BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
---o0o---
TRƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ BIẾN
GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP. HỒ CHÍ MINH - THÁNG 12/2014
ĐỘNG
THỊ
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
---o0o---
TRƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH SÁCH CỔ TỨC VÀ BIẾN
ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng.
PY: Biến động giá cổ phiếu
SIZE: Quy mô công ty
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
FEM: Mô hình các tác động cố định
FGLS: Mô hình hồi quy Bình phương tổi thiểu tổng quát khả thi
HOSE : Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
HNX : Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội.
OTC : Thị trường phi tập trung.
Pooled OLS: Mô hình bình phương bé nhất dạng gộp
REM: Mô hình các tác động ngẫu nhiên
SGDCK TP. HCM : Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các ký hiệu
Danh mục các biểu bảng
TÓM TẮT.................................................................................................................1
1.
Giới thiệu........................................................................................................2
1.1
Lý do chọn đề tài.............................................................................................2
4.4 Lựa chọn mô hình hồi quy................................................................................. 45
4.4.1 Lựa chọn giữa FEM với Pooled OLS............................................................. 45
4.4.2 Lựa chọn giữa REM với Pooled OLS............................................................. 45
4.4.3 Lựa chọn giữa với FEM với REM.................................................................. 46
4.5 Kiểm định mô hình tác động cố định FEM........................................................ 48
4.5.1 Kiểm định phương sai thay đổi trong mô hình FEM......................................48
4.5.2 Kiểm định tự tương quan trong mô hình FEM................................................ 48
4.5.3 Khắc phục hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tự tương quan bằng
phương pháp Bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS)...............................49
5. Kết luận.............................................................................................................. 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG
Biểu đồ 3. 1: Quy trình nghiên cứu......................................................................... 35
Bảng 2. 1: Tóm lược kết quả các nghiên cứu thực nghiệm...................................... 21
Bảng 4. 1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu...................................................... 36
Bảng 4. 2: Ma trận tương quan giữa các biến trong nghiên cứu..............................38
Bảng 4. 3: Kết quả kiểm tra hiện tương đa cộng tuyến............................................ 39
Bảng 4. 4: Kết quả mô hình bình phương bé nhất dạng gộp Pooled OLS...............41
Bảng 4. 5: Kết quả mô hình các tác động cố định FEM.......................................... 42
Bảng 4. 6: Kết quả mô hình các tác động ngẫu nhiên REM....................................44
Bảng 4. 7: Kết quả kiểm định Breusch-Pagan......................................................... 46
Bảng 4. 8: Kết quả kiểm định Hausman test........................................................... 47
Bảng 4. 9: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi – Wald Test..............................48
Bảng 4. 10: Kết quả kiểm định tự tương quan - Wooldridge test............................. 49
Lý do chọn đề tài
Chính sách cổ tức là một phần quan trọng của chiến lược tài chính dài hạn của công
ty, là sự phân chia lợi nhuận giữa các khoản thanh toán cho các cổ đông và phần giữ
lại tái đầu tư. Ban quản lý phải quyết định bao nhiêu phần trăm lợi nhuận sẽ chi trả
cho cổ đông và bao nhiêu phần trăm được giữ lại để tái đầu tư. Để trả lời câu hỏi
này ban quản lý sẽ phải xem xét chính sách cổ tức nào tối đa hóa tài sản của cổ
đông. Hơn nữa họ cũng phải xem xét tác động của chính sách cổ tức đến giá cổ
phiếu.
Sự biến động của cổ phiếu thường được đo bằng phương sai hoặc độ lệch chuẩn, là
một thước đo được sử dụng để xác định rủi ro, và đại diện cho tốc độ thay đổi của
giá cổ phiếu trong một thời gian nhất định. Vì vậy, nếu một cổ phiếu được xem là
không ổn định,đồng nghĩa với giá của nó sẽ rất khác nhau theo thời gian,và thật khó
khăn đểchắc chắn rằng giá trị tương lai của chứng khoán đó là như thế nào.
Các nhà nghiên cứu khác nhau đã nghiên cứu mối liên hệ giữa chính sách cổ tức và
biến động của giá cổ phiếu ở những thời điểm khác nhau (Allen & Rachim (1996);
Baskin (1989); Hussainey, Mgbame & Chijoke-Mgbame (2011); Nazir, Nawaz,
Anwar, &Ahmed (2010); …). Nhưng những phát hiện của họ là không giống nhau.
Thị trường chứng khoán Việt Nam là thị trường mới nổi, chứa đựng nhiều biến động
và rủi ro tiềm ẩn nội tại phụ thuộc vào biến động của nền kinh tế vĩ mô và bản thân
của các doanh nghiệp. Trong đó, biến động giá cổ phiếu là một rủi ro mà các nhà
đầu tư phải đối mặt. Đối với những nhà đầu tư không thích rủi ro thì biến động các
khoản đầu tư là quan trọng đối với họ bởi vì nó thể hiện mức độ rủi ro. Các công ty
cũng nhận định rằng những nhà đầu tư sẽ chú ý nhiều đến lãi từ cổ tức, và rủi ro của
khoản đầu tư của họ có thể tác động đến giá trị cổ phiếu về dài hạn. Điều này làm sự
biến động giá cổ phiếu trở nên quan trọng đối với nhà đầu tư. Vì vậy, việc xem xét
mối quan hệ giữa chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu để gợi ý
phương pháp FGLS cũng được sử dụng bởi nó có thể kiểm soát được hiện tượng
phương sai số thay đổi và tự tương quan.
Dữ liệu quan sát là tất cả các công ty phi tài chính trên sàn HOSE và HNX giai đoạn
2008 -2013 gồm giá đóng cửa của cổ phiếu trên thị trường, báo cáo tài chính của
công ty niêm yết để tính tỷ suất cổ tức, tỷ lệ chi trả cổ tức, quy mô công ty, biến
động thu nhập, tỷ lệ nợ dài hạn trên tổng tài sản, và tăng trưởng tài sản.Dữ liệu được
sử dụng để kiểm định mô hình thông qua dữ liệu thứ cấp cần thiết thu thập được từ
website về chứng khoán, tài chính cũng như thông tin của các công ty trong nghiên
cứu này.
1.5 Giới hạn của đề tài nghiên cứu
Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu này chỉ tập trung vào các cổ phiếu niêm yết trên
SGDCK TP.HCM (HOSE) và SGDCK Hà Nội (HNX); tác giả không nghiên cứu thị
trường UPCOM và thị trường chứng khoán phi tập trung (OTC) mặc dù hoạt động
của các thị trường này được xem là khá sôi nổi nhưng tác giả không thể thu thập
đầy đủ thông tin do các quy định công bố thông tin chưa được quản lý nghiêm ngặt
trên các thị trường này. Những nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng mẫu
nghiên cứu ở các thị trường này khi thông tin của các thị trường được công bố đầy
đủ.
Ngoài ra, cách tính biến tỷ lệ chi trả cổ tức chỉ là tương đối vì tại các thời điểm
thông báo chi trả cổ tức khác nhau số lượng cổ phiếu phổ thông đang lưu hành sẽ
khác nhau, để dễ tính toán tác giả đã sử dụng số lượng cổ phiếu lưu hành cuối năm
để tính toán tổng số tiền cổ tức đã chi trả.
Các chương tiếp theo của nghiên cứu được sắp xếp như sau: chương 2 thảo luận về
cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu, chương 3 trình bày về phương pháp
nghiên cứu, chương 4 nói về kết quả nghiên cứu, cuối cùng là kết luận và kiến nghị
ở chương 5.
5
chính (CFO) của 562 công ty được niêm yết trên thị trường chứng khoán New York
(NYSE). Kết quả của những khảo sát của họ chỉ ra rằng hầu hết các giám đốc tài
chính đã nhất trí giá cổ phiếu sẽ bị tác động bởi chính sách cổ tức.
Baker và Powell, (1999) đã thực hiện một cuộc khảo sát giữa 603 giám đốc tài
chính của các công ty Mỹ được niêm yết trên NYSE. Họ báo cáo rằng đa số các
phản hồi (90%) đã đồng ý rằng chính sách cổ tức có tác động đến giá trị của công ty
và ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn của công ty.
2.1.2 Lý thuyết trong lòng bàn tay “Bird-in-the-hand theory”
Al- Malkawi (2007), khẳng định rằng, trong một thế giới không chắc chắn và thông
tin không hoàn hảo, thì cổ tức khác với lãi vốn. Các nhà đầu tư thích “Con chim
trong tay - Bird in the hand” là cổ tức tiền mặt hơn “Những con chim khác ở trong
bụi cây - Two in the bush” như là lãi vốn trong tương lai. Do sự không chắc chắn
của dòng tiền trong tương lai, các nhà đầu tư sẽ thường có xu hướng thích cổ tức
hơn lãi vốn. Mặc dù lập luận này đã bị chỉ trích rộng rãi và đã không nhận được hỗ
trợ thực nghiệm mạnh mẽ, nhưng nó đã được ủng hộ bởi Gordon và Shapiro (1956),
Linter (1962) và Walter (1963).
Gordon (1962) cũng lập luận rằng, ngay cả trong thị trường vốn hoàn hảo, nhà đầu
tư có thể thích cổ tức tiền mặt để tránh rủi ro liên quan đến lãi vốn trong tương lai.
Ông còn cho rằng có mối quan hệ mật thiết giữa chính sách cổ tức và giá trị thị
trường của cổ phiếu cho dù tỷ suất sinh lợi nội tại và tỷ suất sinh lợi đòi hỏi là giống
nhau. Trong mô hình tăng trưởng đều của Gordon (1962), giá cổ phiếu của công ty
là chiết khấu của dòng cổ tức trong tương lai.
Diamond (1967) chọn 255 công ty Mỹ làm mẫu và nghiên cứu mối quan hệ của giá
trị công ty với cổ tức và lợi nhuận giữ lại trong năm 1961 và 1962. Diamond
(1967)báo cáo rằng chỉ có chứng cứ yếu các nhà đầu tư thích cổ tức hơn lãi vốn
trong tươnglai.
7
8
các nhà quản lý điều hành công ty thường có thông tin chính xác và kịp thời về công
ty hơn các nhà đầu tư bên ngoài. Để thu hẹp khoảng cách giữa nhà quản lý và các
nhà đầu tư, các nhà quản lý sử dụng cổ tức như một công cụ để truyền tải thông tin
bí mật đến các cổ đông, các thông báo về cổ tức có thể được hiểu như là tín hiệu về
lợi nhuận trong tương lai của công ty, Al- Malkawi (2007). Theo đó, sự gia tăng cổ
tức có thể được hiểu là công ty có lợi nhuận và triển vọng tốt đẹp, giá cổ phiếu sẽ
phản ứng tích cực. Tương tự như vậy, việc cắt giảm cổ tức có thể coi là một tín hiệu
về triển vọng nghèo nàn trong tương lai của doanh nghiệp và giá cổ phiếu sẽ phản
ứng theo chiều hướng không thuận lợi.
Asquith và Mullins Jr (1983) lấy mẫu 168 công ty chi trả cổ tức cho lần đầu tiên
hoặc trả cổ tức ít nhất sau 10 năm khủng hoảng và nghiên cứu mối liên hệ giữa phản
ứng của thị trường và thông báo cổ tức. Họ phân tích tỷ suất sinh lợi (TSSL) bất
thường của cổ phiếu 10 ngày trước và 10 ngày sau khi thông báo cổ tức. Những
phát hiện của họ chỉ ra mức TSSL bất thường xấp xỉ + 3.7% trong vòng 2 ngày sau
khi thông báo. Hơn nữa, họ đã sử dụng hồi quy chéo và báo cáo rằng số tiền cổ tức
đầu tiên có tác động tích cực đáng kể đến lợi nhuận tăng thêm vào ngày công bố cổ
tức. Họ kết luận rằng độ lớn sự thay đổi trong cổ tức có thể cũng rất quan trọng.
Amihud và Murgia (1997) đã sử dụng 200 công ty của Đức làm mẫu và nghiên cứu
phản ứng giá cổ phiếu sau thông báo chia cổ tức trong giai đoạn từ năm 1988 đến
năm 1992. Họ xem xét 255 trường hợp tăng cổ tức và 51 trường hợp giảm cổ tức.
Những kết quả của họ củng cố phát biểu này rằng các thay đổi cổ tức có thể là một
tín hiệu tương lai của công ty. Họ đã trình bày lợi nhuận bất thường tăng +0.965%
cho trường hợp tăng cổ tức và giảm -1.73% cho trường hợp giảm cổ tức.
Travlos, Trigeorgis, và Vafeas (2001) đã nghiên cứu phản ứng giá cổ phiếu đối với
việc công bố cổ tức cổ phiếu và tăng cổ tức trong thị trường chứng khoán Cyprus
trong giai đoạn 1985-1995. Họ xem xét 41 thông báo cổ tức bằng tiền và 39 sự kiện
của tăng cổ tức. Những kết quả của họ cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để hỗ trợ cho
giả thuyết tín hiệu về thông tin. Họ đã báo cáo lợi nhuận tăng vượt trội trong cả hai
400 cá nhân trong các cuộc khảo sát tài chính khách hàng (SCF) và phát triển một
mô hình thực nghiệm để kiểm tra các hiệu ứng cổ tức khách hàng thông qua phân
10
tích thông tin các danh mục đầu tư của nhà đầu tư. Những phát hiện của Ông chỉ ra
sự khác nhau giữa thuế suất đối với thu nhập lãi vốn và thuế suất cho cổ tức có tác
động đến sự ưa thích của các nhà kinh doanh, đầu tư cho cổ phiếu có mức chi trả cổ
tức cao trong danh mục đầu tư của họ hoặc cổ phiếu có mức chi trả thấp.
2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về chính sách cổ tức và biến động
giá cổ phiếu
Nghiên cứu của Baskin, J., 1989 “Chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu
thường”
Nghiên cứu của Baskin (1989) tập trung vào vấn đề chính sách cổ tức chính là yếu
tố quyết định biến động giá cổ phiếu. Ngoài việc sử dụng biến tỷ suất cổ tức và chi
trả cổ tức như là biến đại diện cho chính sách cổ tức thì bài nghiên cứu còn sử dụng
các biến kiểm soát khác có thể tác động đến rủi ro thị giá cổ phiếu, đó là biến động
thu nhập, quy mô công ty, nợ và tăng trưởng. Những biến kiểm soát này không chỉ
ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu mà còn ảnh hưởng đến chính sách cổ tức. Ví
dụ biến động thu nhập có ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu và ảnh hưởng đến
chính sách cổ tức tối ưu của công ty. Hơn nữa nếu giả định rủi ro kinh doanh là cố
định, mức độ nợ sẽ ảnh hưởng cùng chiều đến tỷ suất cổ tức. Qui mô công ty cũng
ảnh hưởng đến biến động giá cổ phiếu như là giá cổ phiếu của công ty lớn thì ổn
định hơn của công ty nhỏ vì công ty lớn có xu hướng đa dạng hóa hơn. Hơn nữa
việc công bố thông tin của công ty nhỏ bị hạn chế, điều này dẫn đến những phản
ứng không hợp lý của nhà đầu tư.
Baskin (1989) cho rằng biến động trong lãi suất chiết khấu ảnh hưởng ít đến những
cổ phiếu có tỷ suất cổ tức cao vì tỷ suất cổ tức cao có thể là một tín hiệu về dòng
tiền trong ngắn hạn, vì vậy những công ty mà có tỷ suất cổ tức cao được mong đợi
thể giải thích là do xu hướng các công ty lớn hơn thì gánh chịu nhiều nợ hơn. Thật
vậy, các công ty trong mẫu hiển thị một mối tương quan nghịch chiều lớn giữa biến
động thu nhập và quy mô. Kết quả của nghiên cứu này không hỗ trợ cho quan điểm
của Baskin là về bản chất chính sách cổ tức có thể ảnh hưởng đến biến động giá cổ
phiếu.
12
Nghiên cứu của Rashid, A. and Rehman, AZMA., 2008 “Chính sách cổ tức và
biến động giá cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm từ Bangladesh”
Rashid và Rahman (2008) đã sử dụng phân tích hồi qui dữ liệu chéo để nghiên cứu
mối quan hệ giữa biến động giá cổ phiếu và chính sách cổ tức ở Bangladesh với
phương pháp hồi quy bình phương bé nhất (OLS) và phương pháp hồi quy 2 giai
đoạn bình phương bé nhất (2SLS). Trong nghiên cứu này, tác giả xem xét 104 công
ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Dhaka trong giai đoạn 19992006 và được chia thành 5 ngành đó là Kỹ thuật, Thực phẩm, Dược phẩm và Hóa
chất, Dệt may và các ngành công nghiệp khác.
Kết quả 2 phương pháp hồi quy tương tự nhau: Hệ số hồi quy biến tỷ suất cổ tức,
Nợ, Tăng trưởng là dương. Hệ số hồi quy của biến Tỷ lệ chi trả cổ tức, biến động
thu nhập, và quy mô công ty là âm. Các hệ số hồi quy đều không có ý nghĩa đáng kể
ngoại trừ tỷ lệ chi trả cổ tức và quy mô công ty. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn
cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa biến động giá cổ phiếu và tỷ suất cổ tức
nhưng không đáng kể, và mối quan hệ ngược chiều giữa chi trả cổ tức và biến động
giá cổ phiếu. Các hệ số hồi quy của việc phân loại ngành công nghiệp cho thấy, chỉ
một số các ngành công nghiệp có ảnh hưởng nhỏ đến chính sách cổ tức và biến
động giá cổ phiếu ở Bangladesh.
Sự khác biệt của kết quả nghiên cứu của tác giả là vì sự khác biệt về các yếu tố
mang tính thể chế (institutional settings) của Banladesh so với các quốc gia khác.
Cổ phiếu của các công ty niêm yết tại Bangladesh không được phát hành rộng rãi và
chịu sự kiểm soát của một nhóm cổ đông chi phối. Vì vậy, việc thanh toán cổ tức
sử dụng hồi quy bình phương bé nhất đa biến. Theo kiến nghị của Baskin(1989), mô
hình hồi quy gồm biến động giá, hai tỷ số đo lường chính của chính sách cổ tức là tỷ
suất cổ tức và tỷ lệ chi trả cổ tức và một số biến kiểm soát là những yếu tố ảnh
hưởng đến cả chính sách cổ tức và biến động giá cổ phiếu – Tăng trưởng tài sản,
biến động thu nhập và quy mô công ty. Okafor và cộng sự (2010) ước lượng mô
hình hồi quy theo từng năm trong 8 (tám) năm từ 1998-2005 với mẫu nghiên cứu
14
gồm 10 công ty để đo lường tác động của chính sách cổ tức lên biến động giá cổ
phiếu trên thị trường chứng khoán Nigeria.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong hai công cụ đo lường chính sách cổ tức, tỷ suất
cổ tức có tác động ngược chiều đến rủi ro giá cổ phiếu. Công cụ đo lường chính
sách cổ tức còn lại là tỷ lệ chi trả cổ tức thì tác động ngược chiều trong một số năm
và tác cùng chiều trong các năm khác, mặc dù ở mức ý nghĩa thấp. Điều này cho
thấy tỷ suất cổ tức là quan trọng hơn tỷ lệ chi trả khi ảnh hưởng đến biến động giá
của cổ phiếu phổ thông.
Khác với các nghiên cứu trước đó như Baskin (1989), Hussainey (2011)…phân tích
dữ liệu trung bình các năm nghiên cứu, nghiên cứu này phân tích theo từng năm, thế
nhưng kết quả nghiên cứu phần nào cũng phù hợp với kết quả của các nghiên cứu
trước đây về tác động của tỷ suất cổ tức đến giá cổ phiếu. Kết quả về tỷ lệ chi trả cổ
tức của nghiên cứu này có thể được giải thích bởi bản chất tăng trưởng của thị
trường chứng khoán Nigerian và nền kinh tế Nigerian.
Ba biến kiểm soát là quy mô, tốc độ tăng trưởng tài sản và biến động thu nhập được
sử dụng trong nghiên cứu này thì phù hợp với dự đoán và giống với kết quả của các
nghiên cứu trước. Đó là: công ty có quy mô lớn thì ít biến động hơn các công ty quy
mô nhỏ, công ty có nhiều cơ hội tăng trưởng thì biến động giá lớn hơn các công ty ít
có cơ hội tăng trưởng tài sản và công ty có thu nhập không ổn định, biến động đáng
kể thì biến động giá cao hơn.
Allen và Rachim (1996). Nhưng trái ngược với những phát hiện của Baskin (1989).
Kết quả nghiên cứu của tác giả còn cho thấy tỷ lệ trả cổ tức cao hơn thì ít biến động
giá cổ phiếu hơn. Ngoài ra, trong số các biến kiểm soát, nghiên cứu đã phát hiện ra
rằng quy mô và nợ có mối tương quan cao nhất với biến động giá cả. Trong đó, quy
mô có một mối quan hệ ngược chiều với biến động giá, cho thấy rằng các công ty
lớn hơn, ít biến động giá cổ phiếu hơn. Mặt khác nợ tác động thuận chiều đáng kể
tới biến động giá, cho thấy rằng công ty mà tỷ lệ nợ càng cao thì sẽ có nhiều biến
động giá cổ phiếu.
16
Nghiên cứu này hỗ trợ cho thực tế rằng chính sách cổ tức có tác động đến sự thay
đổi giá cổ phiếu của một mẫu của các công ty được niêm yết trên thị trường chứng
khoán London. Thách thức đối với các nhà quản lý và kế toán nói chung là phải cải
thiện, nâng cao chất lượng báo cáo tài chính (tức là báo cáo thu nhập) để tránh tạo
ra các thông tin sai có thể dẫn đến quyết định sai lầm của các nhà đầu tư.
Nghiên cứu của Hashemijoo, M., Ardekani, A.M., & Younesi, N., 2012 “Tác
động của chính sách cổ tức đến biến động giá cổ phiếu trên thị trường chứng
khoán Malaysia”
Hashemijoo và các cộng sự (2012) nghiên cứu tác động của chính sách cổ tức lên
biến động giá cổ phiếu tập trung vào các công ty sản phẩm tiêu dùng được niêm yết
trên thị trường chứng khoán Malaysia. Với mục đích này, một mẫu của 84 công ty
đến từ 142 công ty sản phẩm tiêu dùng được niêm yết trên thị trường chính Bursa
của Malaysia đã được lựa chọn và sự ảnh hưởng của tỷ suất cổ tức và tỷ lệ chi trả cổ
tức đến biến động giá cổ phiếu đã được nghiên cứu bằng cách áp dụng hồi quy đa
biến trong khoảng thời gian sáu năm từ năm 2005 đến năm 2010. Mô hình hồi quy
cơ bản được mở rộng bằng cách thêm các biến kiểm soát bao gồm quy mô, biến
động thu nhập, đòn bẩy tài chính (nợ) và tăng trưởng.
Các kết quả thực nghiệm của nghiên cứu này cho thấy mối quan hệ ngược chiều
thành 3 giai đoạn, bắt đầu từ trước khủng hoảng (2005 - 2006), trong cuộc khủng
hoảng (2007-2008) và hậu khủng hoảng (2009 - 2010).
Tác giả phân tích dữ liệu dựa trên các phương pháp hồi quy bình phương bé nhất
bằng cách sử dụng phần mềm E-views. Theo bảng thống kê mô tả các biến được sử
dụng trong các nghiên cứu trong giai đoạn 2005-2010, không ngạc nhiên rằng sự
biến động rất cao của các công ty xây dựng và vật liệu Malaysia trong suốt sáu năm
vì sự xuất hiện của cuộc khủng hoảng như: cuộc khủng hoảng tín dụng năm 2007,
cuộc khủng hoảng thế chấp dưới chuẩn tại Mỹ năm 2007-2008, phá sản của Lehman
Brother vào năm 2008, và những cuộc khủng hoảng khác.
Kết quả thực nghiệm cho thấy 43,43% thay đổi trong giá cổ phiếu của các công ty
xây dựng và vật liệu Malaysia được giải thích bởi tỷ suất cổ tức, tỷ lệ chi trả cổ tức,