Vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội ở tỉnh Hà Nam hiện nay : Luận văn ThS. Triết học: 60 22 80 - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------------------------

BÙI THỊ OANH

VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ
VĂN HÓA LỄ HỘI Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY

Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 80

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trọng Tuấn

Hà Nội - 2013


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất nhiệt tình
từ phía các thầy cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè cả về tinh thần cũng
như kiến thức khoa học.
Đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS.TS. Nguyễn
Trọng Tuấn - người đã hướng dẫn học viên tận tình, tạo cho học viên động lực
mạnh mẽ, say mê nghiên cứu với ý thức làm việc nghiêm túc trong suốt thời gian qua.
Đồng thời, tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban chủ nhiệm,
các thầy giáo, cô giáo trong khoa Triết học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, đóng
góp những ý kiến quý báu để tôi có thể hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn


tỉnh Hà Nam............................................................................................... 52
1.2.1 Quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền
thống ở tỉnh Hà Nam ............................................................................. 52
1.2.2 Một số nguyên tắc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội
truyền thống ở tỉnh Hà Nam.................................................................. 56
Tiểu kết chƣơng 1 ...................................................................................... 61
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN
NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH HÀ NAM HIỆN NAY .................................. 62
2.1 Thực trạng bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá lễ hội truyền thống
ở tỉnh Hà Nam hiện nay. ........................................................................... 62

1


2.2 Dự báo xu thế tiến triển của lễ hội truyền thống Hà Nam trong thời
gian tới nhƣ sau: ........................................................................................ 69
2.3 Một số giải pháp cơ bản nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá
lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam hiện nay. ......................................... 75
2.3.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân hiểu rõ
tầm quan trọng của văn hoá lễ hội truyền thống. ................................ 75
2.3.2 Tăng cường công tác quản lý của Nhà nước về lễ hội ở Hà Nam....... 77
2.3.3 Đầu tư hỗ trợ kinh phí để tổ chức lễ hội truyền thống. .............. 79
2.3.4 Phát triển mô hình du lịch từ lễ hội truyền thống....................... 80
2.3.5 Tăng cường công tác đào tạo cán bộ quản lý văn hoá các cấp
nhất là cấp cơ sở. .................................................................................... 83
Tiểu kết chƣơng 2 ...................................................................................... 85
KẾT LUẬN .................................................................................................... 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 88
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 90

thực hiện nghiêm túc theo Quy chế tổ chức lễ hội do Bộ Văn hóa - Thông tin
(nay là Bộ VH, TT - DL) ban hành và sự hướng dẫn của Sở VH, TT - DL, các

3


phòng VHTT. Các địa phương tổ chức tốt lễ hội truyền thống góp phần vào
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Nhìn chung, các hoạt
động lễ hội ở Hà Nam cơ bản là lành mạnh, giữ gìn và phát huy những giá trị
tốt đẹp truyền thống của vùng đất ngàn năm văn hiến.
Tuy nhiên những năm gần đây do nhiều nguyên nhân mà lễ hội truyền
thống ở tỉnh Hà Nam chưa được nhìn nhận đúng mức. Nhiều lễ hội bị mai
một, sự độc đáo của lễ hội bị giảm dần do xu thế bắt chước. Các hiện tượng
tiêu cực, mê tín dị đoan, thương mại hóa trong một số lễ hội vẫn còn tồn tại ở
mức độ nhất định. Có nhiều nhà nghiên cứu còn thừa nhận lễ hội truyền thống
là cơ hội thuận lợi cho việc hành nghề mê tín dị đoan một cách bịp bợm của
một số thầy phù thuỷ, ông đồng bà cốt, thầy bói xem quẻ, xin xăm.... Vì vậy
vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam
là rất cần thiết, tạo cơ sở cho công tác quản lý, hoạch định chính sách và phát
triển văn hóa, khai thác lễ hội như nguồn lực di sản văn hóa để phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam ở từng địa phương cụ thể.
Xuất phát từ những yêu cầu trên tôi đã chọn đề tài: "Vấn đề bảo tồn và
phát huy giá trị văn hóa lễ hội ở tỉnh Hà Nam hiện nay" làm luận văn thạc sỹ
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Tổng quan lịch sử nghiên cứu về lễ hội:
Nghiên cứu về vấn đề lễ hội không phải là một đề tài mới. Từ trước đến
nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này tiêu biểu có các công
trình sau:
60 lễ hội truyền thống của người Việt Nam (Nxb Khoa học Xã hội, Hà

công trình, tài liệu trên là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích cho luận văn này.

5


3. Mục đích, mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Nghiên cứu vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội cổ truyền.
Hướng tới một cái nhìn tổng thể về lễ hội cổ truyền của tỉnh Hà Nam
Đề xuất phương hướng và những giải pháp, những kiến nghị mong
muốn góp phần vào vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa lễ hội cổ
truyền ở Hà Nam trong giai đoạn hiện nay.
Với mục đích và mục tiêu như trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất: Cần làm rõ khái niệm "Lễ hội truyền thống" và xác định một
số giá trị văn hoá lễ hội truyền thống của tỉnh Hà Nam
Thứ hai: Làm rõ thực trạng của vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị
văn hoá lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam hiện nay.
Thứ ba: Chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng qua đó đề
xuất một số phương hướng và giải pháp bảo tồn và phát huy các giá trị văn
hoá lễ hội ở tỉnh Hà Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Bản chất và những vấn đề có tính quy luật bảo tồn và phát huy giá trị
văn hoá truyền thống ở tỉnh Hà Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu hệ thống lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam từ năm 1996
đến nay (mốc thời gian tỉnh được tái thành lập), trong đó tập trung làm rõ một
số lễ hội tiêu biểu đang diễn ra hiện nay trên địa bàn tỉnh Hà Nam như: Lễ hội
đền Trúc (còn gọi là hội Quyển Sơn), Hội chùa Đọi Sơn, Lễ hội Tịch Điền,
Hội đền Trần Thương, Hội làng Duy Hải, Hội vật Liễu Đôi, Lễ hội chùa Bà
Đanh, hội đền Lảnh Giang, lễ hội đền Lăng...


7


CHƢƠNG 1
VẤN ĐỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HOÁ LỄ HỘI
TRUYỀN THỐNG Ở HÀ NAM
1.1 Lễ hội truyền thống và lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam
1.1.1 Quan niệm về lễ hội và lễ hội truyền thống
Quan niệm về Lễ hội:
Việt Nam là đất nước có nền văn hoá lâu đời, nhiều dân tộc cùng sinh
sống trên một lãnh thổ thống nhất, cùng đóng góp phong tục tập quán mang
bản sắc riêng của mỗi vùng miền, dân tộc, tôn giáo... cho nền văn hoá của dân
tộc. Trong đó lễ hội là yếu tố vừa đặc trưng cho mỗi dân tộc, vừa làm cho văn
hoá đất nước đặc sắc hơn.
Lễ hội nói chung là sinh hoạt văn hoá tổng hợp gồm nhiều yếu tố: nghi
lễ, tín ngưỡng tôn giáo, ca hát, âm nhạc, diễn xướng dân gian, trò chơi thể
thao...
Lễ hội là một khái niệm gồm hai từ kép " Lễ" và "Hội". Trong các công
trình nghiên cứu trước đây người ta thường nhập chung các tên gọi " Lễ hội"
làm một mà không thấy được sự khác nhau giữa chúng. Điều này cũng có lý
bởi đây là một sinh hoạt văn hoá truyền thống có điểm giao thoa lẫn nhau.
Tuy nhiên không thể đồng nhất hai khái niệm này. Để hiểu khái niệm lễ hội
một cách sâu sắc không thể không đặt nó trong mối quan hệ tương quan giữa
hai khái niệm " Lễ" và "Hội".
Trước hết nói về "Lễ" nhằm biểu hiện sự kính trọng và được thể hiện
trong mối quan hệ giữa người với người, giữa người với tự nhiên. "Lễ" trong
Lễ hội là lễ thức, lễ nghi, thể hiện hành vi của con người trong những sự kiện
đặc biệt là cách thờ vọng, tức là nói tới sự cúng tế thuộc về nghi lễ tín
ngưỡng, tôn giáo.

đình, sự vững mạnh cho từng dòng họ, sự sinh sôi của gia súc, sự bội thu của
mùa màng...
Lễ hội truyền thống hay còn gọi là lễ hội cổ truyền, lễ hội dân gian
thường được tổ chức ở đình, chùa, đền, miếu, phủ, điện trog các làng gọi là

9


hội làng, hoặc ngày nay ở các thị trấn, tỉnh thành còn gọi là hội đình, hội đền,
hội phủ; do dân làng trước hết là các cụ đại biểu cho cộng đồng làng xưa tổ chức.
Có thể sử dụng khái niệm " Lễ hội cổ truyền" của GS. Ngô Đức Thịnh
như sau: Lễ hội truyền thống là:
1/ Hình thức diễn xướng dân gian: Bao gồm nhiều hình thức diễn
xướng nhỏ, kết hợp hữu cơ với nhau tạo thành tổng thể diễn xướng lễ hội.
2/ Hình thức diễn xướng tâm linh: Không còn là thế giới hiện thực mà
đã vươn lên thế giới biểu tượng linh thiêng. "Nó tái hiện lịch sử tự nhiên, lịch
sử xã hội trong một thời điểm mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm
thiêng, khác với thời gian thường ngày".
Giá trị văn hoá của lễ hội truyền thống:
Nghiên cứu giá trị văn hoá của lễ hội truyền thống cũng chính là tìm
hiểu lễ hội truyền thống như một di sản văn hoá.
Lễ hội truyền thống được xem là một phạm trù thuộc khái niệm di sản
văn hoá phi vật thể.
Khái niệm di sản văn hoá được hiểu một cách đơn giản đó là tài sản của
thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Tuy nhiên điều này chưa hoàn toàn thoả
mãn với lô gíc của khái niệm này vì không phải bất cứ tài sản nào do thế hệ
trước để lại cho thế hệ sau cũng được coi là di sản. Khái niệm di sản văn hoá
là một khái niệm tiến triển có nghĩa là nó thay đổi theo thời gian và không gian.
Theo luật Di sản văn hoá của nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam xác đinh di sản là “ sản phảm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn

người gửi gắm đức tin và tôn thờ một đấng thiêng liêng nào đó, là không gian
văn hoá cho nhân dân trong những ngày lễ hội truyền thống, lễ hội tôn giáo, là
nơi các nghệ nhân xưa thể hiện năng lực sáng tạo kiến trúc – nghệ thuật của
mình dâng lên đấng tối cao, thể hiện khát vọng và ước mơ thầm kín mãnh liệt
của mình về cuộc sống – thế giới con người. Đối với di sán văn hoá phi vật
thể thì tự thân nó đã mang trong mình những thông điệp của quá khứ và khi
tham gia vào đời sống văn hoá hiện đại sẽ làm cho văn hoá của mỗi dân tộc
không bị tách rời khỏi truyền thống, nó giữ lại những giá trị tự thân, đồng thời

11


tạo nên những giá trị bên trong của cốt cách, bản lĩnh, năng lực của mỗi dân
tộc. Những giá trị này có tính ổn định khá lớn và có tính bền vững tương đối,
có sức mạnh to lớn đối với cộng đồng. Trong sự tiến bộ và phát triển của xã
hội, các giá trị này thường không biến mất mà hoá thân vào giá trị của thời
sau theo quy luật kế thừa, tái tạo và đó cũng là biểu hiện của tính liên tục văn hoá.
Trong những năm qua Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có nhiều hoạt
động nhằm bảo vệ và phát huy kho tàng văn hoá của ông cha ta, góp phần to
lớn vào việc bảo vệ và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng
và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đầm đà bản sắc dân tộc. Việt
Nam là một quốc gia rất có ý thức bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hoá.
Vì vậy ngay sau khi cách mạng tháng Tám thành công , “xét việc bảo tồn cổ
tích là việc làm rất cần cho công cuộc kiến thiết nước Việt Nam”, chủ tịch Hồ
Chí Minh đã ký sắc lệnh 65 ấn định nhiệm vụ cho Đông Dương Bác cổ học
viện nhiệm vụ bảo tồn tất cả cổ tích trong toàn cõi Việt Nam.
Khi đất nước ta hoàn toàn thống nhất, chủ tịch Hội đồng nhà nước đã
ký Pháp lệnh Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hoá và danh lam thắng
cảnh (04 – 04 – 1984). Mười tám năm sau (2001), Nhà nước Việt Nam đã
chính thức ban hành Luật Di sản văn hoá, đây được coi là một bước tiến trên

biệt , huy động được nhiều đóng góp của nhân dân và đã đật được nhiều đóng
góp quan trọng. Nhiều văn bản quản lý Nhà nước về di sản văn hoá đã được
ban hành, nhiều đề tài khoa hoc, dự án bảo tồn các di sản văn hoá thuộc nhiều
lĩnh vực được thực hiện, nhiều loại hình văn hoá, nghệ thuật truyền thống
được khôi phục, bảo tồn khai thác và phát huy.
Lễ hội cổ truyền được xem là một phạm trù thuộc khái niệm di sản văn
hoá phi vật thể. Đây là một khái niệm thu hút được nhiều sự chú ý trong thời
gian mười năm trở lại đây. UNESCO đã thảo ra một công ước về việc bảo tồn
di sản văn hoá này.
Di sản văn hoá phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể
hiện, biểu đạt tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là các công cụ, đồ vật, đồ tạo
tác và các không gian văn hoá có liên quan mà các cộng đồng và các nhóm

13


và một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hoá
của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hoá phi
vật thể được các cộng đồng và các nhóm không ngừng tái tạo để thích nghi
với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử
của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế
tục, qua đó khích lệ sự trọng đối với sự đa dạng văn hoá và tính sáng tạo
của con người.
Trong các loại hình văn hoá phi vật thể, lễ hội truyền thống là một loại
hình tiêu biểu. Lễ hội truyền thống được các nhà nghiên cứu khai thác dưới
nhiều hình thức và góc độ khác nhau. Một số tác giả khai thác lễ hội dưới
hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng hay một hình thức trình diễn dân gian;
một số tác giả lại quan tâm đến vai trò của lễ hội truyền thống trong xã hội
đương đại.
Trên thực tế chúng ta thấy rằng lễ hội truyền thống là một hiên tượng

Thứ nhất: Lễ hội truyền thống - một "hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể"
GS. Ngô Đức Thịnh cho rằng: Hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể là
một hiện tượng văn hoá mang tính phức thể, mà trong phức thể ấy, một yếu tố
văn hóa dân gian nào đó giữ vai trò là chủ đạo và gắn kết đa chiều với thực tại
xã hội.
Nhìn một cách tổng thể thì lễ hội chủ yếu vẫn thuộc phạm trù cái thiêng
của thế giới thiêng liêng, chứ không phải cái tục của đời sống trần tục. Ngôn
ngữ của lễ hội là ngôn ngữ biểu tượng, vượt lên trên đời sống hàng ngày.
Ngay một số sinh hoạt vui chơi, giải trí, thi tài diễn ra trong lễ hội như: đua
thuyền, đấu vật, kéo co, thả diều, trọi trâu.... thậm chí các trò chơi mang tính
phồn thực vẫn mang tính nghi lễ, phong tục chứ không còn mang tính trần tục
thuần tuý, mà đã trở thành cái tục của thế giới thiêng liêng. Từ đây rút ra một
hệ quả mang tính thực tiễn là hiện nay chúng ta phải nhận thức lễ hội thuộc
phạm trù cái thiêng, cái biểu tượng, vượt lên trên thế giới trần tục, nếu biến lễ
hội thành cái trần tục thì lễ hội với đúng nghĩa sẽ không còn nữa.

15


Tóm lại lễ hội là một hiện tượng văn hoá dân gian tổng thể, nên phải
tiếp cận nó như một hệ thống.
Thứ hai: Lễ hội truyền thống - một " hình thức diễn xướng tâm linh"
Trước hết ta phải hiểu thế nào là diễn xướng. Diễn xướng có nội hàm
khá rộng bao gồm những hành động và lời nói nhằm biểu đạt một thông tin
nào đó giữa một người hay một nhóm người với nhóm người khác. Như vậy
có thể coi sinh hoạt văn hoá dân gian tồn tại dưới dạng các diễn xướng. Hay
nói cách khác, diễn xướng là một môi trường thể hiện, tồn tại và biến đổi của
văn hoá dân gian. Vì vậy, về mặt phương pháp luận thì mọi hiện tượng văn
hoá dân gian đều tiếp cận trong môi trường diễn xướng. Từ quan niệm như
vậy có thể gọi lễ hội là một hình thức diễn xướng tâm linh.

Cả lễ hội là một đại diễn xướng, trong đó bao gồm nhiều diễn xướng
lớn, nhỏ khác nhau, tuy nhiên chúng kết hợp theo một trình tự và cấu trúc chặt
chẽ, không dễ thay đổi một cách tuỳ tiện. Thường là diễn xướng nghi lễ (lễ,
tế, rước) giữ vai trò chủ đạo trong nhiều lễ hội, nó diễn ra từ ngày mở đầu đến
kết thúc lễ hội.
Từ những phân tích trên có thể rút ra nhận xét sau:
- Lễ hội truyền thống là một hình thức diễn xuớng dân gian xuất hiện từ
xa xưa trong lịch sử, trong đó bao gồm nhiều loại hình diễn xướng nhỏ, kết
hợp hữu cơ tạo nên một tổng thể diễn xướng lễ hội.
- Lễ hội truyền thống là một hình thức diễn xướng tâm linh, nó không
còn là thế giới hiện thực, trần tục nữa, mà nó vươn lên thế giới biểu tượng,
linh thiêng. Nó tái hiện lại lịch sử tự nhiên, lịch sử xã hội trong một thời điểm
mạnh, thời điểm có giá trị đặc biệt, thời điểm thiêng khác với thời gian
thường ngày
- Diễn xướng lễ hội truyền thống đạt tới hiệu quả lễ hội nhiều mặt, nó
tạo nên và biểu trưng cho sức mạnh cố kết cộng đồng.
1.1.2 Lễ hội truyền thống ở tỉnh Hà Nam.
* Đặc điểm Hà Nam

17


Về quá trình thành lập:
Từ thời các vua Hùng, đất Hà Nam ngày nay nằm trong quận Vũ Bình
thuộc bộ Giao Chỉ; đến thời nhà Trần đổi là châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đông Đô.
Dưới thời Lê vào khoảng năm 1624, Thượng thư Nguyễn Khải đã cho chuyển
thủ phủ trấn Sơn Nam từ thôn Tường Lân huyện Duy Tiên phủ Lỵ Nhân đến
đóng ở thôn Châu Cầu thuộc tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng, phủ Lỵ Nhân,
trấn Sơn Nam Thượng. Đến năm 1832 nhà Nguyễn, vua Minh Mạng quyết
định bỏ đơn vị trấn thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ Lỵ Nhân được đổi

chính những đặc điểm này đã hình thành nên tính cách của người Hà Nam
trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc.
Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi nên địa hình có sự tương phản
giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi. Mật độ và độ sâu chia cắt địa
hình so với các vùng núi khác trong cả nước hầu như không đáng kể. Hướng
địa hình đơn giản, duy nhất chỉ có hướng Tây Bắc - Đông Nam, phù hợp với
hướng phổ biến nhất của núi, sông Việt Nam. Hướng dốc của địa hình cũng là
hướng Tây Bắc - Đông Nam theo thung lũng lũng sông Hồng, sông Đáy và
dãy núi đá vôi Hòa Bình - Ninh Bình, phản ánh tính chất đơn giản của cấu
trúc địa chất.
Về điều kiện kinh tế - xã hội
Hà Nam có 5 đơn vị hành chính cấp huyện gồm: Duy Tiên, Thanh
Liêm, Lý Nhân, Kim Bảng, Bình Lục, 1 thành phố là Phủ Lý.
Theo thống kê mới nhất, tổng số hộ dân cư của tỉnh Hà Nam tính đến
hết quý I năm 2013 là 243.787 hộ, trong đó số hộ gia đình là 243.051. Tổng
số nhân khẩu thường trú tính đến cuối quý I là 846.653 người.
Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá
cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện và nâng cao
đáng kể. Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là
truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là
truyền thống hiếu học, ham hiểu biết và giàu sức sáng tạo trong phát triển

19


kinh tế, mở mang văn hóa xã hội. Đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng
đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Hà Nam có trên 40 làng nghề. Có những làng nghề truyền thống lâu đời
như dệt lụa Nha Xá, trống Đọi Tam, mây giang đan Ngọc Động (Duy Tiên),
sừng mỹ nghệ (Bình Lục), gốm Quyết Thành, nghề mộc (Kim Bảng), thêu ren

với 9 khu chức năng. Diện tích mặt nước hồ khoảng 600 ha, diện tích phụ cận
và khu du lịch sinh thái là 600 ha. Xây dựng các nhà nghỉ, khách sạn, sân gôn,
quần vợt, công viên nước, nhà thuỷ tạ. Nơi đây cách chùa Hương 7 km,
cách Hà Nội 60 km, Nam Định 40 km, Ninh Bình 45 km, Hưng Yên 40 km là
điểm dừng chân cho khách du lịch nhiều tỉnh, nơi nghỉ dưỡng và giải trí vào
các ngày nghỉ cuối tuần của khách thập phương, đang thu hút đầu tư. Chùa
Long Đọi Sơn ở xã Đọi Sơn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam. Di tích Long Đọi
Sơn được xếp hạng từ năm 1992. Hàng năm có trùng tu, tôn tạo để gìn giữ
cho muôn đời sau. - Khu trung tâm du lịch thành phố Phủ Lý: Được xây dựng
2 bên dòng sông Đáy, giáp cửa sông Châu; có khách sạn 3 sao, 11 tầng, có
khu du lịch bến thuỷ phục vụ du khách đi chùa Hương, Ngũ Động Sơn, chùa
Bà Đanh, Hang Luồn. Nơi đây còn là địa điểm bơi thuyền dọc sông
Châu, sông Đáy vãng cảnh nước non Phủ Lý. Đền Trần Thương, ở huyện Lý
Nhân, thờ quốc công tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn. Đền
được xây dựng năm 1783; với diện tích 1,4 ha...
- Về truyền thống văn hoá, lịch sử
Hà Nam là mảnh đất sớm được khai phá. Trải qua chiều dài lịch sử,
tiền nhân đã để lại cho nhiều di sản văn hoá phi vật thể và vật thể vô cùng quý
giá như: Trống đồng Ngọc Lũ - dấu ấn thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của nền
văn hoá Đông Sơn - thuở các Vua Hùng dựng nước và giữ nước, cuốn sách
đồng Bắc Lý - một trong bốn cuốn sách còn nguyên vẹn nhất, nội dung phong
phú nhất của cả nước, tấm bia " Sùng Thiện Diên Linh" - một trong những

21


tấm bia quý còn lại của triều đình nhà Lý, có giá trị lịch sử của đất nước, bia
có kích thước khá lớn, tấm bia "Đại Trị" - thời Trần duy nhất ở Hà Nam.
Trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm nhiều người con quê hương Hà
Nam đã phát huy truyền thống dân tộc và trở thành các anh hùng dân tộc được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status