THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ - Pdf 67

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG DU LỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ
I. CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI CÓ ẢNH
HƯỞNG TỚI PHÁT TRIỂN DU LỊCH PHÚ THỌ
1. Điều kiện tự nhiên
1.1. Vị trí địa lý
Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ, được tái lập từ ngày
01/01/1997 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú. Với diện tích tự nhiên là 351.956 ha
(chiếm 1,2% diện tích cả nước, xếp thứ 10/11 tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ và xếp
thứ 38/64 tỉnh, thành phố cả nước), có tọa độ địa lý 20
o
55’ đến 21
o
43’ vĩ độ Bắc và
từ 104
o
48’ đến 105
o
27’ kinh độ Đông.
Phú Thọ có 13 huyện, thành ,thị, gồm: thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ, 11
huyện: Thanh Sơn, Tân Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Tam Nông, Thanh Thuỷ, Hạ Hoà,
Thanh Ba, Đoan Hùng, Lâm Thao, Phù Ninh với 274 cơ sở xã phường, thị trấn.
Thành phố Việt Trì là trung tâm chính trị - kinh tế của tỉnh.
Phú Thọ cách thủ đô Hà Nội 80Km và các tỉnh xung quanh 100 – 300 km, là
điểm tiếp giáp giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và vùng Tây Bắc; phía
Bắc giáp Tuyên Quang, Yên Bái; Phía Nam giáp Hòa Bình; phía Đông giáp Vĩnh
Phúc, Hà Tây và phía Tây giáp Sơn La. Với vị trí là cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà
Nội và địa bàn trọng điểm kinh tế phía Bắc, nơi trung chuyển hàng hóa thiết yếu của
các tỉnh miền núi phía Bắc, các hệ thống đường bộ, đường sắt , đường sông đều quy
tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà Nội, Hải Phòng và các tỉnh thành phố khác trong cả
nước.

500Km. Đây là vùng có nhiều tiêm năng phát triển lâm nghiệp và khoáng sản.
- Tiểu vùng trung du: gồm thị xã Phú Thọ, huyện Cẩm Khê, Đoan Hùng,
Thanh Ba, Hạ Hòa và một phần huyện Phù Ninh, Tam Nông, Thanh Thủy. Địa hình
đặc trưng của vùng này là các gò đồi thấp (bình quân 50m đến 200m) xen kẽ với các
dốc ruộng.
- Tiểu vùng đồng bằng: gồm thành phố Việt Trì, huyện Lâm Thao và một
phần còn lại của các huyện lân cận. Đặc trưng của vùng này là phát triển trên phù sa
cổ cùng những cánh đồng ven sông phù hợp với sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy
sản và chăn nuôi. Một số khu vực tập trung sản xuất lương thực, nuôi trồng thủy sản
và chăn nuôi. Một số khu vực tập trung gò đồi thấp tương đối bằng phẳng, thuận lợi
cho việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp và phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
khác.
Nhìn chung, địa hình Phú Thọ tương đối phức tạp, có sự phân hóa rõ rệt giữa
3 tiểu vùng. Sự phân hóa địa hình cũng dẫn đến sự phân hóa trong quá trình đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng giữa các vùng. Tuy nhiên, nó lại là yếu tố góp phần tạo nên
sự đa dạng của tài nguyên du lịch Phú Thọ. Do vậy, trong quá trình thu hút đầu tư cần
phải cố gắng phân bổ vốn hợp lý cho các vùng địa hình cao, vùng sâu, vùng xa của
tỉnh.
1.3. Khí hậu
Phú Thọ mang đậm đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa
rõ rệt: mùa hè nắng nóng, mưa nhiều từ tháng 5 tới tháng 10 và mùa đông lạnh, mưa
ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm là 23
o
C, lượng
mưa trung bình: 1.600mm – 1.700mm; độ ẩm bình quân: 85% - 87%.
Toàn tỉnh chia thành 5 tiểu vùng khí hậu đặc trưng: tiểu vùng phía Bắc, tiểu
vùng phía Nam, tiểu vùng thung lũng Minh Đài, tiều vùng Cẩm Khê – Thanh Ba, tiểu
vùng đồng bằng phía Đông Nam.
Nhìn chung khí hậu Phú Thọ tương đối thuận lợi cho sinh hoạt và các hoạt
động kinh tế, xã hội, đặc biệt điều kiện thời tiết này rất phù hợp cho việc sinh trưởng

Bảng 2.1: Tổng hợp kết quả tăng trưởng (GDP) của tỉnh Phú Thọ
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu 1997 2000 2005 2007 2008
* GDP giá 1994 (Tỷ đồng) 2 237 2 794 4 457 5 469 6056
- Nông lâm nghiệp 710 861 1 211 1 329 1355
- Công nghiệp- Xây dựng 771.5 1 043 1 852 2 388 2776
- Dịch vụ 755.8 890 1 394 1 752 1925
(Nguồn: Niên giám thống kế 2007 của tỉnh Phú Thọ)
Hình 2.1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Phú Thọ giai đoạn 1997 – 2008
Đơn vị: %
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2007 của tỉnh Phú Thọ)
Bảng 2.2: So sánh tăng trưởng kinh tế (GDP) của Phú Thọ với vùng Trung du
Miền núi Bắc Bộ và cả nước
Đơn vị tính: %
Phú Thọ Vùng TDMNBB Cả nước
Giai đoạn 1997- 2000
8,16 7,0 6,7
Giai đoạn 2001- 2005
9,79 9,2 7,5
Năm 2006
10,7 - 8,17
Năm 2007
10,9 - 8,5
Năm 2008
10,6 - 6,23
(Nguồn: Viện chiến lược phát triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
2.2. Về chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1997 - 2008 (theo giá hiện hành)
Đơn vị tính: %
Chỉ tiêu 1997 2000 2005 2007 2008

100,0
36,5
29,8
33,7
100,0
38,0
27,0
35,0
100,0
21,2
45,2
33,6
100,0
26,6
34,3
39,1
100,0
36,8
24,5
38,7
100,0
41,8
20,0
38,2
(Nguồn: Viện Chiến lược phát triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư)
2.3. Về dân số và nguồn nhân lực
Bảng 2.4: Dân số tỉnh Phú Thọ năm 2007
Đơn vị: Người
Huyện, thị Tổng số
Phân theo giới tính Phân theo khu vực

Bảng 2.5: Phân bố lao động trên địa bàn Phú Thọ từ 2003 đến 2007
Đơn vị: nghìn người
2003 2004 2005 2006 2007
Số người trong độ tuổi lao động 652,3 658,8 661,2 665,9 679,7
Phân phối theo ngành
Nông, lâm, thủy sản 483,7 482,7 482,1 481,5 469,6
Tỷ lệ (%) 74,2 73,3 72,9 72,3 69,1
Công nghiệp, xây dựng 86,8 88,5 88,9 94,9 108,4
Tỷ lệ (%) 13,3 13,4 13,4 14,3 15,9
Dịch vụ 81,8 87,6 90,2 89,5 101,7
Tỷ lệ (%) 12,5 13,3 13,7 13,4 15
Phân phối theo thành phần kinh tế
Trung ương 29,2 27,6 27 21,4 21,7
Tỷ lệ (%) 4,5 4,2 4,1 3,2 3,2
Địa phương 43,6 41,3 37,3 34,8 33,2
Tỷ lệ (%) 6,7 6,3 5,6 5,2 4,9
Ngoài Nhà nước 570,8 578,3 584,3 596,6 604,5
Tỷ lệ (%) 87,5 87,7 88,4 89,6 88,9
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 8,7 11,6 12,6 13,1 20,3
Tỷ lệ (%) 1,3 1,8 1,9 2,0 3,0
(Nguồn: Niên giám thống kê Phú Thọ năm 2007)
Nhìn vào bảng 2.5, có thể thấy lực lượng lao động Phú Thọ đang dịch chuyển
theo chiều hướng tăng dần tỷ trọng hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp,
giảm dần tỷ trọng hoạt động trong nông nghiệp. Một xu hướng nữa là tỷ lệ lao động
hoạt động trong khu vực kinh tế Nhà nước (trung ương và địa phương) có tỷ lệ ngày
càng giảm, trong khi tỷ lệ lao động hoạt động trong khu vực ngoài Nhà nước ngày
càng tăng lên, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (năm 2003 chỉ có 1,3%
lao động hoạt động trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài thì đến năm 2007 đã có
tới 3% lao động).
Tóm lại, điều kiện kinh tế - xã hội của Phú Thọ còn trong tình trạng thấp kém,

Bộ có khí hậu phù hợp với loài rau Sắng đặc sản có giá trị kinh tế cao.
Ngoài các giá trị về sinh học và cảnh quan hang động đá vôi, trong vườn quốc
gia Xuân Sơn còn có những dân tộc Mường, Dao cư trú từ lâu đời và cách biệt với
các địa phương khác nên vẫn giữ được nhiều phong tục, tập quán và các nét văn hóa
bản địa chưa bị pha tạp.
Với tiềm năng như vậy, Xuân Sơn có thể phát triển nhiều loại hình du lịch đa
dạng, phong phú, hấp dẫn nhiều đối tượng khách khác nhau như: nghỉ dưỡng, tham
quan, nghiên cứu, leo núi, thám hiểm hang động, tìm hiểu văn hóa của đồng bào dân
tộc thiểu số.
- Khu nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Thanh Thủy: Thuộc địa phận xã La Phù,
Chuyện Thanh Thủy, cách thành phố Việt Trì 30km. Đây là khu mỏ nước khoáng
nóng có diện tích khoảng 3km
2
, mới được tìm thấy từ năm 1999. Qua nghiên cứu cho
thấy trong nước khoáng nóng có nhiều chất vi lượng có lợi cho sức khỏe, trong đó có
hàm chất Radon quý hiếm; nhiệt độ trung bình của nước nóng 37 – 40
o
C.
Với đặc điểm gần Hà Nội, tiếp giáp với Hà Tây (mảnh đất nhiều điểm du lịch
nổi tiếng cả nước), giao thông thuận tiện lại có khá nhiều các điểm tham quan nên
Thanh Thủy thu hút được các nhà đầu tư tạo thành một điểm du lịch phục vụ an
dưỡng, chữa bệnh, massage,…hấp dẫn khách du lịch.
- Ao Giời – Suối Tiên: Suối Tiên thuộc địa phận xã Quân Khê, huyện Hạ Hòa,
cách thành phố Việt Trì 70km, nằm trên núi Nả có độ cao từ 1.000-1.200 mét, được
phủ bởi màu xanh của rừng nhiệt đới. Tại đây còn tồn tại nhiều động, thực vật quý
hiếm. Từ trên núi Nả có các dòng suối chảy quanh năm, tạo thành gần 20 dòng thác
bạc. Vài năm gần đây, Ao Giời – Suối Tiên đã trở thành một địa chỉ du lịch leo núi,
cắm trại, nghỉ dưỡng quen thuộc đối với nhân dân trong tỉnh Phú Thọ và các tỉnh phụ
cận.
Gắn với Ao Giời – Suối Tiên là chiến khu Hiền Lương, Ngòi Vần, hồ Vân Hội

Đền Hùng là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia, toàn bộ
khu di tích có 4 đền, 1 chùa và 1 lăng hài hòa trong phong cảnh thiên nhiên, có địa
thế cao, hùng vĩ, đất đầy khí thiêng của sơn thủy hội tụ.
Đền Hùng được xây dựng trên núi Hùng có độ cao hơn 175 mét so với mặt
nước biển. Người xưa truyền rằng, núi Hùng là chiếc đầu rồng hướng về phía Nam,
mình rồng uốn khúc thành núi Vặn, núi Trọc, núi Pheo, núi cao 170 mét tương đương
với núi Hùng; núi Trọc nằm giữa núi Vặn và núi Hùng theo truyền thuyết là 3 đỉnh
“Tam sơn cấm địa” được dân gian thờ từ rất lâu đời.
Đến nay, núi Hùng vẫn giữ được vẻ nguyên sơ, rừng cây rậm rạp, xanh tươi
và có khoảng 150 loài thảo mộc thuộc 35 họ, trong đó còn có loại cây đại thụ như
Chò, Thông, Lụ,..và một loài giống cây có sơ như Kim Giao, Thiên Tuế,..Trong khu
di tích lịch sử Đền Hùng là quần thể di tích có kiến trúc cổ xưa như: Cổng đền được
xây dựng vào năm Khải Định thứ 2, cổng xây theo kiểu vòm cuốn, hai tầng tám mái,
lợp giả ngói ống; Đền Hạ được tương truyền là nơi Mẹ Âu Cơ đã hạ sinh bọc trăm
trứng, nở thành trăm người con chính là tổ tiên của các dân tộc Việt; Đền Trung là
nơi các vua Hùng cùng các lạc hầu, lạc tướng bàn bạc việc nước; Đền Thượng là nơi
hàng năm vua Hùng làm lễ tế trời đất, thờ Thần Lúa, đây cũng là nơi vua Hùng lập
đền thờ Thánh Gióng sau khi đánh tan giặc Ân và cũng chính là nơi an nghỉ của vua
Hùng thứ 6. Ngoài ra còn có Nhà Bia, Chùa Thiên Quang, Đền Giếng, Đền Tổ mẫu
Âu Cơ, Bảo tàng Hùng Vương,…
+ Đền Mẫu Âu Cơ: Thuộc địa phận xã Hiền Lương, huyện Hạ Hòa. Đền được
xây dựng từ thời Hậu Lê trên mảnh đất rộng giữa cánh đồng, nằm ẩn dưới gốc cây đa
cổ thụ, mặt quay về hướng Nam, bên tả có giếng Loan, bên hữu có giếng Phượng,
phía trước có núi Giác, sau lưng sông Hồng uốn khúc như rồng thiêng bao bọc, xung
quanh có cây cối xum xuê. Kiến trúc Đền có những trạm gỗ quý giá được coi như
những tiêu bản của nền nghệ thuật đương đại. Tượng Mẫu Âu Cơ được đặt trong
khám thờ lồng kính 3 mặt, đây là pho tượng được chế tác từ thời Lê có giá trị nghệ
thuật cao.
Đền Mẫu Âu Cơ là di tích thờ quốc mẫu quan trọng trong hệ thống di tích lịch
sử văn hóa của tỉnh Phú Thọ. Hàng năm thu hút đông đảo nhân dân và khách thập

nước lấy làm ngày Giỗ Tổ Hùng Vương và được tổ chức theo nghi lễ quốc gia. Lễ
hội Đền Hùng là ngày hội quần tụ, ca ngợi sự hưng thịnh của nòi giống, là biểu tượng
của tinh thần cộng đồng, nhắc nhở người dân Việt Nam cùng chung sức xây dựng đất
nước ngày thêm phồn vinh. Lễ hội hàng năm thu hút hàng chục vạn du khách từ khắp
mọi miền đất nước.
+ Hội chọi trâu: Ở tỉnh Phú Thọ, hội chọi trâu có tại nhiều điểm, đặc biệt như
xã Chu Hóa, huyện Lâm Thao; thị trấn Phù Ninh, huyện Phù Ninh; xã Hoàng Cương,
huyện Thanh Ba, được tổ chức đều các tháng trong năm. Sau khi phân thắng bại,
người đăng cai dắt trâu về sang hôm sau mới mổ thịt để tế.
+ Hội bơi chải: Hội bơi chải phần lớn tổ chức vào mùa hè, các tháng 5 và 6
âm lịch. Đua chải Đào Xá là đua trên đầm Đào, một cái đầm lớn trên ngã ba Hương
Nộn, Dị Nâu, Đào Xá.
+ Hội Bạch Hạc (hội tung Còn): Hàng năm diễn ra từ ngày 3 – 5 tháng giêng
âm lịch tại xã Bạch Hạc, thành phố Việt Trì; đền thờ Thổ Lệnh đại vương. Lễ hội có
tục tế, rước thánh qua sông Lô sang làng kết nghĩa Tiên Cát (thờ Thạch Khanh anh
em sinh đôi với Thổ Lệnh đại vương). Trong lễ hội có trò thi tung Còn ở Đền Cả, lễ
tiến Còn, ngâm thơ Còn và cúng cơm Còn. Ngày cuối hội có lễ hạ Còn cướp Còn cầu
may.
+ Hội Chu Hóa: Lễ hội hàng năm diễn ra tại Chu Hóa, huyện Lâm Thao vào
ngày 5 tháng giêng âm lịch, nhằm tưởng nhớ 3 anh em Cả Đông, Nhị Đông và Tam
Đông là các tướng giỏi của vua Hùng thứ 18. Trong lễ hội có diễn ra trò “chạy kem”
diễn lại sự tích thần làng và nhiều trò vui khác.
+ Hội mở cửa rừng: Lễ hội diễn ra tại huyện Thanh Sơn từ ngày 6 – 15 tháng
giêng âm lịch hàng năm. Mở đầu là lễ cúng cung tên để mở hội săn bắn, sau đó từng
đôi nam nữ múa theo điệu “Gà phủ” thực hiện tín ngưỡng phồn thực.
+ Hội đánh cá: Được tổ chức ở vùng đồng bào Mường thuộc xã Thanh Kiệt,
huyện Thanh Sơn. Đây là lễ hội mừng xuân tại khu vực ở sát bản. Trong lễ hội, người
ta dùng các rọ bắt cá (dùng nhiều đồ dùng khuấy nước lên cho các chui vào rọ) để tế
lễ và chia cho các gia đình.
+ Hội hát xoan, hát ghẹo: Trong gia sản to lớn về dân ca và nghệ thuật sân

- Phú Thọ có vị trí trung tâm của vùng, giao thông thuận lợi, là điều kiện để
thu hút khách du lịch và các nhà đầu tư.
- Môi trường chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội đảm bảo.
- Thực hiện cơ chế một cửa, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiến
hành đầu tư.
- Có mặt bằng xây dựng rộng, là điều kiện cho xây dựng các dự án nhà nghỉ,
khách sạn, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại.
- Các dịch vụ ngân hàng, tài chính,....cơ bản hoàn thiện, đủ sức đáp ứng cho
nhà đầu tư và khách du lịch.
4.2. Khó khăn
- Lực lượng lao động trong du lịch không được đào tạo chuyên nghiệp
- Hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển,
hạn chế sức hấp dẫn đối với du khách và nhà đầu tư.
- Việc quản lý và khai thác tài nguyên phục vụ du lịch còn nhiều bất cập và
chồng chéo, nhiều cấp, nhiều ngành tham gia quản lý và khai thác. Do vậy việc quy
hoạch, tôn tạo và bảo tồn tài nguyên, môi trường chưa được quan tâm đúng mức.
- Nhân thức xã hội về ngành du lịch của nhân dân còn yếu. Do đó sự tham của
người dân nơi có tài nguyên du lịch trong việc bảo vệ tài nguyên, môi trường chưa
cao.
- Hệ thống cơ chế chính sách, các quy định pháp luật liên quan đến phát triển
du lịch còn thiếu.
II. THỰC TRẠNG CSHTDL PHÚ THỌ
1. Cơ sở lưu trú
Hệ thống cơ sở lưu trú của Phú Thọ đã phát triển với tốc độ khá nhanh. Năm
2000, toàn tỉnh có 12 khách sạn với 326 phòng và 621 giường thì đến năm 2005 tăng
lên 69 cơ sở với 1083 phòng lưu trú, tốc độ tăng trưởng trung bình trong thời gian
này là 55,9%. Có 13/69 cơ sở lưu trú được Tổng cụ du lịch và Sở Thương mại – Du
lịch Phú Thọ xếp hạng sao, trong đó có 1 khách sạn 3 sao, 9 khách sạn 2 sao và 3
khách sạn 1 sao. Đến cuối năm 2008, cả tỉnh đã có 115 cơ sở lưu trú, trong đó có 2
khách sạn 3 sao, 20 khách sạn 2 sao và 10 khách sạn 1 sao.

Phú Thọ là 10,5 phòng/ 1 cơ sở lưu trú.
Hầu hết các khách sạn ở Phú Thọ mới chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của khách
du lịch. Trang thiết bị ở một số khách sạn đã cũ không đồng bộ, cần nâng cấp. Các
phòng ngủ ở một số khách sạn tư nhân còn hẹp, bài trí thiết kế nội ngoại thất không
hợp lý, vệ sinh chưa đảm bảo theo yêu cầu. Tất cả cơ sở lưu trú đều chỉ hoạt động
mạnh trong mùa lễ hội, nhất là từ tháng giêng đến tháng ba âm lịch hàng năm, còn
trong các tháng còn lại hầu như được sử dụng với hiệu suất thấp. Ngoài dịch vụ lưu
trú và ăn uống, mới chỉ có một số khách sạn phát triển thêm các dịch vụ khác như
massage, karaoke,…
Bảng 2.7: Tổng hợp hệ thống cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Thọ năm 2008
Số KS, nhà nghỉ Số buồng CSLT Số giường
1. Tổng số Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ Số
lượng
Tỷ lệ
2. Xếp hạng CSLT 115 100% 1.893 100% 3.218 100%
- 1 sao 10 8,6% 204 10,8% 396 12,3%
- 2 sao 20 17,4% 674 35,6% 1319 41%
- 3 sao 2 1,7% 130 6,9% 261 8,1%
- Đủ tiêu chuẩn 83 72,3% 885 46,7% 1.242 38,6%
3. Quy mô CSLT
- Dưới 10 phòng 57 49,6% 318 16,8% 537 16,7%
- Từ 10 đến 19 phòng 32 27,8% 371 19,6% 499 15,5%
- Từ 20 đến 49 phòng 20 17,4% 653 34,5% 1.207 37,5%
- Từ 50 phòng trở lên 6 5,2% 551 29,1% 975 30,3%
(Nguồn: Sở Thương mại – Du lịch Phú Thọ )
2. Cơ sở phục vụ ăn uống


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status