Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị ngữ là vị từ mang ý nghĩa trao/tặng : Luận án TS. Ngôn ngữ học: 62 22 01 10 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÂM QUANG ĐÔNG

CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN
CỦA CÂU CÓ VỊ NGỮ LÀ VỊ TỪ
MANG Ý NGHĨA TRAO/TẶNG
(trên cơ sở tiếng Việt và tiếng Anh)

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

Hà Nội, 2007


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

LÂM QUANG ĐÔNG

CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN
CỦA CÂU CÓ VỊ NGỮ LÀ VỊ TỪ
MANG Ý NGHĨA TRAO/TẶNG
(trên cơ sở tiếng Việt và tiếng Anh)
Chuyên ngành: Lí luận Ngôn ngữ
Mã số:
62.22.01.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS LÊ QUANG THIÊM

0.2.1 Đối tượng nghiên cứu

2

0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

3

0.2.3 Phương pháp và tư liệu nghiên cứu

4

0.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

5

0.4 Bố cục của luận án

6

CHƢƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

8

1.1 Quan điểm nghiên cứu về cấu trúc nghĩa của câu

8

1.1.1 Về nghĩa của câu



iii


CHƢƠNG 2 CÁC LỚP NGHĨA VÀ VAI NGHĨA CỦA BA DIỄN TỐ
TRONG CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN
CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG

43

2.1 Dẫn nhập

43

2.2 Các lớp nghĩa

49

2.2.1 Lớp nghĩa kiểm soát - sở hữu (control - possession)

49

2.2.2 Lớp nghĩa không gian - động (spatial - dynamic)

54

2.2.3 Lớp nghĩa lợi ích (human interest)

58



87

3.2 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với số lượng diễn tố ít hơn 3

92

3.2.1 Trường hợp chỉ có một diễn tố

92

3.2.2 Trường hợp chỉ có hai diễn tố

93

3.3 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với số lượng tham thể nhiều hơn 3
3.3.1 Chu tố Mặc định

95
95

3.3.2 Hai Chu tố Mặc định khác: Hướng và Đích (Direction and Goal)

103

3.4 Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao/tặng và với một số vị từ
khác: So sánh về chu tố mặc định

106



125

4.2.1 Khi Tác thể được chọn làm Vật được định vị (Trajector - TR)

125

4.2.2 Khi Tiếp thể được chọn làm Vật được định vị

138

4.2.3 Khi Đối thể được chọn làm Vật được định vị

142

4.3 Trật tự tham thể trong câu với diễn tố và chu tố mặc định

144

4.4 Sự mở rộng nghĩa của give trong tiếng Anh và cho trong tiếng Việt

148

4.4.1 Sự cho phép (permission)

149

4.4.2 Gây khiến / Tạo điều kiện (cause / enablement)

151

TÀI LIỆU THAM KHẢO

172

PHỤ LỤC

184

v


MỞ ĐẦU
0.1 LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

Trong vài thập kỷ cuối thế kỷ 20, một số khuynh hướng ngôn ngữ học
hậu cấu trúc luận (post-structuralism) đã cố gắng khắc phục những giới hạn
của lôgíc học để tập trung nhiều hơn vào mặt chức năng và nội dung của ngôn
ngữ. Việc nghiên cứu cấu trúc nghĩa của câu là một trong những khuynh
hướng mới đó với nhiều đóng góp có giá trị cho ngôn ngữ học hiện đại. Theo
những quan niệm gần đây về cấu trúc nghĩa của câu, vị từ đóng vai trò trung
tâm, chi phối các thành tố nghĩa xung quanh nó. Ngữ trị - khả năng kết hợp
của vị từ có vai trò quyết định tới cấu trúc nghĩa của câu: nó quy định phải có
bao nhiêu thành tố nghĩa xung quanh vị từ và những thành tố nghĩa đó là gì,
có tư cách, quan hệ, vị thế như thế nào đối với vị từ, và chúng được tổ chức
như thế nào trong cấu trúc nghĩa của câu. Ngữ trị của vị từ càng lớn thì cấu
trúc nghĩa của câu càng phức tạp. Do vậy, vị từ đa trị là một đối tượng cần
nghiên cứu, khảo sát toàn diện, kỹ lưỡng để hiểu biết sâu sắc hơn về cấu trúc
nghĩa của câu.
Vị từ mang ý nghĩa trao/tặng là một trong số các nhóm từ vựng cơ bản
của ngôn ngữ. Chúng nằm trong số những yếu tố ngôn ngữ được tiếp thu và

học tiếng Anh nhận thức rõ được chúng và khắc phục được những khó khăn
trên. Đó là lý do thực tiễn thu hút sự quan tâm nghiên cứu của chúng tôi
trong luận án này.
0.2 ĐỐI TƢỢNG, NHIỆM VỤ, PHƢƠNG PHÁP VÀ TƢ LIỆU NGHIÊN
CỨU

0.2.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
có vị ngữ là vị từ đa trị mang ý nghĩa trao/tặng trong tiếng Việt và tiếng Anh

2


(từ đây trở đi được diễn đạt gọn là câu với vị từ trao/tặng). Tiêu biểu có thể
kể đến các vị từ: cho, gửi, đưa, cung cấp, biếu, tặng, hiến, nhường, phú, thí,
phát, ban, give, present, hand, endow, bestow, confer, offer, , v.v... Tuy nhiên,
một số vị từ có nhiều điểm tương đồng với vị từ mang ý nghĩa trao/tặng cũng
được thảo luận nhằm làm rõ và kiểm chứng những luận điểm luận án đưa ra
(danh sách vị từ – xin xem Phụ lục).
Cách tiếp cận được lựa chọn để nghiên cứu là từ sự tình tới hình thức
thể hiện: sự tình là như nhau, tức là nội dung như nhau, song cần tìm hiểu
xem trong tiếng Việt và tiếng Anh sự tình đó được nhìn nhận như thế nào,
diễn giải, mô tả ra sao; cách mô tả đó được thể hiện bằng hình thức nào, với
những vị từ nào, với những tham thể nào, vai nghĩa của những tham thể đó là
gì, vị thế, tư cách của chúng như thế nào. Nội dung, ngữ nghĩa là cái tiên
quyết, quy định ngữ pháp cho nên phải đi từ ngữ nghĩa đến ngữ pháp chứ
không phải ngược lại. Do vậy, lõi sự tình của câu được tập trung nghiên cứu
và lấy làm xuất phát điểm để khảo sát, phân tích.
0.2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trên đây, luận án tập trung

kết thành mô hình cấu trúc nghĩa mang tính khái quát cho loại câu với vị từ
trao/tặng. Trong quá trình nghiên cứu, dẫn liệu tiếng Việt và tiếng Anh được
khảo sát nhằm làm sáng tỏ các luận điểm và xác định những điểm tương đồng
và khác biệt giữa tiếng Anh và tiếng Việt về loại câu với vị từ trao/tặng.
Tư liệu được nghiên cứu là câu với vị từ trao/tặng và một số vị từ khác
có liên quan. Những tư liệu này được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, từ
văn viết „chuẩn‟ („standard‟ written register) tới ngôn ngữ nói hàng ngày,
ngôn ngữ báo chí (báo in và báo điện tử), một số tác phẩm văn học và ca khúc

4


tiêu biểu nhằm có được một cái nhìn tổng thể, toàn diện về các kết cấu
(constructions) sử dụng vị từ trao/tặng. Việc sử dụng công cụ tìm kiếm cực
kỳ hiệu quả và nhanh chóng trên Internet như Google đã cho phép thống kê
được một số lượng có thể nói là khổng lồ các trường hợp xuất hiện vị từ mang
ý nghĩa trao/tặng. Riêng cho trong tiếng Việt (cả với tư cách là vị từ và công
cụ từ) và give trong tiếng Anh, một lần tìm kiếm đã cho kết quả lần lượt là
10.500 và 23 x 108 trường hợp xuất hiện. Tuy nhiên, sau khi sàng lọc, khoảng
2000 trường hợp từ tất cả các nguồn nói trên được xem xét để chọn ra gần
700 trường hợp đưa vào phân loại, sắp xếp theo các tiêu chí cần thiết tạo điều
kiện cho việc phân tích, xử lý. Một số thao tác cần thiết như lược bỏ, thay
thế, đảo trật tự từ, cải biến bị động, v.v... được sử dụng để kiểm chứng các
luận điểm về ngữ nghĩa thông qua các kết cấu hình thức mà những vị từ này
kiến tạo. Các số liệu được tính toán, thống kê, so sánh để cung cấp cứ liệu
định lượng cho các luận điểm, giải thuyết và kết luận trong nghiên cứu này.
Như vậy, các phương pháp phân tích thành tố (componential analysis),
phương pháp so sánh đối chiếu, kết hợp với các thủ pháp mô hình hóa, phân
tích định tính và định lượng, phân loại, thay thế và cải biến đã được sử dụng
để nghiên cứu trong luận án này.

Chƣơng 2: Các lớp nghĩa và vai nghĩa của ba diễn tố trong cấu trúc
nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao/tặng
Chương 2 phân tách các lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu với vị từ trao/tặng, phân tích các đặc trưng của ba diễn tố ở các lớp nghĩa
đó và chỉ ra các vai nghĩa cũng như tư cách của chúng.
Chƣơng 3: Cấu trúc nghĩa biểu hiện rút gọn và mở rộng của câu với vị từ
trao/tặng
Chương 3 khảo sát các điều kiện ngữ nghĩa cho phép những tham thể
nhất định vắng mặt cũng như cho phép những chu tố nhất định tham gia vào

6


cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu, góp phần rút gọn hoặc phát triển cấu trúc
nghĩa biểu hiện của câu. Qua đó, vị thế, tư cách của những chu tố đó trong
cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu cũng được xác định.
Chƣơng 4: Sự thể hiện cấu trúc nghĩa biểu hiện trên cấu trúc cú pháp
của câu với vị từ trao/tặng
Chương 4 tập trung phân tích một số nhân tố ngữ nghĩa tác động tới
cấu trúc cú pháp của câu với vị từ trao/tặng như nhân tố lớp nghĩa, góc nhìn,
quan hệ giữa vật được định vị (trajector) với mốc định vị (landmark), cận
cảnh – hậu cảnh (foreground – background), sự mở rộng nghĩa, v.v. Đây là
sự khảo sát mối quan hệ giữa cấu trúc nghĩa biểu hiện với cấu trúc cú pháp,
nghiên cứu sự ánh xạ (mapping) cấu trúc nghĩa biểu hiện lên cấu trúc cú pháp,
hay hình thức mã hóa các quan hệ ngữ nghĩa qua cấu trúc cú pháp nhằm kiểm
chứng lại những luận điểm về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ
trao/tặng qua hình thức cú pháp mà chúng kiến tạo. Tuy nhiên đó là những
mối quan hệ hết sức phức tạp, liên quan tới nhiều vấn đề cú pháp. Do vậy,
luận án chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu vào các quan hệ ngữ nghĩa tác động
trực tiếp tới cú pháp mà thôi. Qua đó cách thức đánh dấu vai nghĩa, biện pháp


8


1.1.2 Về cấu trúc nghĩa của câu
Cấu trúc nghĩa là cấu trúc cơ sở của câu (Fillmore, 1968), quy định cấu
trúc ngữ pháp của câu. Cấu trúc nghĩa của câu bao gồm một động từ cộng với
một số danh ngữ có các quan hệ được “dán nhãn” (quan hệ cách) đặc biệt với
câu (Fillmore, 1968); nói cách khác, nghĩa của câu là lõi sự tình được thể hiện
bằng vị từ và các tham thể xung quanh nó, trong đó vị từ là trung tâm. Vị từ
là cái lõi xâu chuỗi, liên kết quan hệ giữa các tham thể với nhau để thể hiện
một sự tình nào đó. Đây là một trong những điểm chung trong quan điểm của
Chafe (1970), Frawley (1992), Nguyễn Thị Quy (1995), Nguyễn Văn Hiệp
(2002), Diệp Quang Ban (2004)1; v.v.
Ngữ trị của vị từ (gồm kết trị và diễn trị) - giá trị ngữ pháp thống nhất
từ các kết hợp có tính trật tự và các vai diễn có tính chức năng đặc trưng được
xác lập trong ngôn liệu bởi hình thức của những trật tự ngữ đoạn và chức vụ
cú pháp - quyết định số lượng các thành tố nghĩa cũng như thành tố cú pháp
xung quanh nó (Đinh Văn Đức, 2001).
Với tư cách là một đơn vị ngữ nghĩa, mỗi tham thể có một vị trí nhất
định trong cấu trúc ngữ nghĩa, tức là mỗi vị trí trong cấu trúc ngữ nghĩa ứng
với một đơn vị ngữ nghĩa nhất định. Tuy nhiên, trong một số ngôn ngữ thuộc
loại hình đa tổng hợp (polysynthetic), động từ có thể thu hút hoàn toàn danh
từ vào nó, có thể bao gồm trong căn tố của nó cả một số đơn vị ngữ nghĩa của
các danh từ khác nữa (Chafe, 1970). Quá trình này gọi là hiện tượng hợp nhất
- incorporation hay hiện tượng hoà đúc tham tố (argument fusion) (Pinker,

1

Trong công trình này, Diệp Quang Ban không dùng thuật ngữ “vị từ” mà gọi là vị tố (predicator), và coi vị

Chafe (1970), Frawley (1992), Cao Xuân Hạo (1992), Jackendoff (1995),
Diệp Quang Ban (2004), v.v. đều nhận thấy không có quan hệ tương liên mộtđối-một như vậy mà trong thực tế, một thành tố nghĩa có thể đồng thời đảm
nhận nhiều vai nghĩa khác nhau, tức là có nhiều quan hệ nghĩa khác nhau với
vị từ. Thành tố nghĩa đó có thể là thành tố bắt buộc hoặc tuỳ nghi đối với

10


từng vị từ nhất định, và ngay cả đối với một vị từ, đôi khi thành tố tuỳ nghi
cũng có thể hoạt động như thành tố bắt buộc hoặc thay thế cho thành tố bắt
buộc, như Diệp Quang Ban (2004:38) nhận định: “... có những trường hợp
yếu tố chỉ cảnh huống (chu tố) lại hoạt động như tham thể .... [trong] những
trường hợp đó chúng nằm trong sự thể và giữ một chức năng cú pháp nào đó
trong cấu trúc cơ sở của câu.”
Một cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ này có thể không có tương đương
tuyệt đối trong một ngôn ngữ khác, mặc dù cùng mô tả một sự tình như nhau,
một “kịch cảnh” như nhau. Sự khác nhau đó thể hiện ở số lượng thành tố
nghĩa [bắt buộc] và vai nghĩa của chúng với động từ (Lý Toàn Thắng, 2002).
Một sự tình có thể được nhận thức và mô tả theo nhiều cách khác nhau, bằng
những đơn vị ngữ âm, ngữ pháp khác nhau, hoặc cùng một đơn vị ngữ âm,
ngữ pháp có thể thể hiện nhiều sự tình khác nhau hoặc nhiều phương diện
khác nhau của sự tình (Chafe, 1970). Nói cách khác, „các sự việc... được diễn
đạt thông qua cách nhìn được xây dựng nên bởi con người, và được mã hoá
trong ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thể. Vì vậy, cùng một sự việc có thể
được nhìn nhận và diễn đạt theo những cách khác nhau: khác nhau giữa
những người nói khác nhau, đối với các ngôn ngữ khác nhau; và cũng khác
nhau ngay cả đối với cùng một người trong những lần nhìn nhận khác nhau,
khác nhau trong cùng một ngôn ngữ bởi những phương tiện diễn đạt khác
nhau mà ngôn ngữ đó cho phép” (Diệp Quang Ban, 2004:33). Các ngôn ngữ
có thể khác nhau ở những điểm như:


12


1.2 QUAN ĐIỂM VỀ VAI NGHĨA CỦA CÁC THAM THỂ TRONG CẤU
TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU

1.2.1 Nhận xét chung
Vấn đề vai nghĩa của các tham thể trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của
câu là một vấn đề phức tạp và đã được khảo sát, nghiên cứu theo rất nhiều
quan điểm khác nhau. Fillmore (1968) đã đề nghị một danh sách các cách sâu
hay cách ngữ nghĩa (semantic cases) như sau:
 A – Agentive: người/vật (động vật) là chủ thể của hành động do vị từ biểu
thị;
 I – Instrumental: động lực hay vật thể (bất động vật) có quan hệ nhân quả với
hành động hay trạng thái do vị từ thể hiện, hoặc công cụ của hành động do vị
từ thể hiện;
 D – Dative: người/vật (động vật) chịu tác động của trạng thái hay hành động
do vị từ biểu thị;
 F – Factitive: đối tượng hoặc kết quả của hành động hay trạng thái do vị từ
biểu thị, hoặc được coi là bộ phận nghĩa của vị từ;
 L – Locative: địa điểm, vị trí hoặc định hướng không gian của trạng thái
hoặc hành động do vị từ biểu thị;

 O – Objective: cách trung hòa nhất, là bất cứ cái gì có thể do danh từ biểu
thị, đảm nhiệm vai trò gì là do ngữ nghĩa của chính vị từ, nói chung thường
là sự vật chịu tác động của trạng thái hay hành động do vị từ biểu thị
(Fillmore 1968: 24 – 25).

Tuy nhiên, Fillmore cũng chưa thoát khỏi được những giới hạn của cấu

 Manner: phương thức;
 Purpose: mục đích;
 Force: lực, sức mạnh của tự nhiên tác động đến một vật gây nên một
quá trình;

14


 Ứng thể: kẻ ứng xử;
 Cảm thể: người hoặc thực thể cảm giác, suy nghĩ hay mong muốn;
 Phát ngôn thể: người hoặc vật phát ra tín hiệu;
 v.v.
Các vai nghĩa được đánh dấu hoặc không đánh dấu theo nhiều phương
thức khác nhau, phổ biến nhất là bằng giới từ. Ví dụ, by - bởi cơ bản là đánh
dấu Tác thể (Agentive), with - bằng/với đánh dấu Công cụ (Instrumental),
giới từ zêrô đánh dấu Objective và Factitive, for – cho đánh dấu Đắc lợi thể,
v.v..
Nói chung các tác giả đều thống nhất về định nghĩa các vai, song trong
thực tế đối với việc xác định tham thể nào đóng vai gì trong cấu trúc nghĩa
biểu hiện của câu thì họ lại có những quan điểm hết sức đa dạng. Ví dụ,
Radford (1988) cho rằng vai Đối thể và Thụ thể (Theme and Patient) chỉ là
các tên gọi khác nhau cho cùng một vai nghĩa, nhưng trong thực tế hai vai này
rất khác biệt. Vai Đối thể có thể thể hiện một thực thể chuyển động trong
không gian thực tế hay tưởng tượng dưới tác động của hành động mà vị từ thể
hiện, song không bị thay đổi về thể chất, ví dụ như the rock trong Fred threw
the rock – Fred ném hòn đá. Trong khi đó, vai Thụ thể là thực thể bị tác động
hay biến đổi dưới tác động của hành động mà vị từ thể hiện, ví dụ the rock
trong Fred shattered the rock – Fred đập vụn hòn đá.
Chafe (1970) khẳng định chỉ có một số danh từ nào đó mới có thể làm
Tác thể (Agent) của động từ. Khả năng này phụ thuộc vào đặc trưng ngữ


the

door

mở - PAST DA

cửa

Gió mở cửa / làm cửa mở
The

ship

destroyed

the

pier

DA

tàu

phá huỷ - PAST

DA

cầu tàu


có tính khái quát hơn cho các ngôn ngữ nói chung, để rồi căn cứ vào đó mỗi
ngôn ngữ cụ thể có sự phân biệt chi tiết hơn tùy theo đặc điểm cụ thể của từng
tiểu loại vai nghĩa trong những phạm trù lớn đó. Tiêu biểu cho những cố
gắng này là Frawley (1992), Van Valin (1993), Jackendoff (1995), Sowa
(1999) và gần đây nhất là Mylne (2000).
1.2.2 Cách phân loại vai nghĩa
1.2.2.1

Frawley (1992) đề xuất rằng trước hết các vai nghĩa được phân

thành các vai diễn tố và phi diễn tố (participant and non-participant roles).
Vai diễn tố là vai của những tham thể bắt buộc tham gia vào cấu trúc nghĩa
của câu, do vị từ đòi hỏi; vai diễn tố thường trả lời cho các câu hỏi “Ai làm gì
với ai?” Vai phi diễn tố là vai của các tham thể tùy nghi, do ngữ cảnh quy
định hơn là do vị từ. Chúng thường trả lời cho các câu hỏi “Tại sao? Ở đâu?
Khi nào? và Như thế nào? Các vai diễn tố bắt nguồn từ sự tương thích giữa
các đặc trưng của tham thể với đặc trưng của vị từ. Vai phi diễn tố còn được
gọi là vai chu tố (circumstantial roles hay circumstant). Trong các vai diễn tố
có hai loại chính: vai lớn (macroroles) và vai không gian (spatial roles). Vai
lớn (macroroles) bao hàm Người/vật thực hiện (actor) hay tiến hành (doer)
hành động do vị từ biểu thị, và Người tiếp nhận (recipient) hoặc chịu tác động
(undergoer) của hành động do vị từ biểu thị; vai không gian có đặc điểm của
cả hai loại vai người thực hiện và người tiếp nhận nên theo Frawley tốt nhất là
xét chúng theo quan điểm không gian. Các vai lớn này bao gồm các vai nhỏ,

17


trong đó vai Actor gồm 3 vai chủ đạo là Tác thể (Agent), Chủ thể (Author) và
Công cụ (Instrument); vai Recipient bao gồm Thụ thể (Patient), Đắc lợi thể


(Effector)
Nguồn

Lộ trình

Đích

Hình 1: Chuỗi vai nghĩa (Van Valin, 1993:41)

18

Tiếp thể


Vai Tác thể, tham thể khởi xướng sự tình một cách có chủ đích nằm ở cực bên
trái, còn Thụ thể, tham thể không khởi xướng sự tình, không chủ đích và bị
tác động tối đa nằm ở cực bên phải. Các vai nghĩa gần với Tác thể hơn được
xếp về phía bên trái, còn các vai nghĩa gần với Thụ thể hơn xếp về phía bên
phải. Cách xếp loại các vai nghĩa như thế này cho phép một độ linh hoạt cao,
phù hợp và thuận tiện để xếp các vai nghĩa tùy theo từng ngôn ngữ cụ thể,
theo các đặc điểm phân biệt cụ thể giữa các vai.
Bậc vai nghĩa thứ hai được gọi là vai lớn (macroroles), giống như cách
gọi của Frawley (1992), với hai vai lớn là Hành thể (Actor) và Bị thể
(Undergoer). Mỗi vai lớn này lại bao hàm nhiều quan hệ nghĩa cụ thể hơn.
Việc xếp chúng vào hai loại vai lớn này là do chúng có những hoạt động cú
pháp giống nhau. Ví dụ như Đối thể và Thụ thể có những chức năng ngữ
pháp giống nhau vì một số mục đích ngữ pháp nhất định. Tuy nhiên, cần thiết
phải phân biệt chúng vì lý do ngữ nghĩa và một số lý do khác nữa. Chẳng hạn
như Tác thể, Người tác động, Nghiệm thể hay Địa điểm có thể làm chủ ngữ

và Van Valin (1993) đều có nhiều điểm chung khi phân các vai nghĩa theo
kiểu vai lớn như thế này.
Tuy nhiên, chúng tôi thấy Van Valin xếp Nguồn, Lộ trình, Đích và cả
Tiếp thể vào cùng một loại Địa điểm như Hình 1 không thể hiện được hết mọi
mối quan hệ tương ứng một cách rõ ràng giữa các vai, ví dụ như quan hệ giữa
Nguồn và Đích, Tác thể và Tiếp thể, đặc biệt là quan hệ giữa chúng trong cấu
trúc tham tố (argument structure), một cấp độ quan trọng trong các cấp độ cấu
trúc câu.

1.2.2.3

Tác giả thứ ba cần được đề cập là Jackendoff (1995). Để có thể

nhìn nhận rõ hơn các vai nghĩa, Jackendoff đề xuất cách tổ chức chúng thành
các bậc (tier) tương tự như Van Valin (1993). Tại bậc không gian (spatial
tier), các vai không gian được phân bổ, bao gồm các vai như Đối thể (Theme),
Đích (Goal), Nguồn (Source), Địa điểm (Location). Bậc không gian này cung
cấp các „tư liệu đầu vào‟ (input) cho bậc hành động (actional tier). Ở bậc hành
động, các vai phi không gian (non-spatial) được phân bổ, bao gồm Tác thể
(Agent), Nghiệm thể (Experiencer), Thụ thể (Patient), Đắc lợi thể

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status