THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ODA TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ
ĐẦU TƯ TRONG THỜI GIAN QUA
Trong thời gian qua, ODA đã hỗ trợ thực hiện thắng lợi nhiều nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội đất nước thông qua việc cung cấp vốn, bao gồm cả vốn ODA
không hoàn lại và ODA vốn vay ưu đãi để xây dựng các công trình và cung cấp dịch
vụ tư vấn về tăng cường năng lực thể chế và đào tạo con người. Những thành tựu
đã đạt được trên các lĩnh vực phát triển kinh tế và xã hội, thu hút các nguồn vốn
đầu tư, xoá đói, giảm nghèo, tăng cường năng lực thể chế và năng lực con người…
đều có sự đóng góp không nhỏ của ODA. Để đạt được những thành tựu đó có phần
không nhỏ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH&ĐT) trong công tác quản lý các dự
án ODA.
2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
2.1.1. Lịch sử hình thành Bộ KH&ĐT
Ngày 8 tháng 10 năm 1955, Hội đồng Chính phủ quyết định thành lập Uỷ
ban Kế hoạch Quốc gia, đến ngày 9 tháng 10 năm 1961 Uỷ ban Kế hoạch Quốc gia
được đổi tên thành Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Ngày 1 tháng 11 năm 1995, thực
hiện Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đã ra Nghị định số 75/CP thành lập Bộ
KH&ĐT trên cơ sở hợp nhất Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước và Uỷ ban Nhà nước về
Hợp tác và Đầu tư. Hiện nay Bộ KH&ĐT có trụ sở tại số 2 Hoàng Văn Thụ, Quận
Ba Đình, Hà Nội.
Trải qua chặng đường hơn 60 năm hình thành và phát triển, Bộ KH&ĐT qua
từng thời kỳ đã gắn bó với vận mệnh Tổ quốc, luôn luôn xứng đáng với lòng tin
cậy của Đảng và Nhà nước. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội qua từng thời kỳ
đã thực sự là công cụ chủ yếu của Nhà nước để quản lý, điều hành và phát triển
kinh tế - xã hội. Hiện nay đội ngũ cán bộ của Bộ đã lớn mạnh nhiều, cơ cấu bộ
máy của Bộ đã được hoàn thiện, chức năng nhiệm vụ của các đơn vị trong Bộ đã
được xây dựng và đang vận hành một cách tích cực, có hiệu quả trong công tác
nghiên cứu tổng hợp kế hoạch, làm tròn chức năng tham mưu cho Đảng và Nhà
nước trong lĩnh vực kinh tế - xã hội.
Hiện nay, hướng vào việc thực hiện các mục tiêu chiến lược đến 2010 -
Chiến lược đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ
danh mục các dự án đầu tư trong nước, các dự án thu hút vốn đầu tư nước ngoài và
điều chỉnh trong trường hợp cần thiết; giúp Chính phủ quản lý đối với hoạt động
đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp của nước ngoài vào Việt Nam, của Việt Nam
ra nước ngoài.
Tổ chức hoạt động xúc tiến đầu tư, hướng dẫn thủ tục đầu tư. Thẩm định,
cấp giấy phép đầu tư cho các dự án theo thẩm quyền. Hướng dẫn, theo dõi, kiểm
tra, xử lý các vấn đề phát sinh trong quá trình hình thành, triển khai và thực hiện
dự án đầu tư theo thẩm quyền. Đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế - xã hội của
hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.
Làm đầu mối tổ chức các cuộc tiếp xúc của Thủ tướng Chính phủ với các
nhà đầu tư ở trong nước cũng như ở nước ngoài. Tổng hợp chung về lĩnh vực đầu
tư trong và ngoài nước.
5. Về quản lý ODA: Chủ trì soạn thảo chiến lược, quy hoạch thu hút và sử
dụng ODA; tổng hợp danh mục các chương trình, dự án sử dụng ODA trình Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt. Chủ trì việc chuẩn bị, tổ chức vận động và điều phối
các nguồn ODA phù hợp với chiến lược, quy hoạch thu hút, sử dụng ODA và danh
mục chương trình, dự án ưu tiên vận động ODA.
Chuẩn bị nội dung và tiến hành đàm phán ký kết điều ước quốc tế khung về
ODA. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổng hợp và lập kế hoạch giải ngân vốn
ODA. Chủ trì theo dõi và đánh giá các chương trình dự án ODA; làm đầu mối xử
lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý các vấn đề có liên
quan đến nhiều bộ, ngành; định kỳ tổng hợp báo cáo về tình hình và hiệu quả thu
hút, sử dụng ODA.
6. Về quản lý đấu thầu: Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kế hoạch
đấu thầu và kết quả đấu thầu các dự án thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ
tướng Chính phủ; theo dõi việc tổ chức thực hiện các dự án đấu thầu đã được
Chính phủ phê duyệt. Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra, giám sát, tổng hợp việc thực
hiện các quy định của pháp luật về đấu thầu; quản lý hệ thống thông tin về đấu
thầu.
7. Về quản lý nhà nước các khu công nghiệp, các khu chế xuất: Trình Chính
12. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống tham nhũng, tiêu
cực và xử lý các vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực kế hoạch và đầu tư thuộc
thẩm quyền của Bộ.
13. Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; chỉ đạo thực hiện chế độ tiền lương
và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức,
viên chức nhà nước thuộc Bộ quản lý; đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp
vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý
của Bộ.
14. Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được
phân bổ theo quy định của pháp luật.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của Bộ KH&ĐT
Cơ cấu tổ chức của Bộ KH&ĐT được quy định trong Nghị định của Chính
phủ số 61/2003/NĐ-CP ban hành ngày 6 tháng 6 năm 2003, bao gồm:
Bộ trưởng: Bộ trưởng Bộ KH& ĐT quy định cụ thể các nhiệm vụ và biên
chế cho từng đơn vị của Bộ; Xây dựng chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy
và quy chế hoạt động của các tổ chức giúp việc; chịu trách nhiệm trước
Chính phủ về các hoạt động và quản lý toàn bộ hoạt động của Bộ.
Các Thứ trưởng: Thứ trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về lĩnh vực
công tác được phân công.
Các tổ chức giúp Bộ trưởng thực hiện chức năng quản lý Nhà nước:
Có 21 tổ chức giúp việc cho Bộ trưởng, gồm:
1. Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân.
2. Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ.
3. Vụ Tài chính, tiền tệ.
4. Vụ Kinh tế công nghiệp.
5. Vụ Kinh tế nông nghiệp.
6. Vụ Thương mại và dịch vụ.
7. Vụ Kết cấu hạ tầng và đô thị.
8. Vụ Quản lý khu công nghiệp và khu chế xuất.
9. Vụ Thẩm định và giám sát đầu tư.
Bộ phải chuẩn bị nội dung và tiến hành đàm phán điều ước quốc tế khung về
ODA; đại diện cho Chính phủ ký kết Điều ước quốc tế khung về ODA với các Nhà
tài trợ.
Bên cạnh đó công tác hướng dẫn các đơn vị, tổ chức có liên quan chuẩn bị
chương trình, dự án ODA; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xác định hình thức sử
dụng vốn ODA thuộc diện ngân sách nhà nước cấp phát hoặc cho vay lại; thẩm
định trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt văn kiện chương trình, dự án ODA
thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ cũng do Bộ KH&ĐT đảm
nhận.
Bộ theo dõi, hỗ trợ chuẩn bị nội dung và đàm phán Điều ước quốc tế cụ thể
về ODA với các nhà tài trợ.
Bộ KH&ĐT chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổng hợp và lập kế hoạch
giải ngân vốn ODA, kế hoạch vốn đối ứng hàng năm đối với các chương trình dự
án ODA thuộc diện cấp phát từ nguồn ngân sách; tham gia cùng Bộ Tài chính về
giải ngân, cơ chế trả nợ, thu hồi vốn vay ODA.
Bộ chủ trì theo dõi và đánh giá các chương trình dự án ODA; làm đầu mối
xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xử lý các vấn đề có
liên quan đến nhiều bộ, ngành; định kỳ tổng hợp báo cáo về tình hình và hiệu quả
thu hút, sử dụng ODA.
2.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH HÌNH QUẢN LÝ CÁC DỰ
ÁN ODA TẠI BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ
2.2.1. Nhân tố khách quan
Nguồn vốn ODA giữ một vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế
xã hội của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, vì vậy, cần phải quản
lý các dự án ODA sao cho có hiệu quả. Tuy nhiên, để quản lý các dự án ODA có
hiệu quả còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố, cả khách quan và chủ quan. Có thể nêu
ra 4 nhân tố khách quan chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chiến lược, mục đích cung cấp ODA trong từng thời kỳ của nhà tài
trợ. Các nhà tài trợ khi cung cấp ODA thì thường có 3 mục tiêu: Mục tiêu kinh tế,
mục tiêu chính trị và mục tiêu nhân đạo. Nhằm thực hiện mục tiêu kinh tế, ODA sử
y tế, giáo dục, bảo đảm bền vững về môi trường là một phần quan trọng của viện
trợ. Mục tiêu này đã góp phần không nhỏ vào các chương trình phát triển kinh tế -
xã hội ở các nước thế giới thứ ba. Do đó càng phải đảm bảo nguồn vốn này được
quản lý chặt chẽ, giúp nâng cao đời sống người dân và giảm hố ngăn cách giàu
nghèo giữa các vùng, các quốc gia.
Thứ hai là các cơ chế, chính sách của Việt Nam và nhà tài trợ về quản lý dự
án ODA. Nhìn chung, giữa quốc gia tiếp nhận và quốc gia tài trợ ít có trường hợp
cùng áp dụng một mô hình tổ chức quản lý chung nào đó. Cơ chế chính sách quản lý
nguồn vốn ODA của các nước tài trợ hoặc tổ chức cung cấp ODA đa phương thay
đổi sẽ ảnh hưởng đến tình hình thực hiện những dự án ODA của nước đi vay và ảnh
hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn của nước này. Tương tự, phía Việt Nam cũng có
những văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức quản lý, sử dụng nguồn
vốn ODA. Nếu các văn bản này ổn định và phù hợp với phía cho vay sẽ góp phần
thúc đẩy công tác quản lý tốt nguồn vốn ODA, giảm bớt xung đột giữa các bên.
Thứ ba là các Hiệp định ký kết giữa Việt Nam và các tổ chức tài trợ ODA.
Bất kỳ dự án ODA nào cũng bao gồm 2 phần: Phần vật chất giúp phát triển cơ sở
hạ tầng và phần chính sách kèm theo. Chính sách chính là “Hiệp định vay”. Nội
dung phản ánh đầy đủ tôn chỉ và mục đích hoạt động của tổ chức tài trợ cũng như
các qui định về các điều khoản cho vay: thời hạn vay, đồng tiền, lãi suất, lịch trả nợ
lãi và gốc, quy định về giải ngân, mua sắm, đấu thầu, kế toán, kiểm toán, chế độ
kiểm tra, báo cáo… Song song với Hiệp định vay là các văn bản quy phạm do các
tổ chức song phương và đa phương ban hành liên quan đến từng nội dung trên và
buộc các nước đi vay phải tuân thủ thực hiện. Chính những Hiệp định, và những
văn bản quy phạm pháp luật này ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quản lý, nội dung
quản lý đối với từng dự án, từng lĩnh vực tài trợ và từng nhà tài trợ.
Chẳng hạn, WB chủ thuyết rằng, ngành điện phải được tư nhân hoá và các
doanh nghiệp trong ngành phải hoạt động trên cơ sở doanh lợi, nếu Việt Nam
muốn nhận thêm viện trợ cho ngành này. Họ yêu cầu phải thay đổi giá điện và
không chấp nhận giá điện bao cấp. Ban đầu, Chính phủ đồng ý với điều kiện này,
vì nước ta rất cần vốn cho phát triển. Hơn nữa, Chính phủ cũng nhận thức sâu sắc
thoại và chia sẻ thông tin với các nhà tài trợ thì mới đạt được sự thống nhất trong quá
trình quản lý.
2.2.2. Nhân tố chủ quan
Bên cạnh những nhân tố khách quan, tình hình quản lý các dự án ODA còn
chịu tác động của nhiều nhân tố chủ quan, bao gồm:
Một là cấu trúc tổ chức, quản trị, điều hành nguồn vốn ODA. Thường có 3
loại cấu trúc tổ chức trong quản lý dự án ODA: Cấu trúc tổ chức trên cơ sở phòng
ban chức năng, cấu trúc dạng dự án và cấu trúc dạng ma trận. Tuỳ từng đặc trưng,
hoàn cảnh, môi trường thực hiện dự án cũng như lĩnh vực, quy mô của dự án mà
cấu trúc tổ chức quản lý cũng khác nhau. Nếu dự án ODA là loại dự án lớn, dài
hạn, quan trọng và độc lập, nên sử dụng cấu trúc tổ chức dạng dự án. Nếu dự án
ODA là loại dự án nhỏ, có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với các dự án, công việc
khác, nên sử dụng cấu trúc tổ chức theo chức năng. Nếu dự án ODA là loại dự án
phức tạp, nhiều rủi ro, có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau với các dự án, công việc
khác, nên sử dụng cấu trúc tổ chức dạng ma trận. Cấu trúc tổ chức sẽ ảnh hưởng
đến cách thức quản lý từng dự án và có thể làm chậm hoặc đẩy nhanh tốc độ thực
hiện dự án.
Hai là mức độ hấp thụ vốn ODA trong từng thời kỳ của Việt Nam. Nghĩa là
nói đến khả năng tiếp nhận và giải ngân nguồn vốn ODA trong từng giai đoạn của
Việt Nam. Tuỳ vào tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, chính sách của từng quốc
gia trong từng thời kỳ mà khả năng hấp thụ vốn khác nhau. Một quốc gia đang trên
đà phát triển mạnh mẽ như Việt Nam thì nguồn vốn đầu tư là một nguồn vốn quý,
sẽ giúp cho chúng ta mở rộng tái đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất.
Tuy nhiên, nếu một lượng vốn đầu tư quá lớn ồ ạt chảy vào nước ta thì dễ gây sự
bất ổn trong nền kinh tế, lạm phát gia tăng.
Ba là năng lực và trình độ quản lý của nguồn nhân lực tại Bộ. Nhân tố này
có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình quản lý các dự án ODA. Đội ngũ cán bộ quản lý
tại Bộ chính là chủ thể trực tiếp ra các quyết định quản lý, vì vậy năng lực của họ
ảnh hưởng đến tính chính xác, kịp thời của các quyết định đưa ra. Hiện nay Bộ
KH&ĐT đang rất chú trọng đến vấn đề phát triển nguồn nhân lực quản lý dự án và
Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, lãnh đạo các Bộ, ngành và địa phương,
các đoàn thể chính trị, xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao Việt Nam ở nước
ngoài và đã đạt được những kết quả rõ rệt với mức cam kết ODA hàng năm đều
tăng, năm sau cao hơn năm trước (xem hình 2.1). Điều đó chứng tỏ triển vọng kinh
tế Việt Nam ngày càng khả quan, tốc độ tăng trưởng kinh tế giữ ở mức cao liên tục
nhiều năm. Quan trọng hơn là Việt Nam đã cam kết hội nhập và thực hiện tốt
những chương trình, biện pháp cải cách chính sách nhằm thiết lập quá trình tăng
trưởng bền vững.
(Nguồn: Bộ KH&ĐT)
Nhìn vào hình 2.1 ta thấy lượng vốn ODA các nhà tài trợ dành cho Việt
Nam tăng dần qua các năm, tính đến năm 2007, tổng giá trị ODA cam kết đạt
42.438 triệu USD. Trong đó những nhà tài trợ cam kết nhiều vốn ODA cho Việt
Nam bao gồm Nhật Bản, WB, ADB, các tổ chức Liên hợp quốc, Pháp, Đức,…
Điều này đã thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng các nhà tài trợ quốc tế đối
với công cuộc đổi mới của Việt Nam, hỗ trợ Việt Nam trong sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo…
Hiện nay ở Việt Nam có 51 nhà tài trợ, bao gồm 28 nhà tài trợ song phương
và 23 nhà tài trợ đa phương, có các chương trình ODA thường xuyên:
- Các nhà tài trợ song phương: Ai-xơ-len, Anh, Áo, Ba Lan, Bỉ, Ca-na-đa,
Cô-oét, Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Hàn Quốc, Hungari, I-ta-lia, Luc-xem-bua, Mỹ,
Na-uy, Nhật Bản, Niu-di-lân, Ôt-xtrây-lia, Phần Lan, Pháp, Séc, Tây Ban Nha,
Thái Lan, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Trung Quốc, Singapore.
- Các nhà tài trợ đa phương:
+ Các định chế tài chính quốc tế và các quỹ: WB, IMF, ADB, Ngân
hàng Đầu tư Bắc Âu (NIB), Quỹ Phát triển Bắc Âu (NDF), Quỹ Phát triển quốc tế
của các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC (OFID - trước đây là Quỹ OPEC), Quỹ
Kuwait.
+ Các tổ chức quốc tế và liên chính phủ: Ủy ban châu Âu (EC), Cao
uỷ Liên hợp quốc về người tỵ nạn (UNHCR), Quỹ Dân số của Liên hợp quốc
(UNFPA), Chương trình Phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO),
3
Giao thông vận tải - Bưu
chính viễn thông
2540,76 2444,61 96,15 25,36
4
Khoa học công nghệ - Môi
trường
1005,30 725,78 279,52 10,03
5 Y tế - Giáo dục - Xã hội 1062,67 483,70 578,97 10,61
6 Ngành khác 2218,85 1804,94 413,91 22,15
Tổng 10017,50 8295,06 1722,44 100
(Nguồn: Bộ KH&ĐT)
Trong cơ sở hạ tầng kinh tế, ngành Giao thông vận tải - Bưu chính viễn
thông được ưu tiên cao nhất với số vốn ODA hơn 2,54 tỷ USD, trong đó chủ yếu là
ODA vốn vay ưu đãi, vốn ODA không hoàn lại chỉ chiếm gần 3,78%. Về cơ sở hạ
tầng xã hội, ODA đã được ưu tiên hỗ trợ phát triển giáo dục, y tế, xã hội với tổng
số vốn là 1,062 tỷ USD trong thời kỳ 2001 - 2005. Đặc biệt trong lĩnh vực y tế, vốn
ODA không hoàn lại chiếm tỷ trọng cao, 63,41% trong tổng vốn ODA trên 0,5 tỷ
USD thời kỳ 2001 - 2005 đã được ký kết.
2.2.2. Thực trạng giải ngân nguồn vốn ODA tại Việt Nam thời gian qua
Trong thời gian đầu (1993 - 1999) số vốn ODA giải ngân theo văn bản thấp
so với mức bình quân các nước khác trong khu vực do chúng ta chưa có kinh
nghiệm trong việc tiếp nhận và thực hiện các thủ tục giải ngân theo tiêu chuẩn