ngành mặc dù có tăng trong những năm gần
đây nhưng vẫn còn khá khiêm tốn. Vốn ngân sách chỉ tập trung xây dựng cơ sở
vật chất ban đầu, khuyến khích các thành phần kinh tế khác đầu tư vào.
Bảng : Phân loại dự án đầu tư phát triển theo ngành
KT - XH thời kỳ 2003 - 2007
(đơn vị: %)
2003 2004 2005 2006 2007
Tổng số 100 100 100 100 100
Nông, lâm, thuỷ sản 40.31 34.19 25.41 17.96 14.92
Giao thông vận tải 6.27 20.63 12.92 14.06 9.18
Thương mại, du lịch 13.43 8.72 31.3 12.46 14.01
Y tế, văn hoá, giáo dục 7.77 17.44 15.75 13.97 9.94
CN, điện, nước 8.49 3.4 2.73 10.91 3.03
Quản lý nhà nước 3.4 5.91 3.97 2.86 7.73
Công công 2.18 2.37 1.49 1.72 1.56
vùng du lịch Hoa Lư, vùng phân lũ); các dự án cơ sở hạ tầng và phát triển sản
xuất có lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế,phát triển xã
hội. Theo đó, cơ cấu dự án cũng được phân chia cho cả ba vùng biển tuy nhien
có sự chênh lệch khá lớn.
Giai đoạn này, tỉnh vẫn tập trung chủ yếu việc xây dựngcơ bản ở các
huyện thị trong vùng đồng bằng: đầu tư xây dựng hạ tầng KCN, phát triển điểm
du lịch, mạng lưới thuỷ lợi tưới tiêu, ANQP.
Các công trình XDCB miền núi vẫn chỉ là mang tính chất hiện đại hoá
nông thôn, nâng cao phúc lợi xã hội (đường xá, cầu cống, vùng phân lũ các
huyện Nho Quan, Gia Viễn) hay các công trình cơ cở hạ tầng trương học, y tế,
thể dục thể thao.
Vùng kinh tế biển kim Sơn: tuy bờ biển của tỉnh Ninh Bình không dài
nhưng hàng năm đem lại nguồn lợi kinh tế to lớn to lớn, là một trong những
nghành kinh tế mũi nhọn nên việc đầu tư phát triển kinh tế biển cũng chú trọng
đặc biệt là những năm gần đây
1.3. Các dự án đầu tư XDCB với tác động phát triển KT –XH:
* Trong thời kỳ 2003 - 2007 tỉnh Ninh Bình đã có những biến chuyển
quan trọng trong hạ tầng KT - XH, thúc đẩy cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực,
làm thay đổi cục diện kinh tế tỉnh, cải thiện đời sống nhân dân. Hàng chục công
trình xây dựng cơ bản đã hoàn thành đang đi vào khai thác, sử dụng, trong đó có
nhiều công trình lớn có vị trí quan trọng trong nền kinh tế của địa phương: Xây
dựng nhà thi đấu 4.300 chỗ ngồi; kien cố hoá kênh Cánh Diều; kênh tưới đường
12B; sửa chữa, nâng cấp hồ Yên Thắng xây dựng tuyến đê bao gạt lũ 5 xã
huyện Nho Quan; đương chống lũ quét thị xã Tam Điêp; sân vận động tỉnh; xây
dựng vung nuôi tôm công nghiệp 70 ha Kim Trung, Nhà máy xi măng Tam
Điệp; Cầu Non Nước, cầu vượt Thanh Bình, cầu Lim, Quốc lộ 10 qua thị xã
Ninh Bình, cầu tàu Clinke cảng Ninh Phúc....
Các công trình, dự án hoàn thành đã phát huy hiệu quả, tạo điều kiện
phát triển kinh tế, giao lưu hàng hoá thông suốt, các mặt xã hội về giáo mdục,
thể thao, y tế có nhiều tiến bộ vượt bậc. Năng lực sản xuất của các nghành tăng
Bảng : Số việc làm tăng thêm
TT
Chỉ tiêu ĐVT
Năm
2003
Năm
2004
Năm
2005
Năm
2006
Năm
2007
BQ
1 Tổng số lao động Ngư
ời
433
004
443
014
449
623
460
439
473
214
45185
9
Phân theo ngành
CN – XD Ngư
Nguồn: Niên giảm thống kê Ninh Bình
*Công tác đấu thầu, thẩm định hàng năm đã tiết kiệm được cho Nhà
nước hàng chục tỷ động. Năm 2006, tổ chức đấu thầu 45 gói thầu, với tổng giá
gói thầu là là 805,464 tỷ đồng. Qua đấu thầu đã thực hiện tiết kiệm được cho
Nhà nước 2.740,4 triệu đồng, tỉ lệ giảm giá là 0,34% so với tổng giá gói
thầu. Điển hình như công trình Trụ sở làm việc Sở Công nghiệp tỉnh Ninh
Bình, biến động qua đấu thầu tiết kiệm được 538 triệu đồng, bằng 13,3% so
với dự toán được duyệt.
Cũng năm 2006, thẩm định 52 dự án vốn ngân sách, tổng mức đầu tư do
chủ đầu tư trình là 1.481,5 tỷ đồng, kết quả thẩm định là 1.418,3 tỷ đồng, cắt
giảm 63,2tỷ đồng, tỷ lệ giảm là 4,3%. Điển hình như công trình xây dựng
trường THPT Nho Quan B phân hiệu II (giai đoạn I), tổng mức đầu tư là 7,680
tỷ đồng, qua thẩm định giảm được 2,181 tỷ, bằng 28% so với tổng mức đầu tư
do chủ đầu tư trình.
2. Quản lý các dự án đầu tư phát triển sử dụng vốn từ ngân sách:
2.1.Các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
- Các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế –xã hội, quốc phòng,an ninh không
có khả năng thu hồi vốn.
- Hỗ trợ các dự án của các doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực cần có
sự tham gia của nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Chi cho công tác điều tra khảo sát lập các dự án quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế kỹ thuật vùng ,lãnh thổ ,quy hoạch xây dung đô thị.
- Cho vay của chính phủ để đầu tư phát triển.
- Vốn khấu hao cơ bản và các khoản thu của nhà nước đẻ lại cho doanh
nghiệp nhà nước để đầu tư.
2.2. Công tác lập và thẩm định dự án đầu tư, thiết kế kỹ thuật, tổng
dự toán:
a) Lập dự án đầu tư:
Chủ đầu tư có trách nhiệm lập (hoặc thuê tổ chức tư vấn) báo cáo nghiên
cứu tiền khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc báo cáo đầu tư để trình cơ
Một trong những nguyên tắc quan trọng của việc lập dự án đầu tư là nhà
tư vấn phải đưa ra được nhiều phương án, phân tích lựa chọn phương án tối
ưu để chủ đầu tư và cơ quan thẩm định xem xét hoặc nếu có thêm một số
phương án thì các phương án đó, nhà tư vấn chỉ tính toán một cách chiếu lệ,
ít giá trị so sánh.
Do trình độ tư vấn hạn chế (chủ yếu là các đơn vị tư vấn ngoại tỉnh), do
đó trong số 248 dự án được duyệt trong 4 năm (2002 -2006) đã có 52 dự án
phải phê duyệt lại do phải điều chỉnh, bổ sung qui mô, khối lượng hoặc tính
toán sai, thiếu. Một số các dự án phải trả hồ sơ rất nhiều lần vì chất lượng
hồ sơ dự án quá thấp.
b) Thẩm định dự án đầu tư :
Thẩm định dự án có vai trò rất quan trọng trong việc giúp cho chủ đầu
tư, tổ chức tài trợ vốn đánh giá một cách khách quan tính hợp l, tính hiệu quả,
tính khả thi của dự án giúp cấp có thẩm quyền quyết định đầu tư được đúng đắn.
Thăm định dự án là một chức năng chủ yếu trong quản lý Nhà nước về đầu tư,
thẩm định dự án phải được xem xét toàn diện về quy hoạch xây dựng, các
phương án cấu trúc công nghệ, sử dụng đất đai, tài nguyên hiệu quả kinh tế xã
hội, bảo vệ môi trường sinh thái phương diện tài chính và các khía cạnh xã hội
khác đảm bảo dự án có tính khả thi giúp cho người có thẩm quyền quyết định
đầu tư. Thời gian qua ở Ninh Bình việc thẩm định do Sở Kế Hoạch và Đầu tư
chủ trì tham khảo ý kiến của một số Sở, ngành liên quan...
Trong quá trình thẩm định dự án đầu tư đã tuân thủ theo qui hoạch phát
triển kinh tế, qui hoạch vùng, ngành lãnh thổ, áp dụng đúng chế độ chính sách
của nhà nước hiện hành, cắt giảm các thủ tục phiền hà, thực hiện theo chế độ
một cửa.
Các dự án đã thẩm định cơ bản đã được bố trí kế hoạch thực hiện đầu tư.
Mọt số dự án đã đưa vào sử dụng đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh đó, công tác thẩm định còn bộ lộ những yếu điểm sau:
- Chủ đầu tư là chủ thể trực tiếp sử dụng công trình nhưng không phải là
chủ thực sự của đồng vốn nên ý thức tiết kiệm chưa được đề cao. Thiết kế cơ sở
tố, bỏ sót hạng mục của công trình hoặc thiết kế công trình không theo đúng qui
định của Nhà nước. Ví dụ: Công ty CP tư vấn xây dựng Hoàng Mai khảo sát,
lập dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Khu dân đường Vòng, thị xã Tam Điệp
khi tính toán khối lượng san nền không chính xác, sử dụng hệ số đầm nén của
vật liệu không qua thí nghiệm; sau khi thẩm định, khối lượng của công tác san
nền đã giảm 183.000m
3
xuống còn 135.210m
3
(giảm 21,1%),đơn giá của đất
đắp giảm từ 45.772 đồng/m
3
xuống còn 38.007đồng/m
3
. Trách nhiệm tư vấn
chưa cao, năng lực hạn chế do đó trong quá trình lập dự án, một số thiết kế kĩ
thuật chưa đưa ra được giải pháp tốt nhất.
- Tổ chức thiết kế chưa thực hiện công tác giám sát tác giả trong suốt
quá trình thi công, xây lắp, hoàn thiện và nghiệm thu công trình.
*Trong thẩm định thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công - tổng dự
toán còn có một số tồn tại:
- Chủ đầu tư hầu như không tổ chức nghiệm thu sản phẩm thiết kế kỹ
thuật, thiết kế bản vẽ thi công, tổng dự toán do cơ quan tư vấn lập trước khi
trình thẩm định.
- Có cơ quan thẩm định quá tin tưởng ở đơn vị tư vấn nên việc thẩm
định không thật sát sao.
- Thời gian thẩm định kéo dài
Kết quả thẩm định các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách:
TT Ngành kinh tế 2004 2005 2005 2006
1 Tổng số dự án 75 49 53 62
Tuy nhiên, trong những năm qua, quản lý công tác đấu thầu còn bộc lộ
một vài hạn chế.
- Sự hiểu biết về trình tự và các qui định về đấu thầu của một số các cơ
quan quản lý và các nhà thầu còn hạn chế.
- Hầu hết các dự án chủ đầu tư đều trình xin chủ trương UBND tỉnh cho
đấu thầu hạn chế hoặc chỉ định thầu . UBND tỉnh thiếu kiên quyết dẫn đến hầu
hết các dự án phải tổ chức thầu rộng rãi nhưng không thực hiện. Có một số dự
án phải đấu thầu nhưng vẫn chỉ định thầu, mặc dù giá trị gói thầu tư vấn ≥500
triệu đồng - theo qui chế đấu thầu phải tổ chức đấu thầu.
- Nhiều gói thầu tiến hành tổ chức đấu thầu còn mang tính hình thức,
không có sự cạnh tranh bình đẳng do áp dụng hình thức đấu thầu hạn chế. Tỷ lệ
giảm giá thấp, giá trúng thầu của hầu hết các gói thầu xấp xỉ bằng giá gói thầu
(giá dự toán).
Tỷ lệ áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu
Năm
Rộng
rãi
Hạn chế
Chỉ định thầu và các
hình thức còn lại
Tổng số
2003 0 23 0 23
Tỷ lệ (%) 100 100
2004 7 28 51 86
Tỷ lệ (%) 8,1 32,6 59,3 100
2005 18 21 63 103
Tỷ lệ (%) 17,6 20,6 61,8 100
2006 23 22 0 45
Tỷ lệ (%) 51,1 48,9 0 100
Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Ninh Bình
hoạch năm 2003 là 300 triệu đồng, Công trình chuyển tiếp xây dựng trường
Chính trị tỉnh có tổng mức đầu tưu là 10.200 triệu đồng, đã bố trí kế hoạch năm
2020 là 1.300 triệu đồng và kế hoạch 2003 là 1.000 triệu đồng ....
Trong năm 2004 bổ sung 4 công trình giao thông phát sinh do 6 xã của
huyện Hoa Lư nhập về thị xã Ninh Bình, năm 2006,, bố trí vốn cho 26 công
trình xử lý đột xuất: Xử lý sự số sạt lở kè tả, hữ sông Vạc, hệ thống cấp điện
chiếu sáng di tích đền thờ vua Đinh - Lê ...
Kế hoạch vật liệu cũng được triển khai rất sớm và có được lợ thế chủ
động về nguồn cung cật liệu do những loại vật liệu chíh là sản phẩm chủ đạo
của nền sản xuất công nghiệp vật liệu chính là sản phẩm chủ đạo cảu nền sản
xuất công nghiệp vật liệu xây dựng Ninh Bình như đá vôi, xi măng, sắt thép....
b. Quản lý phạm vi dự án:
Một dự án đầu tư phát triển được lập với mục tiêu cụ thể tuy nhiên lại
liên quan đến nhiều cấp, ngành và có tác động đến nhiều đối tượng trong quá
trình triển khai. Việc xác định phạm vi dự án tức là xác địng danh sách tất cả
những gì dự án phải làm (và cũng có thẻ là một danh sách tất cả những điều mà
dự án phải làm). Bất kỳ một dự án nào cũng phải có một phạm vi rõ ràng.
Đối với dự án XDCB trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, việc quản lý phạm vi
dự án là quản lý của các sở, ngành liên quan trong quá trình tác động của dự án
tới những đối tượng thuộc phạm vi sở, ngành quản lý.
Ví dụ như dự án nạo vét sông Sào Khê thuộc huyệ Hoa Lư. Sông Sào
Khê không chỉ có giá trị trong phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp mà còn có giá
trịnh phục vụ du lịch đồng thời cũng là di tích văn hoá lịch sử thời nhà Lê. Bởi
vậy trong quá trình thực hiện dự án không chỉ là giám sát, đánh giá thực hiện
của sở Nông nghiẹp mà còn có sự phân phối giám sát của sở Văn hoá, sỏ Du
lịch đối với những hạng mục tu sửa nâng cấp ảnh hưởng đến giá trị khai thác
thuộc phạm vi sở, ngành quản lý. Mọi sửa đổi gây ảnh hưởng đến cảnh quan tự
nhiên phục vụ du lịch hay làm thay đổi tính chất di tích văn hoá của sông Sào
Khê đều phải có được sự chấp thuận của Sở Văn hoá, Sở du lịch.
Thời gian qua, việc phối hợp quản lý phạm vi dự án XDCB trên địa bàn
Tuy nhiên vẫn còn khoảng 25% dự án không đảm bảo được tiến độ,
thậm chí có dự án hết thời hạn thực hiện vẫn chưa khởi công xây dựng. Theo
qui chế quản lý đầu tư đã qui định: đối với các dự án nhóm C, cơ quan quyết
định đầu tư phải bảo đảm cân đối đầu tư để thực hiện dự án không quá 2 năm;
nhóm B không quá 4 năm, nhưng trên thực tế một số dự án nhóm C kéo dài quá
2 năm, nhóm B quá 4 năm. Nguyên nhân đến từ:
- Thủ tục phê duyệt dự án phải qua nhiều Sở ngành.
- Công tác thẩm định kéo dài thời gian so với qui định do liên quan đến
nhiều cơ quan, việc giải quyết các vấn đề cụ thể của các cơ quan có liên quan
không phải là một sớm một chiều.
- Chậm đưa công trình vào hoàn thành.
- Và phần lớn tình trạng chậm tiến độ là vì chậm bố trí vốn, khả năng
cân đối vốn của tỉnh thấp.
Một số dự án điển hình khác như dự án trung tâm y tế huyện Yên Mô,
dự án trường Chính trị Tỉnh, dự án nước sạch sinh hoạt xã Gia Lập.
Kéo dài thời gian đầu tư không những ảnh hưởng đến hiệu quả dự án mà
còn gây ảnh hưởng lớn đối với các mặt khác của đời sống KT - XH như vấn đề
ô nhiễm, giao thông ...
d. Quản lý chi phí dự án:
Nhìn chung chi phí dự án đã được chủ đầu tư quản lý khá chặt chẽ trên
cơ sở hướng dẫn của Nghị định số 99/2007/NĐ - CP ngày 13 tháng 6 năm 2007
về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình trong quá trình lập tổng mức đầu
tư. Sau đấu thầu, các khoản chi phí xây dựng đều được xã hội hoá giao cho các
nhà thầu trực tiếp quản lý. Chủ đầu tư chi quản lý chi phí theo dự toán chứ
không đi sâu giám sát từng hạng mục chi phí trong quá trình thực hiện dự án.
Tuy chủ sở hữu các nguồn vốn đầu và tài sản mới hình thành là Nhà
nước, các chủ đầu tư là người chủ sử dụng công trình nhưng không phải là
người chủ thực sự của đồng vốn nên chưa đề cao ý thức tiết kiệm trong chi tiêu,
thậm chí còn có tư tưởng xin được càng nhiều vốn của Nhà nước càng tốt. Ví dụ
dự án xây dựng đường liên huyện cấp II thì qui chuẩn một lần đượng rộng 7,5m
dự án sao cho đảm baỏi quy chuẩn xây dựng của Nhà nước. Chất lượng xây
dựng công trình phụ thuộc vào các đối tượng sau:
+. Chủ đầu tư: Chủ đầu tư chịu trách nhiệm quản lý chất lượng công
trình xây dựng ngay từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư cho đến khi kết
thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng. Trách nhiệm quản lý chất
lượng công trình xây dựng gồm:
- Thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về lập, thẩm định, trình
duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, tổ chức đấu
thầu hoặc lựa chọn nhà thầu.
- Tuyển chọn tổ chức tư vấn, cung ứng vật tư, thiết bị, xây lắp có đủ tư
cách pháp nhân, có đủ năng lực để đảm nhận các công việc trong quá trình đầu
tư.
- Kiểm tra chất lượng các loại vật tư, cấu kiện xây dựng, thiết bị lắp đặt
đúng theo yêu cầu thiết kế và tiêu chuẩn kỹ thuật được duỵêt.
- Được quyền yêu cầu các tổ chức tư vấn, cung ứng, tổ chức nhận thầu
xây lắp giải trình về chất lượng vật liệu, thiết bị và công việc do các tổ chức này
thực hiện nếu thấy không đạt yêu cầu quy định có quyền yêu cầu sửa chữa, thay
thế hoặc từ chối nghiệm thu.
Để thực hiện các nhiệm vụ trên đòi hỏi chủ đầu tư phải có đủ năng lực để
quản lý dự án hoặc thành lập Ban quản lý dự án để giúp chủ đầu tư quản lý dự án.
+. Trách nhiệm của nhà thầu:
- Chỉ được phép nhận thầu thi công những công trình thực hiện đúng thủ
tục đầu tư và xây dựng, phù hợp với năng lực của mình; thi công đúng thiết kế
được duyệt; áp dụng đúng các tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng đã được quy định
và chịu sự giám sát, kiểm tra thường xuyên về chất lượng công trình của chủ
đầu tư tổ chức thiết kế và cơ quan giám định Nhà nước theo phân cấp quản lý
chắt lượng công trình xây dựng.
- Chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và trước pháp luật về chất lượng thi
công xây lắp công trình kể cả những phần việc do nhà thầu phụ thực hiện theo
quy định của hợp đồng giao nhận thầu xây lắp.
Việc chấp hành quy định về chế độ báo cáo tình hình thực hiện các công trình
XDCB, báo cáo giám sát đánh giá đầu tư của các Huyện, thị, các chủ đầu tư với
các cơ quan quản lý nhà nước còn thiếu và chậm. Đa số các ban quản lý và chủ
đầu tư thực hiệm công việc giám sát đánh giá đầu tư chỉ mang tính hình thức
chưa phản ánh được tình hình thực hiện dự án , còn tư tưởng nể nang, chiếu lệ.
Giai đoạn 2003 - 2008 công tác giám sát đánh giá công đồng đã được
triển khaithực hiện trên tất cả các đơn vị huyện thị và đạt được những thành quả
tốt, góp phần nâng cao chất lượng công trình đầu tư xây dựng. Đây là một
phương pháp giám sát mới rất và rất khoa học lại đề cao tinh thần trách nhiệm
của mọi tầng lớp nhân dân trong quản lý nguồn lực kinh tế. Trong thời gian tới,
cần phát huy hơn nữa công tác giám sát công cộng ở mọi khâu, mọi giai đoạn
của quá trình quản lý để phát huy cao độ trách nhiệm của mọi tầng lớp nhân dân
trong quản lý tài sản chung của xã hội, hạn chế những lãng phí không cần thiết.
g. Quản lý nhân lực:
+. Năng lực chủ đầu tư:
- Chủ đầu tư thiếu năng lực chuyên môn và kinh nghiệm về lĩnh vực đầu
tư của dự án: Không nắm được các quy định về quản lý một dự án, lúng túng
trong tổ chức thực hiện, từ lập dự án, trình duyệt, thẩm định, tổ chức đấu thầu,
giám sát thi công xây lắp và nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng. Dự án xây
dựng cơ sở hạ tầng khu phòng học trường phổ thông trung học chuyên Lương
Văn Tuỵ là một trưởng hợp điển hình, chủ đầu tư là Sở Giáo dục và Đào tạo
tỉnh được giao trọng trách chủ đầu tư, BQLDA thành lập theo cách thức
kiêm nhiệm bao gồm thành viên ban quản lý là các thầy cô giáo nên không
có kinh nghiệm, chuyên môn về quản lý xây dựng, khi điều hành dự án đã
gặp phải không ít khó khăn.
- Ban quản lý dự án: ở tỉnh Ninh Bình, chỉ trử Sở Giao thông và sở Nông
nghiệp là có BQLDA chuyên trách, còn lại dự án của các sở ngành khác hầu hết
là thành lập BQLDA kiêm nhiệm. Các thành viên BQLDA kiêm nhiệm là các
cán bộ, chuyên viên đến từ các sở ngành khác nhau nên việc am hiểu những vấn
đề chuyên môn về đầu tư xây dựng chưa thực sự toàn diện và sâi sắc, vẫn gặp