ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Âu Thị Hương Giang
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN, KIỂM SOÁT MỘT SỐ LOÀI
SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Thái Nguyên, năm 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Âu Thị Hương Giang
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
GIẢI PHÁP NGĂN CHẶN, KIỂM SOÁT MỘT SỐ LOÀI
SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Mã số: 885 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Cán bộ dẫn khoa học: TS. Vi Thùy Linh
Thái Nguyên, năm 2020
UBND các xã huyện Hàm Yên… đã tạo điều kiện cho tôi thu thập số liệu và những
thông tin cần thiết liên quan. Cảm ơn tới gia đình, những người thân, đồng nghiệp và
bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày …… tháng …… năm 2020
Tác giả luận văn
ÂU THỊ HƯƠNG GIANG
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .............................................................................................................i
LỜI CÁM ƠN................................................................................................................. ii
MỤC LỤC ..................................................................................................................... iii
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT.....................................................................v
DANH MỤC BẢNG BIỂU............................................................................................vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH............................................................................................ vii
MỞ ĐẦU .........................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài...............................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu..................................................2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .........................................................................3
1.1. Một số khái niệm ......................................................................................................3
1.1.1. Sinh vật ngoại lai................................................................................................3
1.1.2. Loài xâm hại.......................................................................................................3
1.1.3. Loài ngoại lai xâm hại........................................................................................4
1.1.4. Cơ sở phân mức độ xâm hại...............................................................................5
1.1.5. Tác động của sinh vật ngoại lai xâm hại ............................................................6
3.1.3. Tình trạng xâm lấn của các loài SVNL xâm hại trên địa bàn huyện Hàm Yên,
tỉnh Tuyên Quang.......................................................................................................49
3.1.4. Đánh giá ảnh hưởng của SVNL xâm hại đến môi trường tự nhiên, kinh tế, xã
hội của địa phương .....................................................................................................61
3.2. Đánh giá công tác quản lý SVNL xâm hại trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang .................................................................................................................63
3.2.1. Công tác quản lý SVNL xâm hại trên địa bàn huyện ......................................63
3.2.2. Những tồn tại và nguyên nhân .........................................................................64
3.3. Đề xuất một số giải pháp ngăn chặn, kiểm soát một số loài SVNL xâm hại trên địa
bàn huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang .......................................................................64
3.3.1. Xác định các nhóm SVNL xâm hại có thể diệt trừ, sinh vật ngoại lai phải áp
dụng các biện pháp phòng ngừa, khống chế, kiểm soát.............................................64
3.3.2. Đề xuất các giải pháp quản lý ..........................................................................65
3.3.3. Đề xuất các giải pháp kỹ thuật .........................................................................67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .......................................................................................71
1. Kết luận......................................................................................................................71
2. Kiến nghị ...................................................................................................................72
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
4
DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
B B
V ảo
CC
Bôn
ĐĐ
Da
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang..............................................................................35
Bảng 3.3. Phân bố của các loài sinh vật ngoại lai trên địa bàn huyện Hàm Yên, tỉnh
Tuyên Quang .................................................................................................................51
Bảng 3.4. Phân bố của các loài sinh vật ngoại lai theo các hệ sinh thái trên địa bàn
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang..............................................................................52
Bảng 3.5. Mật độ và phân bố của ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata) trong các hệ
sinh thái tại địa bàn huyện Hàm Yên (tháng 11/2019)..................................................53
Bảng 3.6. Mật độ và phân bố của Ốc sên Châu Phi (Achatina fulica) trong các hệ sinh
thái tại địa bàn huyện Hàm Yên (tháng 11/2019) .........................................................54
Bảng 3.7. Mật độ và phân bố của Cá Tỳ bà lớn trong các hệ sinh thái tại địa bàn huyện
Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.........................................................................................55
Bảng 3.8. Mật độ và phân bố của Trinh nữ móc trong các hệ sinh thái tại địa bàn
huyện Hàm Yên .............................................................................................................56
Bảng 3.9. Mật độ và phân bố của Cỏ lào trong các hệ sinh thái tại địa bàn huyện Hàm
Yên, tỉnh Tuyên Quang .................................................................................................57
Bảng 3.10. Mật độ và phân bố của Cây Ngũ sắc trong các hệ sinh thái tại địa bàn
huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang..............................................................................57
Bảng 3.11. Mật độ và phân bố của Trinh nữ thân gỗ trong các hệ sinh thái tại địa bàn
huyện Hàm Yên
.............................................................................................................58
Bảng 3.12. Mật độ và phân bố của Bèo Tây trong các hệ sinh thái tại địa bàn huyện
Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.........................................................................................58
Bảng 3.13. Mật độ và phân bố của Cây lược vàng trong các hệ sinh thái tại địa bàn
huyện Hàm Yên
.............................................................................................................59
vi
DANH MỤC HÌNH ẢNH
tự nhiên. Trong đó việc suy giảm đa dạng sinh học (ĐDSH), sự biến đổi các hệ sinh
thái (HST) là một vấn đề hiện nay được quan tâm hàng đầu. Một trong những nguyên
nhân có sức ảnh hưởng nhất tới đa dạng sinh học chính là sự xâm nhập và tác động của
sinh vật ngoại lai tại nơi chúng đến. Theo Công ước Đa dạng sinh học (CBD): “xâm
hại của các sinh vật ngoại lai chính là một trong những nguyên nhân chính gây mất đa
dạng sinh học, ảnh hưởng tới sự phát triển của các ngành kinh tế quan trọng như nông
nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và tới sức khỏe con người. Những loài ngoại lai xâm lấn
hiện là mối đe dọa thứ hai đối với đa dạng sinh học Trái đất, sau nguyên nhân nơi sinh
sống bị hủy hoại. Chúng tác động tiêu cực đến hệ động thực vật bản địa, gây hại môi
trường và làm thiệt hại kinh tế địa phương” (Liên Hợp Quốc, 1992). Việt Nam được
biết là một quốc gia phong phú, đa dạng về nguồn gen, thành phần loài và các hệ sinh
thái nhưng kém bền vững trước sự thay đổi, tác động của các yếu tố môi trường. Hiện
nay, các loài sinh vật ngoại lai (SVNL) vẫn tiếp tục được nhập vào nước ta qua nhiều
con đường khác nhau nhưng không được kiểm soát một cách chặt chẽ. Điều này dẫn
đến nguy cơ làm mất cân bằng các HST và ĐDSH, đồng thời làm suy giảm nguồn lợi
thuỷ sản tự nhiên. Chính vì vậy, sinh vật ngoại lai xâm hại đang đề ra những bài toán
nan giải về cách thức quản lý và kiểm soát chúng một cách hiệu quả để đảm bảo các
cam kết trong Công ước Đa dạng sinh học, đảm bảo vốn đa dạng sinh học bền vững.
Qua thống kê, đánh giá cho thấy trên địa bàn các huyện, thành phố của tỉnh
Tuyên Quang đã xuất hiện một số loài sinh vật ngoại lai xâm hại, trong đó huyện Hàm
Yên mới chỉ điều tra đánh giá được 1,2 điểm điển hình trên địa bàn huyện nên số liệu
thống kê, đánh giá chưa được đầy đủ và chi tiết đến từng vùng của huyện Hàm Yên.
Hàm Yên là huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Tuyên Quang, thuộc
vùng miền núi Bắc Bộ. Thị trấn Tân Yên là trung tâm của huyện cách thành phố
Tuyên Quang 42 km. Đặc trưng của huyện Hàm Yên là địa phương có rừng mưa nhiệt
đới thường xanh ở độ cao trung bình. Điều kiện tự nhiên với lợi thế địa hình, đất đai,
thổ nhưỡng và khí hậu mang lại cho khu vực hệ sinh thái đa dạng, có nhiều loài động
vật, thực vật đặc hữu, nhiều nguồn gen quý, hiếm. Trong quá trình xây dựng quê
hương, các thế mạnh trên đã từng bước được khai thác, phát huy trong cơ cấu kinh tế
nông, lâm nghiệp của huyện. Một thực tế trong những năm qua cho thấy, việc phát
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Sinh vật ngoại lai
Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu đưa ra các định nghĩa về SVNL. Theo
Công ước quốc tế về ĐDSH (CBD): “SVNL là loài, phân loài hay đơn vị phân loại
thấp hơn được đưa ra khỏi vùng phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ
của sinh vật như các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm của
những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản được” (Liên Hợp Quốc, 1992). Theo
IUCN (2003): sinh vật ngoại lai là một loài, phân loài hoặc một taxon thấp hơn, kể cả
bất kỳ bộ phận, giao tử hoặc chồi mầm có khả năng sống sót và sinh sản, xuất hiện
ngoài vùng phân bố tự nhiên trước đây và phạm vi phát tán tự nhiên của chúng.
Tại khoản 18 điều 3 Luật đa dạng sinh học Việt Nam năm 2008 định nghĩa
“Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi
trường sống tự nhiên của chúng”.
Theo Hội BVTN&MT Việt Nam (VACNE), SVNL có nguồn gốc từ một khu
vực, du nhập đến khu vực khác bằng nhiều con đường khác nhau, như: phát tán tự
nhiên, du nhập có chủ đích (Du nhập có chủ đích được phép, du nhập có chủ đích
không được phép), du nhập không chủ đích (ngẫu nhiên).
1.1.2. Loài xâm hại
Thuật ngữ này trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên những
cách định nghĩa đều xuất phát từ các khía cạnh kinh tế, xã hội. Có những định nghĩa
chỉ dành cho thực vật như Crink và Fuller (1995): “Loài thực vật xâm hại là một loài
thực vật ngoại lai phát tán một cách tự nhiên (không có sự hỗ trợ trực tiếp của con
người) trong nơi ở tự nhiên hay bán tự nhiên và gây ra sự thay đổi đáng kể về thành
phần, cấu trúc hay các quá trình sinh thái”; hay Richardson và nnk (2001): “Thực vật
xâm hại là những loài thực vật tự nhiên sinh ra thế hệ con cái có khả năng tái sinh với
số lượng lớn ở cách xa nơi ở của bố mẹ và có khả năng phát triển trên vùng rộng”.
Cũng có một số định nghĩa chung hơn cho giới sinh vật như Masters và Sheley
(2001) cho rằng “ SVNL xâm hại là những loài động thực vật không có nguồn gốc bản
biệt là khả năng phá tán rộng rãi; chúng để lại những hậu quả xấu cho nền kinh tế các
nước nhập khẩu. Chúng lấn át, loại trừ và làm suy giảm các loài sinh vật và nguồn gen,
phá vỡ cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái, phá hoại mùa màng, làm giảm năng suất
cây trồng và vật nuôi, thậm chí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người,… những loài đó
được gọi là loài ngoại lai xâm hại.
Vì vậy các định nghĩa về loài ngoại lai xâm hại được nêu rõ ràng hơn với Công
ước quốc tế về ĐDSH (CBD): sinh vật ngoại lai xâm hại là loài sinh vật ngoại lai đã
tạo lập được quần thể và phát tán, đe dọa các hệ sinh thái, nơi ở hoặc loài sinh vật
khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trường (CBD, 1992). Hay theo Tổ chức
bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) năm 2003, SVNL xâm hại là một loài SVNL đã
thích nghi và phát triển trong một HST hoặc mơi ở mới (tự nhiên hoặc bán tự nhiên) và
là nguyên nhân gây ra sự thay đổi, đe doạ ĐDSH bản địa”.
Theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008 của Việt Nam định nghĩa “Loài ngoại lai
xâm hại là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật
bản địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển”. Thông tư số
35/2018/TT-BTNMT ngày 28/12/2018 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
loài ngoại lai xâm hại được xác định dựa trên các tiêu chí như sau:
- Tự thiết lập quần thể trong tự nhiên, đang lấn chiếm nơi sinh sống, cạnh tranh
thức ăn hoặc gây hại đối với các sinh vật bản địa, phát tán mạnh hoặc gây mất cân
bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển ở Việt Nam;
- Được đánh giá là có nguy cơ xâm hại cao đối với đa dạng sinh học và được
ghi nhận là xâm hại ở khu vực có khí hậu tương đồng với Việt Nam hoặc qua khảo
nghiệm, thử nghiệm có biểu hiện xâm hại.
Loài sinh vật ngoại lai xâm hại có thể gây ra riêng đối với hệ sinh thái và môi
trường sống của các loài sinh vật bản địa có thể đề cập đến như:
- Chúng cạnh tranh với các loài bản địa về thức ăn, nơi sinh sống, đẩy các loài
bản địa vào con đường diệt vong;
- Ăn thịt các loài khác, đặc biệt các loài bản địa;
1.1.5. Tác động của sinh vật ngoại lai xâm hại
Sinh vật ngoại lai xâm hại là một loài sinh vật ngoại lai có thể thích nghi, phát
triển, tăng nhanh số lượng cá thể trong hệ sinh thái hoặc nơi sống mới và có mặt trong
tất cả các nhóm, phân loại chủ yếu bao gồm các loài virus, nấm, tảo, rêu, dương xỉ,
thực vật bậc cao, động vật không xương sống, cá, lưỡng cư, bò sát, chim và thú. SVNL
xâm hại đã xâm chiếm và ảnh hưởng đến hệ sinh vật bản địa trong mọi loại hình của hệ
sinh thái trên trái đất. Chúng góp phần tạo ra sự tuyệt chủng của nhiều loài, ảnh hưởng
đến các ngành kinh tế, tác động tiêu cực tới kinh tế - xã hội và sức khỏe của con người.
IUCN 2003 đã nghiên cứu và đưa ra danh mục khuyến cáo về các loài xâm hại
toàn cầu. Trong đó có 100 loài có nguy cơ xâm hại cao, gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường, làm thiệt hại đến nền kinh tế, gồm: Vi sinh vật có 3 loài; nấm 5 loài; thực vật
thủy sinh 4 loài; 32 loài thực vật trên cạn; 09 loài động vật thủy sinh không xương
sống; 17 loài động vật trên cạn không xương sống; 03 loài lưỡng cư; 7 loài chim; 02
loài bò sát; 14 loài thú
1.1.5.1. Tác động của sinh vật ngoại lai đến hệ sinh thái.
- Chức năng bảo vệ môi trường bị suy giảm: Ảnh hưởng của sinh vật ngoại lai
xâm hại có thể thay đổi hoàn toàn cấu trúc và thành phần loài của HST bằng cách lấn
át loài bản địa do cạnh tranh trực tiếp nguồn sống hoặc gián tiếp bằng cách thay đổi các
chu trình sinh hoá, sinh dưỡng trong hệ sinh thái. Chúng cũng có thể gây ra sự thay đổi
các dịch vụ môi trường như kiểm soát lụt, sự cung cấp nước, sự đồng hoá nước, sự bảo
tồn, phục hồi của đất. Hơn thế, tại những sinh cảnh mà quá trình sinh thái bị phá vỡ
đáng kể, các loài sinh vật bản địa bị thay thế, sinh cảnh rơi vào trạng thái dễ bị tổn
thương khi có sự xâm hại và tái sinh của các loài sinh vật ngoại lai tiếp diễn. Khi sự
thay đổi hệ sinh thái đó vượt quá ngưỡng có thể phục hồi, gần như chức năng bảo vệ
môi trường tránh khỏi sự tác động của sinh vật ngoại lai có thể sẽ mất đi.
- Khả năng sản xuất của hệ sinh thái suy giảm: Thiếu vắng thiên địch hay thiếu
sự kiểm soát sinh vật ngoại lai tại nơi ở mới, các sinh vật ngoại lai xâm nhập và cạnh
tranh với loài sinh vật bản địa; ngăn cản khả năng gieo giống, tái sinh tự nhiên của các
loài bản địa do khả năng phát triển nhanh với mật độ dày đặc (thực vật); lai giống với
1.1.5.2. Tác động đến đa dạng sinh học và sự sinh tồn của loài bản địa
Các loài SVNL hiện nay được coi là một trong những yếu tố chính tác động đến
ĐDSH, tạo ra mối đe dọa lớn đối với ĐDSH tại mỗi quốc gia và trên thế giới. Nhiều ý
kiến đã coi tác động tiêu cực đến ĐDSH của sinh vật ngoại lai xâm hại có thể là mối
đe dọa lớn thứ 2 trong các mối đe dọa nguy hiểm nhất đối với ĐDSH (Lowe và nnk,
2000) .
- Làm suy giản tính đa dạng loài của các khu hệ động, thực vật bản địa: Tác
động
đầu tiên của sinh vật ngoại lai khi xâm nhập vào môi trường mới là cạnh tranh không
gian sống của các loài bản địa. Chúng xâm hại làm suy giảm mức độ phong phú của
loài bản địa, do cản trở các cây con tạo lập quần thể, ức chế sự sinh trưởng và phát
triển của các loài cây khác; làm thay đổi quan hệ qua lại giữa loài thụ phấn và thực vật
cần thụ phấn, làm tăng sự cạnh tranh trên mặt đất, dưới mặt đất và lai giống với loài
bản địa. Như ở Việt Nam, việc nhập cá chép các dòng của Indonesia, Hungari tạo ra
con lai đã tạo ra nguy cơ tuyệt chủng của các loài cá chép gốc Việt. Cây Trinh nữ thân
gỗ (mai dương) xuất hiện trong các khu bảo tồn sẽ làm nghèo khu hệ động, thực vật
bản địa, biến thảm thực vật có sự ĐDSH về loài bản địa thành thảm thực vật nghèo
loài, thậm chí là đơn loài. Khu hệ chim, bò sát, các loài thuỷ sinh cũng chịu ảnh hưởng
rất lớn do sự xâm lấn của cây Trinh nữ thân gỗ (mai dương). Ở những bờ gần nước
(ven sông, ven hồ, đầm,...) là nơi lý tưởng cho nhiều loài chim nước với sự phong phú
của thảm thực vật bản địa, do sự xâm lấn của cây mai dương đã làm mất đi môi trường
sống lý tưởng của chim nước.[1]
- Gây ra sự tuyệt chủng hoặc biến mất của một số lài sinh vật bản địa: Ngoài
ra, loài SVNL có thể tác động lên loài sinh vật bản địa bằng cách đem theo vật gây
bệnh, ký sinh dẫn đến gây bệnh hoặc giết chết loài bản địa. Theo Baillie và cộng sự
(2004) thông báo trong danh sách đỏ của IUCN năm 2004 về những loài sinh vật bị đe
là 15.305ha, trong đó có 8.602ha lúa, 590 ha rau muốn, 6.356ha ao hồ và hàng trăm
km sông ngòi, kênh mương trên toàn quốc. Nhưng đến năm 1999, con số trên đã tăng
lên đáng kể khi có 57 trên tổng 64 tỉnh bị ốc bươu vàng xâm nhập, theo đó có
109.000ha lúa bị nhiễm, 3,5 nghìn ha rau ruống, 15km2 ao hồ, 4km2 kênh rạch. Chi phí
diệt trừ từ ngân sách nhà nước và địa phương lên đến hàng chục tỉ đồng, chỉ riêng số
tiền hỗ trợ khẩn cấp của FAO là 250 nghìn USD (Viện bảo vệ thực vật (2004), Báo
cáo khoa học) [10]
Sự xâm nhập của sinh vật ngoại lai là một trong những nguyên nhân có tác động
và làm mất đi các nguồn gen quý hiếm mà con người chưa khai thác được; ảnh hưởng
đến công tác bảo tồn, an ninh lương thực, du lịch sinh thái.
1.1.5.4. Đe dọa sức khỏe con người
Sinh vật ngoại lai xâm hại có tác động lớn đến sức khỏe của con người. Một số
tác nhân gây bệnh truyền nhiễm có thể là SVNL xâm hại hoặc có thể được lan truyền
bởi SVNL xâm hại.
1.1.5.5. Tác động đến du lịch văn hóa, cảnh quan
Ngoài những tác động đến môi trường (sinh thái) và kinh tế, SVNL xâm hại
trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng lớn đến sinh kế của con người và tác động đến
giá trị văn hóa, di sản. Tuy nhiên, những tổn thất ngoài lĩnh vực kinh tế (như tổn thất
về giá trị văn hóa) do SVNL xâm hại gây nên không dễ dàng lượng hóa thành tiền,
nhưng là đáng kể.
1.2. Cơ sở pháp lý và yêu cầu thực tiễn
1.2.1. Cơ sở pháp lý
- Luật Bảo vệ môi trường ngày 23/6/2014;
- Luật Đa dạng sinh học ngày 13/11/2008;
- Luật Lâm nghiệp ngày 15/11/2017;
- Nghị định 156/2018/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết một số điều của
Luật Lâm nghiệp;
- Quyết định số 1250/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/07/2013 phê
loài thú (Lowe và cộng sự, 2000).
Tại Mỹ và Canada đã ghi nhận có khoảng 2.100 loài thực vật ngoại lai xâm hại,
tuỳ thuộc vào mỗi bang mà có sự biến động số lượng loài ngoại lai xâm hại dao động 8
– 47% tổng số loài thực vật (USA Forest Service, 2002). Đầu thập niên 1970, tại Mỹ
đã thống kê có hơn 200 loài nấm, vi khuẩn, tuyến trùng và hơn 100 loài côn trùng là
dịch hại được du nhập từ nước ngoài chỉ trong thập niên 1970 và 1980, đã có tới hơn
2.500 loài động vật chân khớp trở thành những thành viên của khu hệ động vật tại đảo
Hawaii (Hoa Kỳ). Đối với Châu Phi, hầu hết các quốc gia tại đây đều bị ảnh hưởng bởi
SVNL xâm hại. Trong đó: Tanzania có 1% số loài du nhập là loài SVNL xâm hại;
Nigeria có 25 loài thực vật ngoại lai xâm hại (Groves, 1986).
Cũng theo IUCN 2004, Cộng hoà Nam Phi có 161 loài thực vật ngoại lai xâm
hại, nhưng nghiên cứu của Henderson năm 1995 cho rằng quốc gia này có ít nhất 161
loài thực vật ngoại lai xâm hại bắt gặp trong HST tự nhiên và bán tự nhiên.
Chương trình SVNL xâm hại toàn cầu (GISP) đã công bố số liệu, trên thế giới
có khoảng 22.000 loài thực vật xâm hại trên tổng số 250.000 loài thực vật.
1.3.2. Tại Việt Nam
Ở Việt Nam, cùng với các yếu tố khách quan về vị trí địa lý, địa hình, điều kiện
khí hậu, cùng quá trình hội nhập quốc tế đã tạo nên nguy cơ xâm nhập của các SVNL
xâm hại vào nước ta là rất cao, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu.
Các loài SVNL xâm hại xuất hiện phổ biến trong nuôi trồng thuỷ sản, nông nghiệp,
lâm nghiệp và làm vườn. Ngoài những tác động tích cực, một số loài sinh vật cũng đã
gây ảnh hưởng lớn đến các hệ thống thuỷ lợi, nông nghiệp, giao thông thủy, thủy điện,
đa dạng sinh học... và gây ra những thiệt hại nặng nề về kinh tế như dịch ốc bươu
vàng, ốc bươu vàng miệng tròn, rùa tai đỏ, cây mai dương ...
Nhiều nghiên cứu đã có tại Việt Nam cho thấy, tất cả các loài SVNL được phát
hiện ở Việt Nam đa phần đều là những loài đã được liệt kê trong danh sách “100 loài
sinh vật lạ xâm lấn nguy hiểm trên thế giới” của IUCN 2004. Theo đó, Việt Nam có 15
loài có nguy cơ xâm hại (gồm 1 loài động vật không xương sống, 5 loài cá, 1 loài
ở Việt Nam, các loài thực vật ngoại lai hiện tại chiếm 0,77% số lượng các loài thực vật
được tìm thấy (12.000 loài).
Ngoài ra, theo nghiên cứu của Đặng Thanh Tân và cộng sự năm 2012, nghiên
cứu về thành phần loài thực vật ngoại lai tại 10 Vườn quốc gia và Khu bảo tồn thiên
nhiên gồm Hoàng Liên, Cát Bà, Cúc Phương, Vũ Quang, Phong Nha - Kẻ Bàng, Chư
Mom Ray, CátTiên, Tràm Chim, U Minh Thượng và Khu bảo tồn thiên nhiên Sơn Trà;
Kết quả ghi nhận mỗi VQG có từ 8 đến 25 loài cỏ dại ngoại lai, và tổng ở các khu vực
có 134 loài trong đó có 25 loài là sinh vật ngoại lai xâm hại.
Các loài cỏ dại hầu hết mọc phân tán và xen lẫn vào các loài bản địa, phân bố
chủ yếu ở các khu vực sinh cảnh dễ bị tổn thương thuộc đất nông nghiệp: sinh cảnh
nước, bao gồm mương nội đồng, các kênh rạch, sông, các cánh đồng lúa, các ao hồ
nhân tạo và tự nhiên, ven đất ngập nước, bãi bồi cửa sông; hệ sinh thái vùng cao ở các
nương ngô, nương lúa hay các bãi cỏ; hệ sinh thái cây thân gỗ và khoảnh rừng, như các
trang trại, khu vực trồng cây ăn quả, cây công nghiệp; và hệ sinh thái vườn gia đình.
Nếu không được kiểm soát chặt chẽ, các loài thực vật ngoại lai xâm hại này sẽ có
những ảnh hưởng tiêu cực khác nhau đối với môi trường và ĐDSH tại nơi chúng xâm
nhập. Tuy nhiên cũng có một số cây trồng đã trở thành các loài cây công nghiệp được
trồng với diện tích lớn như: cao su, cà phê, cọ dầu, keo, điều ở các tỉnh miền Đông, Tây
Nam Bộ và các tỉnh duyên hải dọc miền Trung phục vụ sản xuất và kinh tế cho người
dân.
Việt Nam đã xây dựng và thực hiện đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật
ngoại lai xâm hại ở Việt Nam đến năm 2020. Mục tiêu của đề án là đến năm 2020, 3
loài sinh vật ngoại lai xâm hại nghiêm trọng là ốc bươu vàng (Pomacea canaliculata),
cây mai dương (Mimosa pigra) và cây trinh nữ móc (Mimos adiplotricha) phải được
kiểm soát và diệt trừ trên toàn quốc [2]
Hiện tại Việt Nam với 18 cửa khẩu quốc tế giáp biên giới Trung Quốc, Lào và
1.4. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Hàm Yên
1.4.1. Điều kiện tự nhiên
1.4.1.1. Vị trí địa lý
Hàm Yên là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Tuyên Quang, Tân
Yên là trung tâm hành chính của huyện, cách thành phố Tuyên Quang 42 km (theo
Quốc lộ 2), Hàm Yên nằm trong khoảng tọa độ địa lý:
Từ 21051' đến 22023' Vĩ độ Bắc
Từ 104051' đến 105009' Kinh độ Đông
Ranh giới hành chính của huyện được xác định như sau:
- Phía Bắc giáp huyện Bắc Quang - tỉnh Hà Giang;
- Phía Nam giáp huyện Yên Sơn;
- Phía Đông giáp huyện Chiêm Hóa;
- Phía Tây giáp huyện Yên Bình và huyện Lục Yên - tỉnh Yên Bái.
Hình 1.1. Vị trí địa lý huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang