Thực trạng quản lý chất thải y tế tại thành phố Hải Phòng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý : Luận văn ThS. Khoa học môi trường và Bảo vệ môi trường: 60 44 03 01 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------------------

Phạm Vũ Bích Trâm

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
-----------------------

Phạm Vũ Bích Trâm

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI Y TẾ TẠI
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ

Chuyên ngành: Khoa học môi trƣờng
Mã số: 60440301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN CHU HỒI

Tác giả Luận văn

Phạm Vũ Bích Trâm


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN..................................................................................... 4
1.1. Tổng quan về chất thải y tế ........................................................................... 4
1.1.1. Định nghĩa ................................................................................................. 4
1.1.2. Tính chất của chất thải y tế ....................................................................... 4
1.2. Nguồn phát sinh chất thải y tế từ các hoạt động trong bệnh viện ............. 6
1.3. Phân loại chất thải y tế................................................................................... 7
1.3.1. Chất thải lây nhiễm ................................................................................... 7
1.3.2. Chất thải hóa học nguy hại ....................................................................... 7
1.3.3. Chất thải phóng xạ .................................................................................... 8
1.3.4. Các bình chứa khí có áp suất .................................................................... 8
1.3.5. Chất thải thông thường ............................................................................. 8
1.4. Tác động đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời của rác thải y tế ........... 8
1.4.1. Ảnh hưởng đến môi trường ....................................................................... 8
1.4.2. Ảnh hưởng của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng ....................... 9
1.5. Các biện pháp quản lý chất thải y tế tại Việt Nam ................................... 18
1.6. Cơ sở pháp lý về quản lý chất thải y tế ...................................................... 18
1.6.1. Các Luật liên quan do Quốc hội ban hành ............................................. 19
1.6.2. Các văn bản liên quan do Chính phủ, Bộ, ngành ban hành ................... 25
1.7. Nhu cầu quản lý chất thải y tế tại thành phố Hải Phòng ......................... 23
1.7.1. Sơ lược điều kiện tự nhiên thành phố Hải Phòng ................................... 23
1.7.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội thành phố Hải Phòng..................................... 25
1.7.3. Nhu cầu quản lý chất thải y tế tại thành phố Hải Phòng ........................ 26
CHƢƠNG 2. MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........ 28

3.5. Phân tích các bất cập và nguyên nhân chủ yếu ......................................... 59
3.6. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải y tế ở Hải Phòng60
3.6.1. Giải pháp quản lý chất thải rắn .............................................................. 60
3.6.2. Giải pháp xử lý chất thải ......................................................................... 62
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ......................................................................... 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................... 68
MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHẢO SÁT
PHỤ LỤC


DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp ................................... 10
Bảng 1.2. Nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da ............... 12
Bảng 1.3. Đơn vị hành chính thành phố Hải Phòng.................................................. 24
Bảng 2.1. Ví dụ về tiêu chí đánh giá việc phân loại CTR bệnh viện ........................ 31
Bảng 2.2. Ví dụ về xác định mức độ quan trọng của tiêu chí ................................... 33
Bảng 3.1. Bảng mô tả dưới đây thống kê và dự kiến khối lượng chất thải y tế nguy
hại phát sinh trong năm 2012 và 2015 ...................................................................... 39
Bảng 3.2. Kết quả đánh giá về các tiêu chí phân loại chất thải của Bệnh viện Lao và
Bệnh phổi Hải Phòng ................................................................................................ 47
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá về các tiêu chí phân loại chất thải của Bệnh viện Phụ sản Hải
Phòng ......................................................................................................................... 48
Bảng 3.4. Kết quả đánh giá về các tiêu chí phân loại chất thải của Bệnh viện Đa khoa
huyện An Dương......................................................................................................... 49
Bảng 3.5. Đánh giá công tác xử lý chất thải rắn của BV Lao và Bệnh phổi Hải Phòng ....... 50
Bảng 3.6. Đánh giá công tác xử lý chất thải rắn của Bệnh viện Phụ sản Hải Phòng 51
Bảng 3.7. Đánh giá công tác xử lý chất thải rắn của Bệnh viện Đa khoa huyện An
Dương ........................................................................................................................ 52
Bảng 3.8. Đánh giá công tác lưu giữ chất thải rắn của BV Lao và Bệnh phổi Hải Phòng ...... 53
Bảng 3.9. Đánh giá công tác lưu giữ chất thải rắn của BV Phụ sản Hải Phòng ....... 54


Chất thải nguy hại

CTR

Chất thải rắn

CTRYT

Chất thải rắn y tế

CTYT

Chất thải y tế

RT

Rác thải

RTYT

Rác thải y tế

TYT

Trạm Y tế

QCVN

Quy chuẩn Việt Nam

được vận hành, xử lý nước thải đúng quy định. Kết quả này thêm lần nữa cảnh báo

1


những ẩn họa do việc xử lý rác thải y tế chưa đúng cách. Mặc dù đã có nhiều cố
gắng nhưng hiện nay khâu quản lý rác thải của các cơ sở y tế còn hết sức lỏng lẻo.
Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác quản lý rác thải y tế nói chung và ở
thành phố Hải Phòng nói riêng vẫn còn gặp không ít bất cập, khó khăn. Do vậy,
việc quản lý rác thải bệnh viện cần phải đặt lên hàng đầu tại mỗi cơ sở, đặc biệt tại
các bệnh viện nằm ở trung tâm của thành phố Hải Phòng - nơi tập trung đông dân
cư, nên những thiếu sót trong quản lý và xử lý chất thải y tế sẽ ảnh hưởng rất lớn tới
cộng đồng dân cư lân cận.
Việc nghiên cứu, đánh giá tình trạng chất thải y tế và tình hình quản lý chất
thải bệnh viện, trên cơ sở đó tìm ra các giải pháp quản lý hiệu quả các loại chất thải
này, góp phần cải thiện môi trường là một trong những vấn đề cấp bách hiện nay
của các bệnh viện tại thành phố Hải Phòng.
Xuất phát từ thực tế nói trên chúng tôi đã chọn đề tài “Thực trạng quản lý
chất thải y tế tại thành phố Hải Phòng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý” làm đề tài luận văn thạc sỹ.
Bố cục luận văn
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan
Chương 2: Mục tiêu, Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.2. Đối tượng nghiên cứu
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.4. Xây dựng các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá
2.5. Xác định mức độ quan trọng của các tiêu chí
2.6. Xác định mức độ tuân thủ của từng hoạt động

sức khỏe con người” [4].
1.1.2. Tính chất của chất thải y tế
1.1.2.1. Tính chất vật lý
Thành phần vật lý:
- Đồ bông vải sợi: gồm băng gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…
- Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
- Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bông tiêm, thủy tinh, ống nghiệm…
- Đồ nhựa, hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng…
- Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng…
- Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…
- Rác rưởi, lá cây, đất đá…
Theo kết quả phân tích của cơ quan bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) thành
phần chất thải thông thường và chất thải nhiễm khuẩn được trình bày như sau:
Thành phần chất thải thông thường (rác sinh hoạt y tế):
- Giấy và các loại giấy thấm: 60%
- Plastic: 20%
- Thực phẩm thừa: 10%
- Kim loại thủy tinh và các hợp chất vô cơ: 7%

4


- Các loại hỗn hợp khác: 3%
Thành phần của chất thải nhiễm khuẩn là:
- Giấy và quần áo: 50-70%
- Plastic: 20-60%
- Chất dịch: 1-10%
Kết quả khảo sát trên 80 bệnh viện trên phạm vi cả nước cho thấy thành phần
chất thải rắn y tế như sau [2]:


điều kiện thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả và giảm chi phí xử lý chất thải bệnh
viện.
Dưới đây là sơ đồ nguồn phát sinh chất thải bệnh viện:

Hình 1.1: Nguồn phát sinh chất thải bệnh viện

6


1.3. Phân loại chất thải y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại,
chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau [4]:
- Chất thải lây nhiễm
- Chất thải hóa học nguy hại
- Chất thải phóng xạ
- Bình chứa áp suất
- Chất thải thông thường
1.3.1. Chất thải lây nhiễm
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc
thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền,
lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn
khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế.
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu,
thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong
các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể
người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm.
1.3.2. Chất thải hóa học nguy hại
Chất thải hóa học phát sinh từ các nguồn khác nhau trong các hoạt động của

- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [4].
1.4. Tác động đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời của rác thải y tế
1.4.1. Ảnh hưởng đến môi trường
1.4.1.1. Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra
những tác động xấu tới môi trường không khí. Khi phân loại tại nguồn, thu gom,
vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa
chất vào không khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) chúng phát ra các khí độc: HX,
NOx, Dioxin, Furan,…từ lò đốt và CH4, NH3, H2S,... từ bãi chôn lấp. Các khí này

8


nếu không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng lớn tới sức khỏe cộng đồng dân
cư xung quanh.
1.4.1.2. Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường nước
Nước thải bệnh viện chứa nhiều mầm bệnh có khả năng lây nhiễm khá cao
như Samonella, Shigella, Vibro, Coliform, tụ cầu, liên cầu, Pseudomonas,…Nguy
cơ nhiễm virut chủ yếu là virut đường tiêu hóa, virut bại liệt,…nhiễm các kí sinh
trùng, amip, trứng giun, và các nấm. Theo thống kê, trên toàn thành phố Hải Phòng
mới chỉ có 3/25 bệnh viện đã có hệ thống xử lý nước thải và môi trường nước thải
đạt.
Một số CSYT do chưa có kinh phí cho việc xử lý rác thải y tế đã đổ các rác
thải y tế xuống các vùng đất trũng hoặc sông suối gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn
nước mặt, đặc biệt vào mùa mưa [5].
Phần lớn bãi chôn lấp ở Việt Nam chưa đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh.
Đặc biệt, việc chất thải bệnh viện được chôn lẫn chất thải sinh hoạt vẫn còn tồn tại.
Nước rác hầu hết vẫn chưa được xử lý gây nguy cơ ô nhiễm nước mặt và nước
ngầm.
1.4.1.3. Ảnh hưởng của chất thải bệnh viện tới môi trường đất

Sởi
AIDS
Uốn ván
Bại liệt
Giun sán

Số ca mới mỗi
năm

Số tử vong hàng năm

1 tỷ

5 – 7 triệu

1 tỷ
5 triệu
500 triệu
2 triệu
200 triệu
2 triệu
2 triệu
1 triệu
1 triệu
600.000
2 triệu
200.000
1 tỷ
200.000
(Nguồn: Theo trung tâm dữ liệu quốc tế)

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một
lượng rất lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào. Các tác nhân gây
bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các cách thức sau:
- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da).
- Qua các niêm mạc (màng nhầy).
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải).
- Qua đường tiêu hoá.
Có một mối liên quan đặc biệt giữa sự nhiễm khuẩn do virus gây suy giảm
miễn dịch người (HIV) và virus viêm gan B, C đó là những bằng chứng của việc lan
truyền các bệnh truyền nhiễm qua đường rác thải y tế. Những virus này thường lan
truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim tiêm có nhiễm máu người bệnh.
Trong các CSYT, tính đề kháng của khuẩn đối với các loại thuốc kháng sinh
và các hoá chất sát khuẩn cũng có thể góp phần tạo ra những mối nguy cơ do sự

11


quản lý yếu kém các chất thải y tế. Điều này đã được chứng minh, chẳng hạn từ các
plasmit từ các động vật thí nghiệm có trong chất thải y tế đã được truyền cho vi
khuẩn gốc qua hệ thống xử lý chất thải. Hơn nữa, vi khuẩn E.Coli kháng thuốc đã
cho thấy nó vẫn sống trong môi trường bùn hoạt tính mặc dù ở đó có vẻ như không
phải là môi trường thuận lợi cho sinh vật này trong điều kiện thông thường của hệ
thống thải bỏ và xử lý rác, nước.
Độ tập trung của các tác nhân gây bệnh và các vật sắc nhọn bị nhiễm các vi
sinh vật gây bệnh (đặc biệt là những mũi kim tiêm qua da) hầu như là những mối
nguy cơ tiềm ẩn sâu sắc đối với sức khoẻ trong các loại chất thải bệnh viện. Các vật
sắc nhọn có thể không chỉ là những nguyên nhân gây ra các vết, vết đâm thủng mà
còn gây nhiễm trùng các vết thương nếu nó bị nhiễm các tác nhân gây bệnh.
Tóm lại, những vật sắc nhọn được coi là một rác thải rất nguy hiểm bởi nó
gây những tổn thương kép: vừa gây tổn thương lại vừa lây truyền các bệnh truyền



thể gây nhiễm độc do tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tổn thương như
bỏng. Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hoá chất hoặc dược
phẩm qua da, qua niêm mạc, qua đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá. Việc tiếp xúc
với các chất dễ cháy, chất ăn mòn, các hoá chất gây phản ứng (formandehyd và các
chất đễ bay hơi khác) có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc
đường hô hấp. Các tổn thương phổ biến hay gặp nhất là các vết bỏng.
Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này,
chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn.
Cũng cần phải lưu ý rằng những loại hoá chất gây phản ứng có thể hình thành nên
các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao.
Các loại hoá chất diệt côn trùng quá hạn lưu trữ trong các thùng bị rò rỉ hoặc
túi rách thủng có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sức khoẻ của bất cứ ai
tới gần và tiếp xúc với chúng. Trong những trận mưa lớn, các hoá chất diệt côn
trùng bị rò rỉ có thể thấm sâu vào đất và gây ô nhiễm nước ngầm. Sự nhiễm độc có
thể xảy ra do tiếp xúc trực tiếp với sản phẩm, do hít phải hơi độc hoặc do uống phải
nước hoặc ăn phải thức ăn đã bị nhiễm độc. Các mối nguy cơ khác có thể là khả
năng dẫn đến các vụ hoả hoạn hoặc gây ô nhiễm do việc xử lý chất thải không đúng
cách chẳng hạn như thiêu huỷ hoặc chôn lấp.
Các sản phẩm hoá chất được thải thẳng vào hệ thống cống thải có thể gây
nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải sinh học hoặc
gây ảnh hưởng độc hại tới hệ sinh thái tự nhiên nhận được sự tưới tiêu bằng nguồn
nước này. Những vấn đề tương tự như vậy cũng có thể bị gây ra do các sản phẩm
của quá trình bào chế dược phẩm bao gồm các kháng sinh và các loại thuốc khác,
do các kim loại nặng như thuỷ ngân, phenol và các dẫn xuất, các chất khử trùng và
tẩy uế.
 Những nguy cơ từ chất thải gây độc gen (genotoxic):
Đối với các nhân viên y tế chịu trách nhiệm tiếp xúc và xử lý và loại chất
thải gây độc gen, mức độ ảnh hưởng của những mối nguy cơ bị chi phối bởi sự kết

thường. Bởi chất thải phóng xạ, cũng như loại chất thải dược phẩm, là một loại độc
hại gen, nó cũng có thể ảnh hưởng đến các yếu tố di truyền. Tiếp xúc với các nguồn
phóng xạ có hoạt tính cao, ví dụ như các nguồn phóng xạ của các phương tiện
chuẩn đoán (máy X quang, máy chụp cắt lớp...), có thể gây ra một loạt các tổn

14


thương (chẳng hạn như phá huỷ các mô, từ đó đòi hỏi phải dẫn đến việc xử lý loại
bỏ hoặc cắt cụt các phần cơ thể).
Các nguy cơ từ những loại chất thải có hoạt tính thấp có thể phát sinh do việc
nhiễm xạ trên phạm vi bề mặt của các vật chứa, do phương thức hoặc khoảng thời
gian lưu giữ loại chất chất thải này. Các nhân viên y tế hoặc những người làm
nhiệm vụ thu gom và vận chuyển rác thải thải phải tiếp xúc với loại chất thải phóng
xạ này là những người thuộc nhóm nguy cơ cao.
1.4.2.2. Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ
Tất cả các cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có
nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những
người ở ngoài cơ sở y tế làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những
người trong cộng đồng bị phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự sai xót trong
khâu quản lý. Dưới đây là những nhóm chính có nguy cơ cao:
- Bác sỹ, y tá, hộ lý, và các nhân viên hành chính của bệnh viện;
- Bệnh nhân điều trị ngoại trú hoặc nội trú;
- Khách tới thăm hoặc người nhà nuôi bệnh nhân;
- Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ sở
khám chữa bệnh và điều trị, chẳng hạn như giặt là, lao công, vận chuyển bệnh
nhân,…
- Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải (tại các bãi đổ rác
thải, các lò đốt rác) và những người bới rác.
Ngoài ra còn có các mối nguy cơ liên quan với các nguồn chất thải y tế quy

gây ra bởi các vật sắc nhọn trong số các nhân viên y tế và các nhân viên quản lý
chất thải.
Ở các nước đang phát triển, việc tư vấn và huấn luyện cho những nhân viên
đã tiếp xúc với chất thải có thể không chặt chẽ lắm do vậy ngày càng có nhiều
người tiếp xúc với các loại chất thải bệnh viện cả bên trong lẫn bên ngoài cơ sở y tế.
Trong bất kỳ một cơ sở y tế nào, y tá và những nhân viên quản lý bệnh viện
là những nhóm nguy cơ chính bị tổn thương, tỷ lệ tổn thương hàng năm của những
đối tượng này vào khoảng 10-20 phần nghìn. Mặc dù các tổn thương có liên quan
đến công việc trong số các nhân viên y tế và những người thu gom rác hầu hết là

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status