ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
LÊ THỊ KIM HƢNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
LÊ THỊ KIM HƢNG
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA
DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG
Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
MÃ SỐ: 62 22 03 08
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. DƢƠNG VĂN THỊNH
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến bản sắc văn hóa dân tộc Tày 18
1.3. Những công trình nghiên cứu liên quan đến kinh tế thị trƣờng và giữ gìn,
phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ........ 22
1.3.1. Các công trình nghiên cứu về kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay ..... 22
1.3.2. Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng, giải pháp giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường............................ 24
1.4. Đánh giá chung ........................................................................................... 31
1.4.1. Đánh giá kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu ................................ 31
1.4.2. Một số vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án.......................................... 31
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ......................................................................................... 32
Chƣơng 2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN
HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở
MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY ....................................... 33
1
2.1. Khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân
tộc Tày................................................................................................................. 33
2.1.1. Khái niệm văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc................................................... 33
2.1.2. Dân tộc Tày và bản sắc văn hóa dân tộc Tày....................................................... 40
2.2. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và ngƣời Tày ở một số
tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay .................................................................... 43
2.2.1. Điều kiện tự nhiên ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay ......................... 43
2.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay ....... 45
2.2.3. Người Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay ...................................... 47
2.3. Quan niệm và nội dung của việc giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam ...................................................... 51
2.3.1. Quan niệm về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc .............................. 51
2.3.2. Nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số
3.2.3. Mâu thuẫn giữa sự thiếu hụt, hạn chế về điều kiện vật chất với đảm bảo
hiệu quả của việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc118
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3 ....................................................................................... 120
Chƣơng 4. QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN
SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ
TRƢỜNG Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY .............. 121
4.1. Quan điểm giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều
kiện kinh tế thị trƣờng ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam .......................... 121
4.1.1. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị
trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam phải đi đôi với đấu tranh khắc phục những
yếu tố văn hóa lạc hậu..................................................................................................... 121
4.1.2. Đảm bảo thực hiện mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế
thị trường và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở một số tỉnh
Đông Bắc Việt Nam .................................................................................................... 123
4.1.3. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị
trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam cần đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa
truyền thống và hiện đại .................................................................................................. 124
4.2. Giải pháp giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều
kiện kinh tế thị trƣờng ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay .......... 127
3
4.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương
trên lĩnh vực văn hóa ....................................................................................................... 127
4.2.2. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về việc giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa cho đồng bào dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc ... 130
4.2.3 Đẩy mạnh phát triển kinh tế ở một số tỉnh Đông Bắc nhằm nâng cao đời sống
vật chất cho đồng bào, từ đó tạo điều kiện để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Tày có hiệu quả .................................................................................................. 134
KTTT
Kinh tế thị trƣờng
3
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
5
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nƣớc ta đã đạt đƣợc những
thành tựu to lớn. Đó là kết quả bƣớc đầu trong điều kiện kinh tế thị trƣờng của đất
nƣớc, của bản sắc văn hoá Việt Nam, của con ngƣời Việt Nam. Xuất phát từ quan
điểm duy vật biện chứng về văn hoá và xu thế phát triển của nhân loại, Nhà nƣớc ta
rất đề cao vai trò của bản sắc văn hoá dân tộc. Hiện nay, giữ gìn và phát huy BSVH
dân tộc trong quá trình phát triển là một nhu cầu khách quan.
Khi phát triển nền kinh tế thị trƣờng, mục tiêu của nƣớc ta là xây dựng Việt
Nam thành một nƣớc xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và văn minh. Để thực hiện mục
tiêu đó cần quan tâm xây dựng nền tảng tinh thần của xã hội. Chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử đã vạch ra qui luật khách quan rằng, đời sống vật chất
(hiện thực) quy định đời sống tinh thần của xã hội. Do đó, trình độ kinh tế - chính
trị - xã hội tiên tiến và hiện đại trong điều kiện KTTT sẽ có những tác động nhất
định đến sự phát triển văn hoá, xã hội. Văn hóa là mục tiêu, là động lực của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, phát triển văn hóa nhằm xây dựng và bồi dƣỡng
nguồn lực con ngƣời về trí tuệ và tâm hồn, năng lực, sự thành thạo, tài năng, đạo
Vùng Đông Bắc Việt Nam có nhiều dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó
cộng đồng dân tộc Tày đông thứ hai sau dân tộc Kinh. Lịch sử cƣ trú của cộng đồng
dân tộc Tày có bề dày văn hóa, gắn với những nét riêng biệt, đặc trƣng, đậm đà bản
sắc. Trong suốt chiều dài lịch sử, văn hóa truyền thống của dân tộc Tày ở một số
tỉnh Đông Bắc luôn là di sản quý giá, góp phần làm nên sự phong phú, đa dạng và
thống nhất của nền văn hóa dân tộc.
Khi phát triển KTTT một mặt đã tạo ra cơ hội để tôn tạo, giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa của dân tộc Tày phù hợp với điều kiện mới nhƣng cũng khó tránh
khỏi sự thay đổi về BSVH dân tộc, đặc biệt có những thay đổi dẫn tới pha tạp, làm
giảm giá trị, xuất hiện xu hƣớng “Kinh hóa” có nguy cơ đánh mất bản sắc riêng.
Trƣớc sự biến động đó cần thiết phải quan tâm, nghiên cứu, đề xuất những quan
điểm, giải pháp kịp thời để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển.
Trong những năm vừa qua, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về giữ
gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày, có một số công trình đã đề ra đƣợc các nhóm
giải pháp khả thi, có thể áp dụng vào thực tiễn. Song, chƣa có công trình nghiên cứu
mang tính toàn diện, cụ thể về việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc Tày trong
điều kiện KTTT ở một số tỉnh Đông Bắc.
Nhận thức đƣợc ý nghĩa của việc giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc nói chung, văn
hóa dân tộc Tày nói riêng là quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay đã trở thành
lý do để nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài luận án: "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá
dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1. Mục đích của luận án:
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ một số vấn đề lý luận về giữ gìn
và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc trong điều kiện
kinh tế thị trƣờng ở Việt Nam, làm rõ thực trạng, phân tích những vấn đề đặt ra và
đề xuất một số quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả của việc giữ
gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở
7
Luận án dựa trên các quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc ta về
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trƣờng,
thực hiện công cuộc đổi mới đất nƣớc.
Luận án kế thừa thành tựu của các học giả đi trƣớc về các nội dung có liên
quan đến luận án.
8
4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Luận án sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời sử dụng tổng hợp các phƣơng pháp nghiên cứu nhƣ
lôgic - lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, điền dã, khái quát hóa, hệ thống hóa... để
thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án đề ra, cụ thể:
Phƣơng pháp kết hợp phân tích và tổng hợp để làm rõ các khái niệm ở
chƣơng 2 nhƣ khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc.
Các phƣơng pháp phân tích - tổng hợp, lịch sử và lôgic, so sánh, điền dã còn
đƣợc sử dụng trong việc đánh giá về thực trạng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa
dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam
hiện nay.
5. Đóng góp mới của luận án
Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận án đƣợc thể hiện ở một số
nội dung cụ thể sau:
- Làm rõ những nội dung bản sắc văn hoá dân tộc Tày cần giữ gìn và phát
huy trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực trạng trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc
Tày trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hoá dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ở một số tỉnh Đông
Bắc Việt Nam hiện nay và phân tích một số vấn đề đặt ra từ thực trạng đó.
càng gia tăng.
Trong những năm gần đây, tuy đã có nhiều công trình khoa học và đề tài nghiên
cứu về văn hóa mang tính hệ thống, đa diện hơn nhƣng nhiều vấn đề cần tiếp tục
nghiên cứu trong bối cảnh nền KTTT tác động làm cho nền văn hóa nƣớc ta vừa có cơ
hội phát triển, vừa phải chịu những thách thức lớn cần vƣợt qua. Do đó, cần có tƣ duy
biện chứng để tìm hiểu về văn hóa và BSVH dân tộc dựa trên quan điểm của Đảng với
chủ trƣơng xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trên tất cả các
mặt của đời sống xã hội. Nền văn hóa đó chính là mục tiêu, hệ điều chỉnh và còn là
động lực của sự phát triển, hƣớng tới xây dựng một đất nƣớc phát triển bền vững theo
định hƣớng XHCN.
Văn hóa vốn là một hoạt động thuộc thế giới ngƣời nói chung, đồng thời
là đặc trƣng của mỗi cộng đồng ngƣời nói riêng. Văn hóa là điều kiện sinh tồn
và cũng là thành tựu của từng tộc ngƣời, là một lĩnh vực để phân biệt giữa cộng
đồng ngƣời này với cộng đồng ngƣời khác. Thông qua hoạt động văn hóa sẽ
xác định đƣợc cá tính của từng dân tộc trong cộng đồng, là cầu nối cùng giao
lƣu, hợp tác về văn hóa để đƣa ra thông điệp giúp các dân tộc xích lại gần nhau.
Văn hóa là cơ sở, nền tảng, trụ cột, sức mạnh quan trọng đối với sự phát triển
bền vững của xã hội. Mỗi dân tộc với bản sắc riêng đƣợc coi là tiềm lực, sức
sống, thực lực độc đáo để biểu hiện và tỏ rõ sức mạnh tổng hợp của đất nƣớc.
Hiện nay, có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, BSVH dân tộc.
1.1.1. Các công trình nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc
Đối với Việt Nam, tìm hiểu, nghiên cứu về văn hóa, về BSVH dân tộc đã đƣợc
chú ý từ lâu. Song, cũng nhƣ nhiều quốc gia khác, chỉ từ cuối những năm 80 trở lại đây
thì vấn đề này mới đƣợc quan tâm hơn cả về số lƣợng và chất lƣợng. Điều đó đƣợc ghi
nhận trong một số cuốn sách:
Phạm Văn Đồng với công trình“Văn hóa và đổi mới” [41] đã phân tích mối
quan hệ biện chứng giữa văn hóa và kinh tế, văn hóa và xã hội, văn hóa và hệ thống
10
[113] đã phân tích cơ sở lý luận về văn hóa Việt Nam; văn hóa nhận thức; văn hóa tổ
chức cộng đồng, đời sống tập thể; văn hóa tổ chức cộng đồng, đời sống cá nhân; văn hóa
ứng xử với môi trƣờng tƣ nhiên; văn hóa ứng xử với môi trƣờng xã hội. Tác giả cũng
nhấn mạnh, trong bối cảnh nền kinh tế thị trƣờng có những ảnh hƣởng hai chiều đến giá
trị văn hóa truyền thống của ngƣời Việt Nam, từ đó, tác giả đã gợi mở những yếu tố phù
hợp có thể phát triển và hạn chế những yếu tố tiêu cực trong bối cảnh nền kinh tế thị
trƣờng hiện nay, đồng thời cũng khẳng định, cần biết gạn đục, khơi trong các giá trị văn
11
hóa để thích nghi với điều kiện mới nhằm phát triển kinh tế gắn liền với việc giữ gìn và
phát huy BSVH của quê hƣơng, đất nƣớc.
Công trình nghiên cứu “Bản sắc văn hoá dân tộc” của tác giả Hồ Bá Thâm
[112] đã phân tích quan niệm về về văn hóa, BSVH và động lực phát triển của văn
hoá dân tộc Việt Nam; văn hóa trong thách thức của KTTT và toàn cầu hóa, hiện
đại hóa; bản sắc tƣ duy triết học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Trong đó,
tác giả đã phân tích rõ bản chất, đặc trƣng của văn hóa Việt Nam, tác giả cho rằng,
văn hóa phải có đủ các đặc trƣng ở góc độ tiếp cận hoạt động, tiếp cận giá trị, tiếp
cận phát triển, tiếp cận công nghệ, ở bốn phƣơng diện cơ bản đó tạo thành chỉnh thể
của văn hóa nhƣ một bản thể ngƣời sáng tạo, sinh động vừa bất biến và dĩ biến
trong quá trình phát triển con ngƣời và xã hội loài ngƣời. Trong cuốn sách, tác giả
cũng nêu lên những hạn chế của nền văn hóa Việt Nam trƣớc yêu cầu đổi mới để
phát triển hiện nay, đó là cá nhân chƣa đƣợc phát triển với tƣ cách là một chủ thể tự
chủ, chƣa đƣợc khuyến khích cao độ những động lực và lợi ích cá nhân, tài năng
sáng tạo của cá nhân; các yếu tố văn hóa sản xuất, văn hóa kinh doanh, văn hóa làm
giàu chƣa đƣợc thúc đẩy; tinh thần hợp tác trong lao động sản xuất còn manh mún,
phân tán, đó chính là vấn đề văn hóa mới chúng ta đang thiếu hụt cần phải bổ sung,
phát triển; chƣa có nếp sống thực sự theo pháp luật dân chủ của xã hội công dân;
thiếu văn hóa khoa học và công nghiệp, văn hóa đô thị, văn hóa môi trƣờng xanh sạch, hiện đại. Từ đó, tác giả cho rằng cần phải thực hiện đồng thời vừa kiến thiết
hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa trong xu thế toàn cầu hóa, đồng thời phân tích xu
hƣớng vận động của các nền văn hóa và văn minh trên thế giới. Bên cạnh đó, tác giả đã
đề ra phƣơng châm, nguyên tắc bảo tồn sự đa dạng văn hóa và tăng cƣờng sự đối thoại
giữa các nền văn hóa. Ở phần cuối cuốn sách, tác giả đã phân tích một số quan điểm có
tính chất định hƣớng cho việc thực hiện việc bảo tồn tính đa dạng văn hóa, tăng cƣờng
đối thoại giữa các nền văn hóa vì mục tiêu hòa bình, phát triển bền vững của quốc gia.
Tác giả Trần Ngọc Thêm với cuốn sách “Một số vấn đề về hệ giá trị Việt
Nam trong giai đoạn hiện tại” [114] đã tập hợp 33 bài viết của nhiều tác giả với các
góc độ nghiên cứu, các cách tiếp cận khác nhau về hệ giá trị của văn hóa, trong đó
một số bài viết đã quan tâm đến hệ giá trị của văn hóa trong quá trình tồn tại và phát
triển, các trụ cột chủ yếu để xây dựng hệ giá trị và phát triển văn hóa trong điều
kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển KTTT và hội nhập quốc tế, bàn thêm
về các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống của Việt Nam, hiện tƣợng “lệch chuẩn”
và ứng xử văn hóa của ngƣời Việt trong điều kiện hiện nay. Trong cuốn sách, các
tác giả đã phân tích quá trình chuyển đổi của văn hóa Việt Nam từ văn hóa để tồn
tại đến văn hóa để phát triển do sự thúc bách của thời đại, văn hóa để phát triển dựa
trên trí tuệ và lý trí, bản chất của đời sống văn hóa - lối sống văn hóa thể hiện những
giá trị con ngƣời, giá trị xã hội hình thành trong quá trình sản xuất và trong các
quan hệ xã hội. Cuốn sách có ý nghĩa quan trọng để tác giả luận án tiếp cận đƣợc
vấn đề BSVH dân tộc đang nghiên cứu.
Trần Văn Thụy với bài viết “Quan điểm của Đảng về xây dựng văn hóa và
con người Việt Nam hiện nay” [120]. Bài viết đã nêu lên một số giải pháp cơ bản để
xây dựng văn hóa và con ngƣời Việt Nam có nhân cách, đạo đức, lối sống đẹp. Tác
giả đã nhấn mạnh, xây dựng văn hóa là mục tiêu của chính trị, kinh tế và quá trình
đổi mới đất nƣớc, cần xây dựng văn hóa thành động lực cho sự phát triển kinh tế, xã
13
hội, đồng thời cần đổi mới phƣơng thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực,
1.1.2. Các công trình nghiên cứu về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
Vấn đề giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc đƣợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm,
nhất là trong điều kiện KTTT đặt ra nhiều vấn đề cần phải lý giải, làm cơ sở cho việc xác
định phƣơng hƣớng, lựa chọn các yếu phù hợp và tháo gỡ những khó khăn, vƣớng mắc
trong quá trình phát triển nền văn hóa nƣớc nhà. Tiêu biểu có các công trình sau:
14
Lê Nhƣ Hoa với công trình nghiên cứu “Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam
trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [53] đã phân tích để làm sáng tỏ văn
hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là yếu tố nội sinh, động lực của sự phát triển và
cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Tác giả cho rằng, để làm rõ BSVH Việt Nam
thì việc tìm ra ranh giới giữa tinh hoa và các yếu tố lạc hậu trong văn hóa truyền
thống là cần thiết. Mặt khác, tác giả cũng nhấn mạnh BSVH Việt Nam đang đứng
trƣớc nguy cơ và thách thức của nền KTTT nhƣ vấn đề xuống cấp của đạo đức xã hội,
gia tăng tệ nạn xã hội; trong sáng tác và lý luận phê bình cũng phát sinh những khuynh
hƣớng sai lầm, lệch lạc với biểu hiện phủ nhận quá khứ, phủ nhận những thành tựu
cách mạng và văn hóa văn nghệ cách mạng. Qua đó, nhà nghiên cứu đã đƣa ra một vài
đề xuất nhằm giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc ở nƣớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Cuốn sách “Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc
kết hợp với tinh hoa nhân loại” [49] của tác giả Phạm Minh Hạc đã phân tích các
quan điểm về văn hóa, văn minh; phân tích vai trò của văn hóa đối với sự phát triển
xã hội. Nhà nghiên cứu đánh giá vai trò của yếu tố con ngƣời trong phát triển văn
hóa và kinh tế - xã hội. Ngoài ra, tác giả đã phân tích và làm sáng tỏ vai trò của việc
giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong việc chống “diễn biến hòa bình”.
Nhà nghiên cứu lý giải với nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc kết hợp với tiếp thu
các yếu tổ nhân bản, hợp lý, khoa học và tiến bộ, tiếp thu nền văn minh thế giới sẽ
phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới đất nƣớc, làm cho dân giàu, nƣớc mạnh,
đồng thời biết kết hợp nền KTTT mở cửa, hòa nhập rộng rãi với giữ gìn và phát huy
Tác giả Đinh Xuân Lâm - Bùi Đình Phong với bài viết “Giữ gìn, phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc” [76] đã khẳng định tầm quan trọng của việc nhận thức về
công tác giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, từ đó bài viết đã nêu lên các
khía cạnh cơ bản trong mô hình phát triển văn hóa Việt Nam. Các tác giả nhấn
mạnh, cần phải thƣờng xuyên bồi bổ cho lịch sử - văn hóa với ý nghĩa là cội rễ của
dân tộc, là cái vốn của riêng mình, từ đó làm cho cốt cách của văn hóa dân tộc thấm
sâu vào tâm lý quốc dân.
Tác giả Lô Thị Hƣơng với bài viết “Giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân
tộc và những vấn đề đặt ra cho các trường phổ thông dân tộc nội trú trong giai
đoạn hiện nay”[69]. Bài viết nhấn mạnh những dân tộc nào thích ứng với sự chuyển
biến của thời đại thì mới có thể tồn tại và phát triển. Qua thực tiễn, tác giả cho rằng
các trƣờng phổ thông dân tộc nội trú chƣa quan tâm đến việc giữ gìn và phát huy
BSVH dân tộc, nhận thức của học sinh về văn hóa dân tộc còn hạn chế, do đó tác
giả đã đƣa ra một số giải pháp để triển khai việc giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc
ở các trƣờng phổ thông dân tộc nội trú tại các địa phƣơng với hình thức phong phú,
hấp dẫn học sinh tham gia. Đồng thời, tác giả nhấn mạnh để văn hóa dân tộc thiểu
số có thể tồn tại, phát triển và thích ứng đƣợc trong dòng chảy chung của văn hóa
đất nƣớc thì những chủ trƣơng chính sách của Đảng và Nhà nƣớc cần đƣợc điều
chỉnh và bổ sung thêm. Qua bài viết đã cho thấy, BSVH là yếu tố cốt lõi của văn
hóa mỗi dân tộc, bên cạnh việc giữ gìn văn hóa dân tộc cần tiếp thu tinh hoa văn
hóa của dân tộc khác là tất yếu trong bối cảnh hiện nay.
Tác giả Hồ Thị Minh Trâm với bài viết “Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc ở nước ta hiện nay” [130] đã phân tích thực trạng nền văn hóa của
Việt Nam nói riêng và của các nƣớc đang phát triển nói chung đang phải đƣơng đầu
với những thách thức chƣa từng có trong lịch sử, nguy cơ bị đồng hóa hay ít nhất
16
làm mất đi BSVH dân tộc đang hiện hữu, từ đó tác giả nhấn mạnh vai trò, tầm quan
trọng của văn hóa, giữ gìn và phát huy BSVH dân tộc trong giai đoạn hiện nay.
tế” (KX.03/06). Trong đề tài, các tác giả đã phân tích và đánh giá những giá trị
văn hóa truyền thống Việt Nam và sự biến đổi của nó trong thời kỳ đổi mới và
hội nhập. Đồng thời, công trình nghiên cứu đã đề xuất những giải pháp nhằm
17
bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa trong công cuộc xây dựng và phát triển
con ngƣời, văn hóa Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới đất nƣớc.
Ngoài ra, còn rất nhiều cuốn sách, bài viết về chủ đề này, tiêu biểu nhƣ: Tác
giả Nguyễn Văn Huy với công trình nghiên cứu “Bức tranh văn hóa các dân tộc
Việt Nam” [65]; Tác giả Đỗ Thị Minh Thúy với công trình nghiên cứu “Xây dựng
và phát triển nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc” [121]; Công trình nghiên cứu “Văn
hóa với sự phát triển của xã hội Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[115] của
tác giả Lê Quang Thiêm và nhiều công trình nghiên cứu khác. Thông qua các công
trình nói trên đã giúp nghiên cứu sinh có nhận thức tổng thể hơn về sự biến đổi của văn
hóa, bản sắc văn hóa dân tộc trong công cuộc đổi mới đất nƣớc.
Qua tham khảo các công trình tiêu biểu trên đây của các nhà nghiên cứu đã giúp
nghiên cứu sinh có đƣợc góc nhìn đa chiều về văn hóa, BSVH dân tộc và vấn đề giữ
gìn, phát huy BSVH dân tộc trong giai đoạn hiện nay. Trong sự nghiệp đổi mới đất
nƣớc, có nhiều yếu tố mang tính thời đại tác động đến việc giữ gìn và phát huy BSVH
dân tộc nhƣ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; KTTT; hội nhập quốc tế; cách mạng khoa
học công nghệ. Những yếu tố này tác động tích cực và tiêu cực đến nền văn hóa Việt
Nam. Từ đó, nghiên cứu sinh thấy đƣợc tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy
BSVH dân tộc, đây là vấn đề mang tính cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.
1.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến bản sắc văn hóa
dân tộc Tày
Dân tộc Tày có dân số đông và tập trung ở hầu hết các tỉnh vùng Đông Bắc
của nƣớc ta. Đồng bào dân tộc Tày còn đƣợc xem nhƣ là chủ thể văn hóa của vùng
Đông Bắc. Vì vậy, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về văn hóa đặc sắc
nhà của ngƣời Tày - Nùng, đặc biệt là chữ Nôm Tày - Nùng, văn học dân gian Tày Nùng ở Việt Nam. Các tác giả cho rằng, các dân tộc Tày - Nùng đã sớm xây dựng
cho mình một nền văn hóa truyền thống đặc sắc. Đồng thời, các tác giả đã nêu rõ
các giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Tày, từ đó khẳng định tầm quan trọng
của việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa tộc ngƣời.
Các tác giả Hoàng Ngọc La - Hoàng Hoa Toàn với công trình nghiên cứu
“Tín ngưỡng dân gian Tày” [74] đã làm sáng tỏ về tín ngƣỡng dân gian Tày, với các
phong tục thờ cúng, các tàn dƣ ma thuật và các lễ nghi trong đời sống tinh thần của đồng
bào Tày. Đây là công trình nghiên cứu giúp tác giả luận án hiểu rõ hơn về tín ngƣỡng và
vai trò của tín ngƣỡng trong đời sống tinh thần dân tộc Tày khi thực hiện đề tài luận án.
Các tác giả Hoàng Ngọc La - Hoàng Hoa Toàn - Vũ Anh Tuấn với công trình
nghiên cứu “Văn hóa dân gian Tày” [73] đã phân tích những đặc trƣng cơ bản về văn
hóa vật thể và văn hóa phi vật thể của ngƣời Tày ở Việt Nam. Trong đó, văn hóa vật
thể đƣợc tác giả đề cập đến nhƣ nhà ở, ẩm thực, trang phục dân tộc, dụng cụ lao
động đƣợc hình thành trong quá trình sinh tồn, lao động sản xuất của đồng bào dân
tộc Tày. Bên cạnh đó, tác giả đã nêu bật những giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc
Tày nhƣ quan điểm về vũ trụ, nhân sinh, vấn đề tín ngƣỡng, tôn giáo và phong tục
tập quán; ngôn ngữ và văn học dân gian; nghệ thuật dân gian và những hình thức
văn hóa đa dạng khác. Từ đó, tác giả đã nêu rõ, đồng bào dân tộc Tày đã có mặt lâu
19
đời ở nƣớc ta, là dân tộc thiểu số đã có những đóng góp tích cực trong quá trình xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của dân tộc Tày đều có
nhiều nét đẹp làm giàu BSVH truyền thống của dân tộc ta. Với các nội dung đƣợc đề
cập trong cuốn sách đã khẳng định tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy BSVH
dân tộc Tày nói riêng và BSVH Việt Nam nói chung. Mặc dù vậy, tác giả nghiên cứu
bản sắc văn hóa dân tộc dƣới góc độ lịch sử nhƣng chƣa nêu rõ nguồn gốc, xu hƣớng
biến đổi của BSVH dân tộc Tày trong bối cảnh hiện nay.
Cuốn sách “Tín ngưỡng dân gian Tày - Nùng” [139] của tác giả Nguyễn Thị
dân gian của ngƣời Tày - Nùng ở nƣớc ta. Cuốn sách giúp tác giả luận án hiểu rõ
hơn về các yếu tố văn hóa của hai dân tộc Tày - Nùng, từ đó thấy đƣợc một số
điểm tƣơng đồng trong đời sống văn hóa của hai dân tộc nêu trên.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu về BSVH của dân tộc Tày
nhƣ: Tác giả Đỗ Thúy Bình với công trình nghiên cứu “Hôn nhân và gia đình
các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam” [6]; Cuốn sách “Bước đầu nghiên cứu
về Then Việt Bắc” [56] của tác giả Nông Văn Hoàn; Tác giả Dƣơng Sách với
công trình nghiên cứu “Văn hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc”
[108] và nhiều công trình khoa học khác. Các cuốn sách này đã đi sâu tìm hiểu
về các yếu tố văn hóa của dân tộc Tày. Đây là những nét sinh hoạt văn hóa đang
ảnh hƣởng sâu sắc và có vị trí quan trọng trong đời sống của đồng bào Tày.
Nhƣ vậy, những công trình khoa học trên đã mang lại cái nhìn tổng quan
về dân tộc Tày và những đặc trƣng trong đời sống văn hóa của cộng đồng. Các
công trình đã khái quát bức tranh văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc của ngƣời Tày.
Với đặc điểm, điều kiện tự nhiên, điều kiện cƣ trú và lịch sử hình thành, ngƣời
Tày đã xây dựng hệ thống văn hóa vật chất đặc trƣng về nhà ở, trang phục, ẩm
thực… Họ cũng xây dựng đời sống văn hóa tinh thần độc đáo, đậm đà bản sắc
dân tộc, đó là một kho tàng văn học và nghệ thuật dân gian phong phú, những
hình thức sinh hoạt lễ hội văn hóa văn nghệ đa dạng. Đặc biệt, các cuốn sách
cũng khẳng định tín ngƣỡng của dân tộc Tày mang bản sắc độc đáo. Các quan
niệm tín ngƣỡng cho tới những hình thức tín ngƣỡng và nghi lễ tín ngƣỡng tất cả
đều đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của ngƣời Tày.
Có thể nói rằng, các cuốn sách, các bài viết nêu trên đã phản ánh một
bƣớc tiến lớn trong lịch sử nghiên cứu về văn hóa dân tộc Tày trong đại gia đình
các dân tộc Việt Nam. Song, phần lớn các tác phẩm nghiên cứu trên một
phạm vi rộng với những đặc trƣng văn hóa của ngƣời Tày nói chung, chƣa phân
tích rõ đƣợc những sắc thái phong phú, đa dạng của văn hóa dân tộc Tày ở một
số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay. Các công trình của những nhà nghiên cứu
đi trƣớc là cơ sở để tác giả tiếp tục khai thác và nghiên cứu cụ thể, chi tiết hơn
về đời sống văn hóa của dân tộc Tày ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam trong
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” [1]. Đây là công trình nghiên cứu
thuộc chƣơng trình khoa học cấp Nhà nƣớc KX.01 “Kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa”. Trong cuốn sách, tác giả đã nêu lên quan điểm về KTTT định
hƣớng XHCN; thể chế và quản lý Nhà nƣớc trong nền KTTT định hƣớng XHCN;
thị trƣờng và động lực phát triển trong nền KTTT định hƣớng XHCN; nền KTTT
định hƣớng XHCN ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế; từ đó tác giả đã phân tích, đánh giá về các điều kiện đảm bảo cho sự vận
hành và phát triển của nền KTTT định hƣớng XHCN.
Ở cuốn sách “Kinh tế thị trường và những vấn đề xã hội” của nhiều tác giả
[131] đã phân tích các đặc trƣng, vai trò của nền KTTT định hƣớng XHCN, đồng
thời công trình nghiên cứu đã nêu ra những quan điểm để tiếp tục hoàn thiện thể chế
22