1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến
vượt bậc trong tăng trưởng và phát triển kinh tế. Để có những thành công đó,
một phần rất quan trọng nhờ quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung
và cơ cấu ngành kinh tế nói riêng.
Tuy nhiên, hiện nay với xu thế toàn cầu hóa và nền kinh tế tri thức phát
triển như vũ bão trên quy mô toàn cầu. Nền kinh tế tri thức đã ảnh hưởng tới
tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - chính trị - xã hội. Không có một
quốc gia nào muốn vươn lên mà nằm ngoài xu thế đó, ngay cả đối với những
nước đang phát triển như Việt Nam. Nền kinh tế tri thức dần xuất hiện và có
những ảnh hưởng tới mọi mặt trong mọi hoạt động kinh tế. Chính vì vậy,
nghiên cứu về quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết.
Vì nếu chúng ta có một cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, phát triển huy được
những lợi thế, tiềm năng của đất nước, phù hợp với sự phát triển của nền kinh
tế tri thức thì chúng ta sẽ tạo ra được những bước phát triển nhảy vọt, góp
phần nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng tụt hậu, đuổi kịp các
nước phát triển trên thế giới.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, em đã chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
hiện nay” làm đề tài nghiên cứu của mình để làm rõ hơn quá trình chuyển
dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện mới - sự phát triển của nền kinh tế
tri thức.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, có một số công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức cũng như
quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam. Tuy nhiên những
2
3
phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay và đề xuất các phương hướng, giải
pháp để thúc đẩy nhanh hơn nữa quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
6. Dự kiến đóng góp mới của luận văn
(i) Hệ thống hóa lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và tác
động của kinh tế tri thức đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
(ii) Đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và đề xuất
phương hướng, giải pháp nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức ở nước ta.
7. Bố cục luận văn
Với lý do lựa chọn và mục đích nghiên cứu như trên, luận văn này có
bố cục gồm phần mở đầu, kết luận và 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức.
- Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều
kiện phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay.
- Chương 3: Những quan điểm cơ bản và giải pháp chủ yếu nhằm đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trong điều kiện phát triển
kinh tế tri thức ở Việt Nam.
4
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC
1.1. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ
1.1.1. Khái niệm cơ cấu kinh tế
“Cơ cấu kinh tế là một tổng thể hệ thống kinh tế bao gồm nhiều yếu tố
có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một không gian
phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của từng quốc gia, ở mỗi một
giai đoạn nhất định. Sự thay đổi đó còn gọi là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Nền kinh tế muốn phát triển thì phải có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù
hợp. Sự chuyển dịch đó diễn ra nhanh hay chậm và theo chiều hướng nào tùy
thuộc vào các nhân tố chủ yếu là: Quy mô của nền kinh tế, mức độ mở cửa để
hội nhập của nền kinh tế với bên ngoài, lượng dân số, tài nguyên thiên nhiên,
nguồn vốn nhân lực, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa … của từng nước.
Ngày nay, với sự bùng nổ của cách mạng khoa học kỹ thuật và xu
hướng toàn cầu hóa, thế giới bước sang kỷ nguyên của kinh tế tri thức. Khoa
học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ đã làm cho quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đi theo xu hướng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật mới tăng lên
nhanh chóng và dần chiếm ưu thế, tỷ trọng các ngành truyền thống giảm dần.
Các quốc gia đi đầu trong những lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt là công
nghệ tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường sẽ giành vị trí thống trị, áp
đảo trong nền kinh tế khu vực và thế giới.
Điều đó làm cho các quốc gia khác cũng phải có các chính sách điều
chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với xu thế phát triển kinh tế toàn cầu.
1.1.3. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một yêu cầu khách quan, xuất phát
từ sự phát triển của quá trình phân công lao động xã hội, cách mạng hóa sản
xuất và chịu sự tác động của cách mạng khoa học, công nghệ.
6
Cơ cấu ngành kinh tế luôn phải chuyển dịch để phù hợp với sự biến đổi
của môi trường khoa học kỹ thuật bên ngoài. Một số ngành cũ mất đi, một số
ngành mới ra đời nhằm đáp ứng các nhu cầu về vật chất và tinh thần trong
thời đại mới. Không bao giờ có cùng tốc độ tăng trưởng, phát triển cho tất cả
các ngành. Ngành nào thực sự cần thiết cho quốc tế dân sinh thì sẽ phát triển
ngày càng nhanh, và ngược lại có những ngành quy mô và tốc độ phát triển
cũng rất cần thiết để có thể tập trung sức lực và vật lực, khai thác tối đa các
ngành có lợi thế cạnh tranh và giá trị cao trên thị trường, phục vụ cho xuất
khẩu nhằm thu được nhiều ngoại tệ mạnh phục vụ cho việc cải tiến kỹ thuật,
công nghệ trong nước.
Xu thế của hầu hết các nước trên thế giới hiện nay là chuyển dịch cơ
cấu ngành kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghệ kỹ thuật cao
và ngành dịch vu, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp, ưu tiên những ngành
tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Việt Nam đã đạt được nhiều thành công vì có sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế đúng hướng. Đảng và Nhà nước ta chủ trương giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Nông, lâm,
ngư nghiệp giảm từ 24,3% năm 2000 xuống còn 20,9% năm 2005. Công
nghiệp và xây dựng tăng từ 36,6% năm 2000 lên 41% năm 2005. Thương mại
và dịch vụ giảm nhẹ từ 39,1% năm 2000 xuống còn 38,1% năm 2005 [35,
36]. Điều đó đã làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam với mức
bình quân 5 năm (2000-2005) đạt 7,5%, đứng thứ hai trong khu vực Đông Á.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã cải thiện đáng kể cuộc sống của
người dân. Việt Nam từ một nước thiếu ăn, thường xuyên phải nhập khẩu
lương thực, đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới.
Nhưng bên cạnh những thành công thì quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế ở Việt Nam vẫn còn có nhiều khó khăn, thách thức. Như là
chưa đầu tư đúng mức cho các ngành công nghiệp công nghệ cao, vẫn còn
8
nặng về công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Quá trình hiện đại hóa vẫn chưa
được quan tâm đúng mức, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý. Ngành công nghiệp chủ
yếu phát triển theo chiều rộng, tập trung vẫn là các ngành sử dụng nhiều lao
động, chất lượng chưa cao và vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ trong nền kinh tế.
Chính vì vậy làm cho sức cạnh tranh của hàng công nghiệp thấp, tình trạng
phân phối và sử dụng tri thức trở thành động lực chính cho tăng trưởng, cho
quá trình tạo ra của cải và việc làm trong tất cả các ngành kinh tế (APEC
2000).
Ngân hàng Thế giới (WB, 2000) đánh giá: “Đối với các nền kinh tế tiền
phong trên thế giới, cán cân giữa hai yếu tố tri thức và các nguồn lực đang
nghiêng về tri thức. Tri thức đã thực sự trở thành yếu tố quan trọng nhất quyết
định mức sống - hơn cả yếu tố đất đai, hơn cả yếu tố tư liệu sản xuất, hơn cả
yếu tố lao động. Các nền kinh tế phát triển nhất về công nghệ ngày nay thực
sự đã dựa vào tri thức”.
Vậy nền kinh tế tri thức là gì? Chưa có một định nghĩa chính xác được
chấp nhận chung về nền kinh tế tri thức nhưng có thể nói rằng đặc trưng nổi
bật nhất của nền kinh tế tri thức là tri thức đã vượt qua những nhân tố sản xuất
truyền thống là vốn và sức lao động để trở thành nhân tố quan trọng nhất
đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội của quốc gia. Nói cách
khác đang có sự chuyển biến toàn cầu từ các nền kinh tế dựa trên bắp thịt và
tiền vốn chuyển sang nền kinh tế dựa trên trí não.
10
1.2.2. Những đặc trƣng chủ yếu của nền kinh tế tri thức
Thứ nhất, sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hƣớng tri thức hóa.
Kinh tế tri thức ra đời dẫn đến sự chuyển biến to lớn, sâu sắc về cơ cấu
kinh tế, về cách thức và các quy tắc hoạt động của nền kinh tế. Các ngành
kinh tế dựa vào tri thức phát triển nhanh, các ý tưởng đổi mới và công nghệ là
chìa khóa tạo ra việc làm và năng cao chất lượng cuộc sống.
Nếu trong nền kinh tế nông nghiệp, cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chủ
yếu, trong nền kinh tế công nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò chủ
yếu thì trong nền kinh tế tri thức, các ngành kinh tế tri thức giữ vai trò thống
trị. Nền kinh tế tri thức được tổ chức trên cơ sở sự sản xuất linh hoạt hàng hóa
và dịch vụ dựa vào công nghệ cao và giá trị công nghiệp công nghệ cao tăng
thành một ngôi làng nhỏ bé.
Công nghệ thông tin góp phần làm cho nền kinh tế phát triển năng động
với các ứng dụng hiệu quả của nó như thương mại điện tử, thị trường ảo, tổ
chức ảo, xí nghiệp ảo, học tập và làm việc từ xa…làm xóa nhòa khoảng cách
và không gian địa lý. Chính vì vậy nhiều người gọi kinh tế tri thức là kinh tế
số hay kinh tế mạng.
Thƣ tƣ, các doanh nghiệp vừa hợp tác, vừa cạnh tranh để phát triển.
Hợp tác và cạnh tranh chính là cánh thức linh hoạt để các doanh nghiệp
từng bước nâng cao chất lượng hàng hóa và dịch vụ của mình, để chinh phục
người tiêu dùng. Hợp tác để trở thành các tập đoàn khổng lồ, mặt khác từ các
tập đoàn khổng lồ lại cơ cấu lại thành nhiều công ty mẹ - con để tăng hiệu quả
hoạt động. Nên hợp tác và cạnh tranh vừa đối lập vừa thống nhất trong thời
đại nền kinh tế tri thức.
Thứ năm, kinh tế tri thức thúc đẩy hình thành một xã hội học tập.
Con người phải thường xuyên trau dồi kiến thức và tri thức cho mình,
để không bị lạc hậu trước thời cuộc. Mỗi người phải có chế độ học tập suốt
12
đời, không ngừng nâng cao tay nghề của mình để có được thu nhập và địa vị
cao hơn trong xã hội.
Đầu tư cho con người trở thành nguồn đầu tư có hiệu quả cao nhất và
xu hướng đầu tư vô hình (cho con người, cho giáo dục, khoa học, văn hóa - xã
hội…) cao hơn đầu tư hữu hình (cho cơ sở vật chất kỹ thuật). Vì chỉ có con
người mới có sự sáng tạo, mới tạo ra tri thức chứ không phải máy móc.
Thứ sáu, vốn quý nhất trong nền kinh tế tri thức là tri thức.
Tri thức là nguồn lực hàng đầu tạo nên sự tăng trưởng, việc chia sẻ cho
càng nhiều người cùng sử dụng tri thức làm cho giá trị của tri thức đó tăng lên
chứ không giảm đi. Điều đó có thể mô tả bằng hình tượng: “Anh châm ngọn
nến của anh nhờ ngọn nến của tôi làm cho anh sáng lên mà tôi không bị tối
và công nghệ trong kinh tế tri thức tác động đến biến đổi các bộ phận truyền
thống trong cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia theo các hướng sau:
- Hiện đại hóa các ngành truyền thống: Nông nghiệp, công nghiệp,
dịch vụ.
Các ngành truyền thống sản xuất ra các sản phẩm phục vụ các nhu cầu
thiết yếu của con người. Ngành nông nghiệp cung cấp cho con người lương
thực, thực phẩm, vải vóc…vẫn được duy trì để phục vụ cuộc sống con người
nhưng sẽ được áp dụng các phương pháp tiên tiến của thời đại kinh tế tri thức
như kỹ thuật gen, kỹ thuật vi sinh…góp phần tạo ra những sản phẩm có chất
lượng cao và năng suất vượt trội so với các phương pháp truyền thống truyền
lại từ ngàn năm nay.
Điều đó cũng tạo ra sự biến đổi xã hội sâu sắc khi càng ngày càng cần
ít người hơn để tạo ra một khối lượng sản phẩm nhiều hơn gấp hàng nghìn lần
thậm chí hàng triệu lần so với phương pháp truyền thống.
- Hình thành những ngành mới, những ngành đại diện cho nền
kinh tế tri thức.
Đó là những ngành, những doanh nghiệp chế tạo ra những sản phẩm
công nghệ mới với trình độ cao. Vì tính khác biệt, mới mẻ của nó, người ta
14
còn gọi là ngành sản xuất thứ tư. (Tuy nhiên, cách gọi này chưa thật sự phù
hợp vì mọi ngành đều có thể áp dụng công nghệ cao để gia nhập nền kinh tế
tri thức ở giai đoạn thích hợp).
Những ngành này có thể kể đến như:
+ Ngành công nghệ thông tin
+ Ngành công nghệ sinh học
+ Ngành công nghệ năng lượng mới và nguồn năng lượng tái
sinh
+ Ngành công nghệ kỹ thuật cao có lợi cho môi trường
đang phát triển vẫn còn rất lạc hậu, chủ yếu là mua lại những máy móc thiết
bị thế hệ hai hoặc ba của các nước phát triển.
Cùng với thời gian sư chênh lệch này diễn ra theo khoảng cách ngày
càng xa, nguy cơ tụt hậu ngày càng lớn. Điều đó đòi hỏi mỗi nước đang phát
triển phải tìm con đường đi cho riêng mình nhằm bước đầu tạo ra các nhân tố
của kinh tế tri thức, tạo bệ phóng thoát ra khỏi tình trạng tụt hậu và kém phát
triển.
1.3. KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH
KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC VÀ BÀI
HỌC RÚT RA CHO VIỆT NAM
1.3.1. Trung Quốc
Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển
kinh tế tri thức của Trung Quốc còn nhiều khó khăn, vì cơ sở hạ tầng và kỹ
thuật then chốt của Trung Quốc còn kém xa các nước phát triển và hầu hết
các nước trong khu vực.
Tuy vậy, Chính phủ Trung Quốc chủ trương chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế theo chiến lược “thúc đẩy nền kinh tế dựa trên khoa học và giáo dục”.
Để đặt nền móng cho kinh tế tri thức, Trung Quốc phấn đấu hai mục
tiêu vừa nâng cao trình độ phát triển công nghiệp, vừa quan tâm xây dựng và
16
hoàn thiện nền móng thực thi kinh tế tri thức, tăng cường đầu tư vào các lĩnh
vực nghiên cứu và phát triển, truyền thông thông tin và giáo dục đào tạo.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri
thức ở Trung Quốc cụ thể bằng triển khai áp dụng công nghệ cao trong mười
ngành công nghiệp chủ chốt. Đây chính là những ngành hạt nhân, mũi nhọn
để phát triển công nghệ cao và kỹ thuật tiên tiến.
Bên cạnh đó, Trung Quốc đã xây dựng được một hệ thống các cơ quan
cầu về sản phẩm hàng hóa có chất lượng cao và đa dạng. Từ đó, các doanh
nghiệp coi thị trường là cơ sở để chọn lựa và áp dụng cơ chế kích thích hoạt
động nghiên cứu và phát triển.
Ngoài ra, Trung Quốc không ngừng tăng cường công tác nghiên cứu và
phát triển hợp tác khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến của nước ngoài.
Điều này không có nghĩa là mô phỏng hay bắt chước mà là để rút ra kinh
nghiệm thực hiện sáng tạo kỹ thuật của chính mình, từ đó làm giàu thêm cho
tài sản khoa học của thế giới.
Với cơ chế khuyến khích đổi mới cách thức quản lý và điều hành doanh
nghiệp, với thị trường nội địa rộng lớn nhất thế giới hơn một tỷ dân và với
việc trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới
(WTO), Trung Quốc đang phấn đấu đến năm 2010 sẽ đạt tới trình độ phát
triển của các quốc gia tiên tiến trung bình trên thế giới.
Nếu các biện pháp trên được thực hiện một cách có hiệu quả thì đến
năm 2010 chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế
tri thức, tiêu biểu là ngành công nghệ thông tin, kim ngạnh xuất khẩu sản
phẩm thông tin của Trung Quốc có thể đạt tới 400 tỷ USD [9, tr. 83], cao hơn
khoảng 30% so với Nhật Bản, vượt tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Malaixia, Singapore, Đài Loan cộng lại, trở thành sản phẩm thông tin lớn nhất
thế giới. Đó là dự báo của công ty Solomon (Hongkong). Và cũng theo công
ty này, Trung Quốc với các ưu thế như giá thành rẻ và thị trường rộng lớn sẽ
18
dần trở thành nước sản xuất chủ yếu các sản phẩm thông tin của khu vực châu
Á - Thái Bình Dương.
Dự báo đến năm 2010, Trung Quốc sẽ đứng thứ hai thế giới về doanh
số sản phẩm công nghệ thông tin và đến năm 2015, Trung Quốc sẽ đứng
ngang với Mỹ về chỉ tiêu này [9, tr. 83].
Tuy nhiên, bên cạnh những việc đã làm được thì Trung Quốc còn gặp
một năm trước đó. Và từ đó cho đến khi bị thay thế bởi Cơ quan Phát triển
thông tin, viễn thông (IDA) năm 1999, NCB là cơ quan đóng vai trò chủ chốt
trong việc đề ra và thực hiện các kế hoạch phát triển công nghệ thông tin của
Xinhgapo.
Thời kỳ này, dưới tác động của CSCP, các dịch vụ trực tuyến như:
Mạng thương mại (Tradenet), mạng trường học (Schoolink), mạng pháp luật
(Lawnet) đã được thiết lập. Hiện các công ty đóng tại Xinhgapo có khả năng
đàm thoại trực tiếp đến hơn 160 thành phố trên thế giới.
Năm 1989, Xinhgapo đã trở thành nước đầu tiên trên thế giới cung cấp
trên toàn quốc dịch vụ thương mại ISDN nhờ sự hình thành mạng cáp quang.
Như vậy là ngay từ những năm 1980, tại Xinhgapo những nền tảng cơ bản
quan trọng nhất trong lĩnh vực công nghệ thông tin đã được thiết lập, đây là
những viên gạch đầu tiên cho giai đoạn tiếp theo.
Năm 1992, NCB đã ban hành Kế hoạch tổng thể IT 2000. Kế hoạch
này có tham vọng biến Xinhgapo trở thành một hòn đảo thông minh, một
trung tâm công nghệ thông tin của khu vực có khả năng cạnh tranh cao trong
mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và hướng tới cải thiện chất lượng cuộc
sống.
Năm 1996, Singapore One, mạng duy nhất cho mọi người (One
Network for Everyone) đã được thiết lập tạo nên mạng lưới truyền thông đa
chiều biên độ rộng đầu tiên trên thế giới và được áp dụng trên toàn quốc.
Đến tháng 10/2000, Singapore One đã tiếp cận hơn 99% các gia đình,
tất cả các trường học và hầu hết các cơ sở công cộng. Thậm chí người không
20
có máy tính cũng có thể dễ dàng truy cập tại các quầy công cộng đặt ở góc
phố hay các siêu thị lớn.
Như vậy có thể nói, việc triển khai IT 2000 và Singapore One đã giúp
Xinhgapo thiết lập được nền móng IT vững chắc, làm tiên đề để “con rồng”
80
3.2. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM ĐẨY NHANH QUÁ TRÌNH
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
3.2.1. Tập trung các điều kiện để phát triền nhanh có chọn lọc các
ngành kinh tế dựa vào tri thức và công nghệ cao
Vấn đề lựa chọn các ngành cần tập trung phát triển luôn là vấn đề được
đặt ra trong nghiên cứu cơ cấu ngành kinh tế. Các ngành kinh tế dựa vào tri
thức và công nghệ cao có thể kể đến một số ngành như: Công nghệ thông tin
và truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, năng lượng mới,
công nghệ tự động hóa….Việt Nam cũng đã xác định bốn ngành công nghệ
mũi nhọn kể trên.
Việc tập trung các điều kiện để phát triển nhanh các ngành kinh tế dựa
vào tri thức và công nghệ mới nhất sẽ tạo ra những bước nhảy vọt cho nền
kinh tế.
Trong ngành công nghệ thông tin - truyền thông, phát triển mạng xa lộ
thông tin quốc gia, ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong tất cả các lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh
trong các ngành kinh tế, góp phần hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả hơn.
Ngành công nghệ sinh học (ngành nông nghiệp công nghệ cao, công
nghiệp dược phẩm, công nghiệp môi trường…), công nghệ vật liệu mới, năng
lượng mới, công nghệ nanô…sẽ cho ra đời các sản phẩm tính năng cao, chiếm
lĩnh được thị trường thế giới. Vì những ngành công nghệ cao một khi ra đời là
có thể theo kịp trình độ chung của thế giới, đó là sự nhảy vọt, tốc độ cao.
Ngoài ra, có thể áp dụng công nghệ cao trong các lĩnh vực dịch vụ
thông tin truyền thông, ngân hàng, tài chính, quản lý xã hội, tài nguyên, giao
thông vận tải và nhiều loại dịch vụ mang tính toàn cầu khác, mang lại những
nguồn thu lớn cho đất nước.
82
phát triển khác rất thiếu. Nên để khắc phục sự thiếu thốn và công nghệ này thì
giải pháp đặt ra là:
+ Đối với trong nước: Tăng thu ngân sách để tăng nguồn đầu tư cho
phát triển.
+ Đối với bên ngoài: Tăng cường các biện pháp để thu hút vốn đầu tư
từ bên ngoài, kể cả vốn FDI lẫn ODA.
Tuy nhiên, một vấn đề lớn hơn nữa là để nâng cao chất lượng nguồn
vốn đầu tư, chúng ta cần phải quản lý chặt chẽ hơn nữa việc sử dụng nguồn
vốn. Có rất nhiều vụ tiêu cực xung quanh việc sử dụng nguồn vốn đầu tư, đặc
biệt trong ngành giao thông vận tải và lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản. Điều
đó đòi hỏi Nhà nước cần phải thắt chặt hơn nữa việc quản lý nguồn vốn, tránh
tình trạng sử dụng bừa bãi, gây thất thoát lớn cho nền kinh tế và làm tăng
gánh nặng nợ nước ngoài.
- Về nguồn tài nguyên con người: được coi là dồi dào, giá rẻ, có khả
năng nắm bắt nhanh về công nghệ để chuyển giao. Trên thực tế có thể kết
luận rằng, hoàn toàn có thể coi nguồn nhân lực như một loại lợi thế nổi bật
của Việt Nam so với các yếu tố nguồn lực khác như tài nguyên thiên nhiên,
vốn, công nghệ vì:
+ Lao động Việt Nam được coi là đủ kiến thức cơ sở để học nghề một
cách nhanh chóng.
+ Mức lương hiện tại thấp.
+ Việt Nam đang chuẩn bị bước vào thời kỳ dân số vàng.
Tuy nhiên, những lợi thế trên cũng có thể biến mất, thậm chí trở thành
bất lợi khi không có chính sách tốt để biến lợi thế tiềm năng thành hiện thực.
Như vậy trong từng điều kiện cụ thể, chúng ta quyết định cần ưu tiên
phát huy cho nguồn lực nào để góp phần chuyển dịch nhanh cơ cấu ngành
kinh tế trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức.
khu vực năm học 2001 - 2002.
84
Thái Lan
Philippin
Tỷ lệ đi học trong độ tuổi
bậc trung học
Tỷ lệ đi học trong độ tuổi
bậc đại học, cao đẳng
Tổng số sinh viên đang
học đại học, cao đẳng
Malaixia
Việt Nam
93%
88%
98%
84%
37%
31%
29%
học tập. Vì trước đây quan niệm giáo dục cho rằng những kiến thức đã học ở