Phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý dự án công ty ACV - Pdf 67

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.

Hà Nội, ngày

tháng

năm 2012

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Anh Đào

1


MỤC LỤC

2


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATTECH

: Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam

HKVN


TMĐT

: Tổng mức đầu tư

GPMB

: Giải phóng mặt bằng

DVOR

: Dẫn đường vô hướng sử dụng hiệu ứng Doppler

DME

: Thiết bị đo khoảng cách

DVOR/DME: Đài dẫn đường
NDB

: Thiết bị dẫn đường vô tuyến sóng dài vô hướng

ILS

: Hệ thống hạ cánh chính xác

AMSC

: Trung tâm chuyển điện văn tự động

ACC/HCM : Trung tâm điều hành bay đường dài

: Thông tin, dẫn đường, giám sát

VATM

: Tổng công ty Quản lý bay Việt Nam

4


DANH MỤC HÌNH

5


DANH MỤC BẢNG

6


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cần thiết của đề tài
Việt Nam bắt đầu công cuộc cải cách kinh tế từ năm 1986, kể từ đó đến nay
Việt Nam đã chuyền từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị
trường có định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế Việt Nam ngày càng thể
hiện rõ tính chất cạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, nhất là sau khi
Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, TPP. Hiện nay, các
doanh nghiệp Việt Nam, không phân biệt các thành phần kinh tế đều đang phải
đối mặt với sức ép cạnh tranh từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Đặc
biệt là trong ngành xây dựng nói chung và xây dựng các công trình hàng không
nói riêng thì sự cạnh tranh càng gay gắt đến từ các doanh nghiệp nước ngoài

Phân tích thực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng tại Tổng công ty Cảng hàng
không Việt Nam, chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân của thực
trạng này.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý dự án đầu tư xây dựng tại
Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu những lý luận và thực tiễn về
quản lý dự án đầu tư xây dựng tại các dự án do doanh nghiệp (Tổng công ty
Cảng hàng không Việt Nam) làm Chủ đầu tư.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng tình hình tài chính tại Tổng công
ty Cảng hàng không Việt Nam; tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn giai đoạn
2013 - 2015 và đinh hướng đến 2018 của Tổng công ty Cảng hàng không Việt
Nam.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu mô tả:
8


Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp các nhà quản trị cũng như các cán
bộ phòng kế toàn tài chính, nhằm thu thập được các thông tin liên qua như: tình
hình hoạt động kinh doanh của công ty trong thời gian qua, tình hình sử dụng
tài sản và nguồn vốn và định hướng phát triển của công ty trong thời gian tới.
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Thu thập các dữ liệu cần thiết chủ yếu tại phòng kinh doanh và kế toán
từ các nguồn sẵn có như tài liệu của phòng kế toán qua các năm 2013 -2015,
báo tạp chí và internet. Phương pháp này giúp em đưa ra được kết luận, có cái
nhìn tổng quan hơn về hoạt động phân tích tài chính của Tổng công ty Cảng
hàng không Việt Nam và nhận ra được những bất cập trong hoạt động để có đề
xuất hợp lý nhất.
- Phương pháp xử lý thông tin:

hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của
Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Luật đầu tư số
59/2005/QH11, ngày 29/11/2005).
Có nhiều cách phân loại hoạt động đầu tư, chẳng hạn theo tiêu thức quan
hệ hoạt động quản lý của chủ đầu tư, có hai loại: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián
tiếp.
Đầu tư trực tiếp là hình thức trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý
hoạt động đầu tư.
Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực
tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Chẳng hạn như nhà đầu tư thông qua
việc mua cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán:
Trong trường hợp này nhà đầu tư có thể được hưởng các lợi ích như cổ tức, tiền
lãi trái phiếu…nhưng không được tham gia quản lý trực tiếp tài sản mà mình
bỏ vốn đầu tư.
10


Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này
nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh, dịch vụ và sinh
hoạt đời sống của xã hội. Đầu tư phát triển là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa
chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị và lắp đặt, bồi
dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với
sự hoạt động của các tài sản nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở
đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội.
Đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung. Đó là việc bỏ
vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản, từ việc khảo sát và quy
hoạch, thiết kế và sử dụng cho đến khi lắp đặt thiết bị hoàn thiện việc tạo ra cơ
sở vật chất, nhằm tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các TSCĐ cho
nền kinh tế quốc dân.
Như vậy, đầu tư XDCB là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó

ưu đãi đầu tư, xin gia nhập các khu chế xuất, khu công nghiệp, xin vay vốn của
các định chế tài chính trong và ngoài nước, là căn cứ để kêu gọi góp vốn hoặc
phát hành các cổ phiếu, trái phiếu…
Dự án đầu tư khi được xây dựng sẽ đem lại những kết quả kinh tế và xã hội to
lớn:
Kết quả trực tiếp: công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng tạo điều kiện giao
thông thuận lợi, phát triển kinh tế, kéo theo hàng loạt những dự án đầu tư khác
khiến bộ mặt kinh tế quanh khu vực có công trình thay đổi.
Kết quả gián tiếp: tạo công ăn việc làm, nhiều ngành nghề mới phát sinh trong
khu vực có công trình xây dựng được tạo nên, tạo cảnh quan đô thị.
1.1.2.3. Đặc điểm của dự án đầu tư
Dự án có mục đích, kết quả xác định. Điều này có thể hiện tất cả các dự án đều
phải có kết quả được xác định rõ. Kết quả này có thể là một tòa nhà, một con
đường, một dây chuyền sản xuất….Mỗi dự án lại bao gồm một tập hợp nhiệm
12


vụ cần thực hiện. Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiệm vụ cần thực hiện. Mỗi
nhiệm vụ lại có kết quả riêng, độc lập. Tập hợp các kết quả cụ thể của các
nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án.
Dự án chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là một sự
sáng tạo, dự án không kéo dài mãi mãi. Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được
chuyển giao cho bộ phận quản lý vận hành, nhóm quản lý dự án giải tán.
Dự án có sự tham gia của nhiều bên như: Chủ đầu tư, nhà thầu, cơ quan cung
cấp dịch vụ trong đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước. Dự án nào cũng có sự
tham gia của nhiều bên hữu quan như chủ đầu tư, người hưởng từ dự án, các
nhà tư vấn. Nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước. Tùy theo tính chất của dự
án và yêu cầu của chủ đầu tư mà sự tham gia của các thành phần trên cũng khác
nhau.
Sản phẩm dự án mang tính chất đơn chiếc, độc đáo. Kết quả của dự án có tính

- Quyết định trình tự thiết kế (thiết kế 1 bước, 2 bước, 3 bước).
- Quyết định thời hạn cấp vốn nếu là vốn ngân sách.
- Quyết định điều kiện năng lực của cá nhân, tổ chức tham gia dự án.
- Quyết định hình thức lựa chọn nhà thầu.
- Quyết định thời hạn bảo hành công trình.
- Quyết định hình thức quản lý và sử dụng công trình.
b/ Theo nguồn vốn đầu tư
- Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;
- Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà cước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát
triển của Nhà nước.
- Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp Nhà nước;
14


1.1.2.5. Vòng đời của dự án đầu tư.
Mỗi dự án đầu tư xây dựng đều có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc rõ
ràng nên dự án có một vòng đời. Thông thường, các dự án đều có vòng đời bốn
giai đoạn, bao gồm: Giai đoạn hình thành dự án (Chủ trương lập dự án); giai
đoạn nghiên cứu phát triển (lập dự án); giai đoạn thực hiện & quản lý; giai
đoạn kết thúc.
Tiến trình công việc chính: Xây dựng ý tưởng ban đầu, xác định quy mô và
mục tiêu, đánh giá các khả năng, tính khả thi của dự án, xác định các nhân tố và
cơ sở thực hiện dự án.
Có thể minh họa sơ đồ chu kỳ của dự án đầu tư như sau:
1
Hình
thành

Nghiệm
2

của các kết quả nghiên cứu tính toán và dự án là quan trọng nhất.
Đến giai đoạn thực hiện đầu tư thì vần đề thời gian là vấn đề quan trọng hơn vì
đây là yếu tố có ảnh hưởng mang tính chất quyết định đến khả năng về vốn,
thời cơ cạnh tranh của sản phẩm. Giai đoạn kết thúc xây dựng, đưa công trình
vào khai thác sử dụng thì việc tổ chức quản lý và phát huy tác dụng các kết quả
của dự án là quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian tồn tại của dự
án.
1.2. Quản lý dự án đầu tư
1.2.1. Khái niệm và đặc trưng của quản lý dự án

Quản lý nói chung là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý vào các đối
tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu đề ra.
Quản lý dự án (Project Management – PM) là quá trình lập kế hoạch, theo dõi
và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án và điều hành mọi thành phần
tham gia vào dự án đó nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đúng thời hạn
trong phạm vi ngân sách được được duyệt với các chi phí, chất lượng và khả
năng thực hiện chuyên biệt. Nói cách khác QLDA là công việc áp dụng các
chức năng và hoạt động của quản lý vào suốt vòng đời của dự án hay nói cách
khác QLDA là việc huy động các nguồn lực và tổ chức các công nghệ để thực
hiện được mục tiêu đề ra.
QLDA đầu tư xây dựng là một quá trình phức tạp nó mang tính duy nhất không
có sự lặp lại, không xác định rõ ràng và không có dự án nào giống dự án nào.
16


Mỗi dự án có địa điểm khác nhau, không gian và thời gian khác nhau, yêu cầu
về số lượng và chất lượng khác nhau, tiến độ khác nhau, con người cũng khác
nhau,…thậm chí trong quá trình thực hiện dự án còn có sự thay đổi mục tiêu, ý
tưởng từ Chủ đầu tư. Cho nên việc điều hành QLDA cũng luôn thay đổi linh
hoạt, không có công thức nhất định.

đánh giá dự án giữa kỳ và cuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh
nghiệm, kiến nghị các pha của dự án.
Quản lý dự án bao gồm những đặc trưng cơ bản sau:
1. Chủ thể của quản lý dự án chính là người quản lý dự án.
2. Khách thể của QLDA liên quan đến phạm vi công việc của dự án (tức là
toàn bộ nhiệm vụ công việc của dự án). Những công việc này tạo thành quá
trình vận động của hệ thống dự án. Quá trình vận động này được gọi là chu kỳ
tồn tại của dự án.
3. Mục đích của QLDA là để thể hiện được mục tiêu dự án, tức là sản phẩm
cuối cùng phải đáp ứng được yêu cầu của khách hàng. Bản thân việc quản lý
không phải mục đích mà là cách thực hiện mục đích.
4. Chức năng của QLDA có thể khái quát thành nhiệm vụ lên kế hoạch, tổ
chức, chỉ đạo, điều tiết, khống chế dự án. Nếu tách rời các chức năng này thì dự
án không thể vận hành có hiệu quả, mục tiêu quản lý cũng không được thực
hiện. Quá trình thực hiện mỗi dự án cần có tính sáng tạo, vì thế chúng ta
thường coi việc quản lý dự án là quản lý sáng tạo.
1.2.2. Mục đích của quản lý dự án

QLDA đòi hỏi sự kết hợp của nhiều yếu tố như sự nỗ lực, tính tập thể, yêu cầu
hợp tác…vì vậy nó có tác dụng rất lớn, dưới đây trình bày một số mục đích chủ
yếu như sau:
- Liên kết tất cả các công việc, các hoạt động của dự án.
18


- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó giữa nhóm
quản lý dự án với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho dự án.
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các
thành viên tham gia dự án.
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều

Kết quả
Kết quả
mong muốn

Chủ đầu tư
Nhà thầu
Nhà tư vấn
Nhà nước
Chi phí

Chi phí
cho phép

Thời gian
cho phép

Thời

An

gian

toàn

Thời
gian

Chất
*/Chủ lượng
đầu tư

tư; đưa Dự án vào khai thác sử dụng. Đối với mỗi Dự án có quy mô, tính chất
khác nhau nên công tác QLDA cũng khác nhau, có sự phối hợp với các cơ quan
ban ngành khác nhau.

20


Quá trình QLDA đầu tư gồm các giai đoạn: Chủ trương, ý tưởng đầu tư, Chuẩn
bị đầu tư; kết thúc đầu tư; kết thúc xây dựng đưa công trình vào quản lý khai
thác sử dụng.

Chủ trương, ý tưởng đầu tư
Xác định
Chuẩn bị đầu tư
Dự án được
phê duyệt

Thực hiện đầu tư

Dự án được
nghiệm thu

Kết thúc đầu tư
Hình 1.3: Quá trình quản lý dự án

Do đặc điểm của sản phẩm xây dựng chi phối, cho nên hoạt động đầu tư
xây dựng đòi hỏi phải tuân thủ trình tự các bước theo từng giai đoạn của dự án.
Vi phạm trình tự đầu tư và xây dựng sẽ gây ra lãng phí, thất thoát và tạo sơ hở
cho tham nhũng trong hoạt động đầu tư và xây dựng. Trên cơ sở quy hoạch
được phê duyệt, trình tự thực hiện dự án đầu tư được thực hiện theo các bước

b) Đơn vị đầu mối thẩm định dự án có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ dự án của
chủ đầu tư và gửi tới cơ quan để lấy ý kiến, đồng thời gửi hồ sơ để lấy ý kiến
thẩm định thiết kế cơ sở của cơ quan có thẩm quyền quyết định dự án.
Cơ quan thẩm định thiết kế cơ sở có trách nhiệm tổ chức thẩm định và gửi kết
quả thẩm định tới đơn vị đầu mối thẩm định dự án.

22


Để đảm bảo thuận tiện, đơn vị đầu mối thẩm định dự án có thể ủy quyền cho
chủ đầu tư trực tiếp gửi hồ sơ dự án và giải trình với cơ quan có thẩm quyền
quyết định thiết kế cơ sở.
Giai đoạn này có ý nghĩa thật sự quan trọng, nó vạch ra phương hướng đầu tư
đúng đắn, hợp lý của dự án. Thành bại của một dự án, dự án có phát huy tác
dụng tối đa khi đưa vào khai thác sử dụng hay không chính là nhờ vào việc xác
định mục tiêu đầu tư đúng đắn. Do đó công việc đầu tư bao gồm: Nghiên cứu
về sự cần thiết phải đầu tư và quy mô đầu tư. Xem xét khả năng về nguồn vốn
đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư, tiến hành điều tra, khảo sát và lựa chọn địa
điểm xây dựng. Lập và trình duyệt quy hoạch, báo cáo đầu tư,dự án đầu tư.
Một dự án đầu tư được coi là hiệu quả khi giai đoạn chuẩn bị đầu tư đáp ứng
được các yêu cầu về quy hoạch, kỹ thuật, hiệu qủa tài chính, hiệu quả kinh tế xã hội do dự án đem lại.
Dự án phải phù hợp với quy hoạch được duyệt
Về nguyên tắc trong hoạt động đầu tư công tác quy hoạch cần đi trước một
bước làm cơ sở cho công tác lập dự án. Để đảm bảo hiệu quả hoạt động đầu tư
thì ngay trong quá trình lập dự án cần quan tâm thỏa đáng đến công tác quy
hoạch.
Các dự án có yêu cầu phải duyệt quy hoạch thì trước tiên Chủ đầu tư thuê tổ
chức Tư vấn có năng lực lập quy hoạch tổng thể và chi tiết trình cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt. Có quy hoạch Nhà nước mới quản lý vĩ mô, điều tiết,
phân bố, định hướng sự phát triển các vùng, các nghành cho phù hợp tránh sự

- Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo đầu tư xây dựng công
trình, Bộ quản lý ngành phải gửi văn bản lấy ý kiến của các Bộ, ngành, địa
phương liên quan.

24


- Thời hạn 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được ý kiến phải có Văn bản trả lời
về những nội dung thuộc phạm vi quản lý của mình. Trong vòng 7 ngày làm
việc kể từ ngày nhận được văn bản trả lời theo thời hạn nêu trên, Bộ quản lý
ngành phải lập báo cáo để trình.
Lập dự án đầu tư:
Chủ đầu tư lập dự án xây dựng công trình nếu có năng lực hoặc thuê tổ chức tư
vấn có năng lực lập khi Báo cáo đầu tư (đối với dự án quan trọng Quốc gia)
được duyệt. Sau khi Chủ đầu tư có trách nhiệm gửi hồ sơ đầu tư xây dựng công
trình tới khi người quyết định đầu tư để phê duyệt.
Nội dung của dự án đầu tư XDCT bao gồm thuyết minh và thiết kế cơ sở.
Phần thuyết minh của dự án: Xác định được sự cần thiết phải đầu tư, địa điểm
xây dựng. Mô tả quy mô và diện tích công trình, các hạng mục công trình bao
gồm công trình chính, phụ; phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ.
Các giải pháp thực hiện: Phương án GPMB, tái định cư nếu có; các phương án
thiết kế kiến trúc đối với công trình trong đô thị và công trình có yêu cầu kiến
trúc, phân đoạn thực hiện, tiến độ thực hiện và hình thức quản lý dự án. Đánh
giá tác động môi trường, các giải pháp phòng chống cháy nổ và các yêu cầu về
an ninh quốc phòng. Tổng mức đầu tư dự án, nguồn vốn, các chỉ tiêu tài chính
và phân tích đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội của dự án.
Phần thiết kế cơ sở
- Thiết kế cơ sở là điều kiện và căn cứ để xác định tổng mức đầu tư thực hiện
các bước thiết kế tiếp theo. Nội dung của thiết kế cơ sở là dự án phải thể hiện rõ
được giải pháp chủ yếu, bao gồm thuyết minh và bản vẽ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status