CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ
GIÁO VIÊN TRƯỜNG DẠY NGHỀ
I/ Trường dạy nghề và đội ngũ giáo viên trường dạy nghề.
1. Trường dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân.
1.1. Khái niệm trường dạy nghề.
Là cơ sở dạy nghề thuộc hệ thống giáo dục quốc dân được thành
lập và hoạt động theo quy định của pháp luật để đào tạo nguồn nhân lực
kỹ thuật trực tiếp sản xuất, dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động
về số lượng, chất lượng, cơ cấu vùng, miền, cơ cấu ngành nghề, cơ
cấu trình độ đào tạo. Trường dạy nghề là đơn vị sự nghiệp, có quyền tự
chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
1.2. Vai trò của trường dạy nghề trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Đáp ứng yêu cầu cạnh tranh của nền kinh tế:
Để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh
tranh của từng doanh nghiệp, từng ngành kinh tế và nền kinh tế quốc
dân, cần phát huy các nguồn lực, sử dụng hiệu quả các nguồn lực,
trong đó nguồn lực con người là quan trọng nhất. Muốn phát huy nguồn
lực con người, tăng năng suất lao động phải thông qua giáo dục đào
tạo, trong đó đào tạo nghề là bộ phận quan trọng.
- Đáp ứng nhu cầu liên doanh, liên kết với nước ngoài:
Kinh tế thị trường hội nhập quốc tế đi cùng với nó là mở rộng liên
doanh, liên kết với nước ngoài, là quá trình chuyển giao công nghệ mới
và xuất khẩu sản phẩm mới. Dẫn đến nhu cầu rất lớn về đội ngũ lao
động có tay nghề, kiến thức về kỹ thuật đáp ứng cho các khu công
nghiệp, khu chế xuất mới.
- Đáp ứng yêu cầu xuất khẩu lao động, mở rộng hợp tác quốc tế về
lao động:
Việc phân công và hợp tác quốc tế là xu hướng ngày càng phát
triển. Xuất khẩu lao động là chiến lược lâu dài, thường xuyên của các
quốc gia đang phát triển. Đối với nước ta, xuất khẩu lao động không
những vừa giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhập cho nhân
định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không
ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học. Nhà nước tổ
chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo, có chính sách đảm bảo những điều
kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiệ nhiệm vụ của
mình. Giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh
nghề dạy học”.
* Nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên dạy nghề:
Nhiệm vụ của giáo viên dạy nghề:
1- Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình quy định và kế
hoạch được giao.
2- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp
luật, chấp hành quy chế, nội quy của Nhà trường, tham gia các hoạt
động chung trong trường và với địa phương nơi trường đặt trụ sở.
3- Thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, rèn luyện phẩm chất đạo đức, giữ gìn uy tín, danh dự
của nhà giáo.
4- Tôn trọng nhân cách và đối xử công bằng với người học, bảo vệ
các quyền lợi và lợi ích chính đáng của người học nghề.
5- Chịu sự giám sát của Nhà trường về nội dung, chất lượng,
phương pháp giảng dạy và nghiên cứu khoa học.
6- Hoàn thành các công việc khác được trường, đơn vị phụ trách
hoặc bộ môn phân công.
7- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyền hạn của giáo viên dạy nghề:
1-Được bố trí giảng dạy phù hợp với chuyên ngành được đào tạo
và kế hoạch được giao.
2- Được lựa chọn phương pháp, phương tiện giảng dạy nhằm phát
huy năng lực cá nhân, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
3- Được sử dụng giáo trình, tài liệu, họ liệu dạy nghề, cơ sở vật
chất kỹ thuật của trường đê thực hiện nhiệm vụ giảng dạy.
nhân, công nhân kỹ thuật tay nghề cao.
- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt
nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên
dạy thực hành phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ
nhân, người có tay nghề cao.
- Trường hợp những giáo viên quy định tại 3 điểm trên, nếu không
có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ
thuật thì phải có chứng chỉ sư phạm dạy nghề.
2. Nguyên lý đào tạo và phát triển.
- Người được đào tạo phải có động lực học hỏi:
Để học hỏi một người phải muốn học hỏi. Trong môi trường đào
tạo, động lực ảnh hưởng đến nỗ lực đào tạo của mỗi người, tạo mối
quan tâm tập trung vào các hoạt động đào tạo, và củng cố những điều
được học hỏi. Động lực chịu ảnh hưởng bởi những niềm tin và nhận
thức của người được đào tạo. Nếu mộ người được đào tạo không có
động lực, chương trình đào tạo sẽ hoàn thành được rất ít.
- Người được đào tạo phải có khả năng học hỏi:
Để học hỏi về nhiều điều phức tạp, một người phải có những đặc
điểm nhất định. Khả năng học hỏi đóng một vai trò quan trọng trong việc
liệu cái được giảng dạy trong một chương trình đào tạo có thể được
hiểu và được ứng dụng trở lại công việc.
- Việc học hỏi phải được củng cố thông qua hành vi:
Người học phải được khen thưởng cho hành vi mới dưới hình thức
thỏa mãn nhu cầu, chẳng hạn như: trả tiền, sự hiểu biết, và thăng tiến.
Các tiêu chuẩn công việc cần được thiết lập cho người học. Việc sử
dụng tiêu chí đánh giá cho học tập đưa ra mục tiêu và đem lại cảm giác
hoàn thành công việc khi đạt được mục tiêu đó.
- Đào tạo phải đưa ra thực tế áp dụng cho tài liệu:
Cần có thời gian để tiếp thu những điều đượ học, chấp nhận nó, “
hấp thụ” nó, và có niềm tin vào nó. Điều này đòi hỏi việc áp dụng và tái
năng nào, cho loại lao động nào và bao nhiêu người. Nhu cầu đào tạo
được xác định dựa trên phân tích nhu cầu lao động của tổ chức, các
yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc và phân tích trình
độ, kiến thức, kỹ năng hiện có của người lao động.
Để xem xét các vấn đề trên thì nhà trường dựa vào phân tích công
việc và đánh giá tình hình thực hiện công việc. Để hoàn thành được
công việc và nâng cao năng suất lao động với hiệu quả cao, thì tổ chức
phải thường xuyên xem xét, phân tích kết quả thực hiện công việc hiện
tại của người lao động thông qua hệ thống đánh giá thực hiện công việc.
Để tìm ra những yếu kém, thiếu hụt về khả năng thực hiện công việc
của người lao động so với yêu cầu của công việc đang đảm nhận, với
mục tiêu dự kiến đã định trước để tìm ra nguyên nhân dẫn đến những
thiếu hụt về kiến thức kỹ năng của người lao động so với yêu cầu của
công việc, đó là cơ sở để xác định nhu cầu đào tạo.
Mô hình phân tích nhu cầu đào tạo.
Nguồn: Phương pháp và kỹ năng quản lý nhân sự, NXB Lao động- Xã hội 2007
Bất kỳ khoảng cách nào giữa kết quả kỳ vọng và kết quả thực tế
cung có thể đưa ra gợi ý về nhu cầu đào tạo. Sự kết hợp một cách tích
cực những gợi ý của người lao động, người giám sát, nhà quản lý, và
trung tâm đào tạo có thể đưa ra các ý tưởng.
3.1.1 Các cấp độ phân tích nhu cầu đào tạo
* Phân tích nhu cầu cấp nhà trường:
Phân tích nhu cầu cấp trường đòi hỏi phải xem xét sự hợp lý của
hoạt động đào tạo trong mối liên hệ với mục tiêu dài hạn, mục tiêu ngắn
hạn của nhà trường, nguồn lực sẵn có ( thời gian, tài chính, chuyên gia)
dành cho đào tạo và phát triển. Trên căn cứ vào cơ cấu tổ chức, căn cứ
kế hoạch nhân lực tổ chức sẽ xác định số lượng, loại lao động và loại
kiến thức kỹ năng cần đào tạo.
* Phân tích nhu cầu cấp ngành( khoa):
Phân tích nhu cầu chuyên ngành cần đào tạo bao gồm việc xác
nhà trường xây dựng nhu cầu đào tạo.
* Phương pháp quan sát thực hiện công việc: thông qua hành vi
công tác thực tế của giáo viên được quan sát trực tiếp tại hiện trường
làm việc để đưa ra đánh giá về nhu cầu đào tạo. Người quan sát phải
thông thạo tình hình công tác chức vị hoặc phải là chuyên gia ở lĩnh
vực quan sát. Những hành vi công việc cần quan sát bao gồm tính
thành thạo và chính xác trong công việc, tốc độ làm việc, số lượng và
chất lượng làm việc… Thông thường phải quan sát hết một chu kì làm
việc để đánh giá một cách toàn diện hành vi công tác của người nhậm
chức.