GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP HỢP NHẤT
VÀ MUA LẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM
3.1.Các giải pháp hoàn thiện khi thực hiện thương vụ M&A ngân hàng tại
Việt Nam
3.1.1 Thăm dò tìm kiếm đánh giá và khảo sát thận trọng mục tiêu tiềm năng
Trước khi thực hiện công việc tìm kiếm và đánh giá ngân hàng mục tiêu
ngân hàng thâu tóm phải xác định rõ tiêu chuẩn tìm kiếm mục tiêu của mình, cũng
như định hướng chiến lược dài hạn để lượng hóa các tiêu chuẩn chẳng hạn như
muốn mở rộng mạng lưới hoạt động, muốn có đội ngũ nhân sự có chất lượng tốt,
có hệ thống khách hàng đa dạng hơn hay muốn tăng vốn điều lệ…. khi đã xác định
rõ được tiêu chuẩn của mình, ngân hàng thâu tóm nên làm việc với đơn vị môi giới
và tư vấn chuyên nghiệp về hoạt động M&A (công ty chứng khoán, ngân hàng đầu
tư hay các công ty môi giới có uy tín)để kí kết hợp đồng môi giới và tư vấn thâu
tóm và sáp nhập.
Các nhà môi giới và tư vấn chuyên nghiệp sẽ giúp ngân hàng trong suốt
quá trình thực hiện thương vụ. Từ tìm kiếm ngân hàng mục tiêu, thẩm tra đánh
giá cẩn trọng, thiết lập bản ghi nhớ, định giá, đến gặp gỡ thương lượng với Ban
lãnh đạo ngân hàng mục tiêu, hỗ trợ các vấn đề cần thiết trong quá trình thực hiện
cũng như việc tái cấu trúc ngân hàng mới sau sáp nhập. Khi có sự tham gia của
đơn vị môi giới thì công việc tìm kiếm các mục tiêu tiềm năng trở nên dễ dàng
hơn, hiệu quả hơn và mang tính khách quan hơn. Sau khi tìm kiếm được mục tiêu,
công tác đánh giá mục tiêu tiềm năng cũng rất quan trọng ảnh hưởng đến sự thành
cộng hay thất bại của ngân hàng mục tiêu sau sáp nhập.
Việc khảo sát ngân hàng mục tiêu thương được thực hiện bởi các cộng ty tư
vấn môi giới. Quá trình xem xét mục tiêu tiềm năng có hai vấn đề cốt yếu mà các
ngân hàng cần thẩm định kĩ lưỡng:
+ Một là tình hình tài chính của ngân hàng mục tiêu. từ báo cáo tài chính của ngân
hang mục tiêu, ngân hàng thâu tóm sẽ xây dựng được các chỉ tiêu để đánh giá như
ROA, ROE, P\S, thu nhập của các sản phẩm dịch vụ hay thu nhập tính theo số
lượng khách hàng, thị phần huy động vốn, thị phần cho vay….. Từ đó sẽ đánh giá
được qui mô hoạt động, tình trạng nợ nần, hiệu quả của hoạt động kinh doanh….
Mỹ, Châu Âu … thì các tiêu chí ngân hàng thường lực chọn là vốn, thị phần, hệ
thống khách hàng, chiến lược sản phẩm, danh mục đầu tư…Tuy nhiên ở thị trường
việt Nam mới phát triển và hội nhập được hơn 10 năm, do vậy các tiêu chí để xây
dựng nhằm lực chọn được các ngân hàng mục tiêu sẽ khác hơn như về mạng lưới
hoạt động, nhân sự, năng lực tài chính, hệ thống khách hàng, sản phẩm hay phân
khúc thị trường…..
+ Về mạng lưới hoạt động
Đối với các ngân hàng lớn thường có mạng lưới hoạt động giao dịch rộng
khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước, tuy nhiên ở những vùng nông thôn, miền núi
chỉ có rất ít chi nhánh, điểm giao dịch của các NHTM nhà nước do đó việc phát
triển các dịch vụ tín dụng, cho vay đối với hộ kinh doanh các thể, các cá nhân
không thể bằng so với khu vực thành thị. Đối với các ngân hàng nhỏ chuyển đổi từ
ngân hàng nông thôn thì đa số có mạng lưới giao dịch ở một số các địa phương như
ngân hàng TMCP Việt Nam thương tín thì hoạt động ở tỉnh Sóc Trăng, NHTMCP
Đại Dương trước khi chuyển đổi thành ngân hàng đô thị thì hoạt động chủ yếu ở
tỉnh Hải Hưng(nay la Hải Dương và Hưng Yên), NHTMCP Mỹ xuyên hoạt động
chính ở tỉnh An Giang.. Do vậy các NHTMCP lớn phát triển quá nhanh và mạnh ở
khu vực thành thị nhưng lại có ít hoặc không có thị phần ở khu vục nông thôn thì
mục tiêu nhắm đến là các NHTMCP nhỏ có mạng lưới giao dịch mà NH thâu tóm
chưa thâm nhập được thị trườngtiềm năng này.
+ Về nguồn nhân sự
Trong thời gian gần đây, nguồn nhân lực trong ngành tài chính ngân hàng
đang trở nên khan hiếm đặc biệt là nguồn nhân sự trung và cao cấp thiếu trầm
trọng vì thế bài toán nguồn nhân lực thực sự là vấn đề nhức nhối của các ngân
hàng. Việc phát triển quá nhanh mạng lưới hoạt động, việc thâm nhập của các ngân
hàng nước ngoài vào thị trường Việt Nam ngày càng tạo nên nhiều áp lực cạnh
tranh cho các NHTM Việt Nam nói chung và khối NHTMCP Việt Nam nói riêng.
Từ đó các NHTMCP đều xây dựng chiến lược mở rộng mạng lưới giao dịch, phát
triển sản phẩm mới làm cho việc tuyển dụng nhân sự càng trở nên khó khăn hơn
bao giờ hết. Vì nguồn cung nhân lực cho ngành NH-TC còn thiếu và yếu cho nên
lại nhiều hơn là tự nguyện bị sáp nhập. Còn đối với ngân hàng cỡ trung bình thì áp
dụng tiêu chí này để thực hiện thương vụ M&A sẽ tạo nên ngân hàng lớn hơn, làm
tăng khă năng cạnh tranh trên thị trường tài chính việt Nam trước nguy cơ bị ngân
hàng nước ngoài giành giật thị phần.
+ Về hệ thống khách hàng
Các ngân hàng lớn tại Việt Nam chuyên cho vay những Tập Đoàn, Tổng
công ty, các doanh nghiệp lớn có uy tín trên thị trường do vậy thị phần cho vay đối
với khách hàng là cá nhân, doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ rất thấp. Theo Bộ Kế hoạch
và Đầu tư, trong tổng số gần 350.000 doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay,
khoảng 95% là nhỏ và vừa. Đây chính là phân khúc thị trường đầy tiềm năng trong
tương lai đối với các ngân hàng thương mại Việt Nam. Do vậy các ngân hàng lớn
thường tìm kiếm các ngân hàng nhỏ có năng lực về cho vay cá nhân để khai thác
hết tiềm năng trên thị trường này. Vậy nên trong điều kiện cạnh tranh gay gắt như
hiện nay, các ngân hàng TMCP nên lựa chọn mục tiêu là hệ thống khách hàng để
thực hiên hoạt động thâu tóm sáp nhập của mình
3.1.3 Xác định giá thâu tóm một cách cẩn trọng và hợp lý.
Việc đánh giá tiềm năng tăng trưởng của ngân hàng sau sáp nhập rất quan
trọng để đàm phán giá mua. Hệ thống khách hàng của ngân hàng mục tiêu có thể
sẽ không đảm bảo tính ổn định lâu dài, chất lượng đội ngũ nhân sự của ngân hàng
có thể sẽ không phù hợp với nhu cầu phát triển…Do vậy khi đánh giá giá trị tương
lai của ngân hàng sau sáp nhập phải đảm bảo loại trừ hết các yếu tố rủi ro và có
phòng ngừa đến sự thay đổi do điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan.
Xác định giá thâu tóm một cách hợp lý tức là vừa đủ thuyết phục được các
cổ đông của ngân hàng mục tiêu vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho ngân
hàng thực hiện thâu tóm, là điều rất khó khăn so hệ thống tài chính –ngân hàng
Việt Nam còn chịu nhiều tác động của các chính sách vĩ mô mang tính hành chính
cao. Tuy nhiên để đảm bảo đưa ra giá mua một cách hợp lý cho các cổ đông của
ngân hàng sáp nhập thì việc hoạch định và lượng hoá hết tất cả các yếu tố rủi ro
trong điều hành ngân hàng mới là rất quan trọng song chi phí lớn và tốn kém thời
gian. Do vậy, sử dụng các sản phẩm tư vấn của các tổ chức tài chính, môi giới, tư
Phương pháp này bỏ qua rất nhiều giá trị của ngân hàng. Ngoài những tài
sản hữu hình thì ngân hàng còn có những tái sản vô hình góp phần tạo ra lợi nhuận
của ngân hàng như nhân lực, thương hiệu, uy tín đối với khách hàng…chính vì thế
mà phương pháp này chỉ có giá trị tham khảo đối với các nhà phân tích tài chính
+ Định giá ngân hàng theo phương pháp tỷ số.
Phương pháp giá trị tài sản thuần đòi hỏi nhà đầu tư phải có thể nắm giữ
được những thông tin chi tiết về doanh nghiệp. Tuy nhiên, phương pháp trên lại bỏ
lỡ khá nhiều giá trị tiềm năng của ngân hàng mục tiêu. Phương pháp tỷ số đánh giá
là phương pháp đơn giản có thể giúp nhà đầu tư xác định giá một cách tương đối
hiệu quả.
Một số tỷ số thường được sử dụng
- Tỷ số P/E(price/earning per share)
Tỷ số này là tỷ số được sử dụng nhiều nhất. P/E được tính bằng cách chia thị
giá của cổ phiếu cho EPS- thu nhập trên một cổ phiếu. Tỷ số này hàm ý rằng các
nhà đầu tư sẵn sang trả bao nhiêu cho một đồng lợi nhuận là ra của ngân hàng.
P/E=giá trị thị trường/thu nhập của một cổ phiếu.
Trong đó thu nhập của một cổ phiếu EPS=(lợi nhuận sau thuế-cổ tức của cổ
phiếu ưu đãi)/số cổ phiếu đang lưu hành trung bình trong kì
Về cách xác định P/E, P/E được xác định dựa trên nhiều cách khác nhau. P/E
hiện tại (Current P/E ratio) được tính toán bằng cách chia giá hiện tại của cổ phiếu
cho EPS năm gần nhất.
• P/E=thị giá/EPS năm gần nhất
P/E kì vọng là tỷ số giữa thị giá hiện tại của cổ phiếu và EPS kì vọng
• P/E=thị giá/EPS năm tới
P/E điều chỉnh là tỷ số giữa thị giá của cổ phiếu và EPS 4 quí gần nhất.
• P/E=thị giá /EPS 4 quí trước
- Tỷ số P/BV (price/ book value)
P/BV là tỷ số giá trên giá trị sổ sách. Giá trị sổ sách được hiểu là giá trị sổ
sách của vốn cổ phần
Chỉ số P/BV có thể được sư dụng trong trường hợp lợi nhuận hay dòng tiền
luồng thu nhập này theo một mức lãi suất chiết khấu thích hợp với mức độ rủi ro
của ngân hàng đó. Thực hiện phương pháp này trên thực tế, người ta thực hiên
bằng cách chỉ xác định giá trị cụ thể của luồng thu nhập trong một giai đoạn nhất
định bắt đầu từ thời điểm định giá(thông thường giai đoạn này thấp nhất là 5 năm).
Sau giai đoạn trên, luồng thu nhập được định giá và giả định là ổn định hoặc tăng
đều theo một tỷ lệ nhất định.
Với cách phân chia luồng thu nhập của ngân hàng theo hai giai đoạn ta có
thể dễ dàng tính toán được giá trị hiện tại của chúng bằng phép tính toán học theo
nguyên tắc
Giả sử các luồng thu nhập xác định được ở giai đoạn (n năm) là FCF1….
FCFn và lãi suất chiết khấu là r thì tổng giá trị luồng thu nhập của giai đoạn này là:
1
1
2
0
2
...
(1 ) (1 ) (1 )
n
n
FCF
FCF
FCF
PV
r r r
= + + +
+ + +
Giả sử ta xác định được tính từ năm (n+1) trở đi, giá trị các luồng thu nhập
trên tăng đều theo tốc độ g thì tổng giá trị các luồn thu nhập giai đoạn hai bằng:
2
0 0
PV PV+
Tuy nhiên, để xác định được giá cổ phiếu thì ta còn phải tiến haàn thêm một
bước xác định luồng thu nhập thuộc vốn nợ. Việc xác định giá trị luồng thu nhập
này cũng phải tiến hành theo nguyên tắc trên, song đơn giản hơn nhiều. Vì vốn nợ
thường là có thời hạn nên ta có thể xác định được tất cả các luồng thu nhập thuộc
vốn nợ, chiết khấu chúng theo lãi suất chiết khấu vốn nợ để tìm ra giá trị hiện tại
của luồng thu nhập. Giá trị luồng thu nhập thuộc vốn cổ phần được xác định như
sau:
V
c
= V - V
d
Trong đó:
V: Giá trị của luồng thu nhập công ty
V
e
: Giá trị luồng thu nhập vốn cổ phần
V
d
: Giá trị luồng thu nhập vốn nợ
Giá của mỗi cổ phiếu =
Như vậy, trong phương pháp DCF có 2 thông số cơ bản nhất cần được xác
định, đó là:
(1): Luồng thu nhập công ty sẽ thu về trong tương lai
(2): Mức lãi suất chiết khấu luồng thu nhập đó
Dòng tiền ước tính được tính bằng Lợi nhuận sau thuế+Khấu hao tài sản
cố định-Chi phí đầu tư tài sản cố định+Thay đổi vốn lưu động
Dòng tiền ước tính được chiết khấu về hiện tại theo tỷ lệ chiết khấu bằng chi
phí sử dụng vốn bình quân của ngân hàng WACC
• Kết luận :Định giá không phải là một vấn đề gì đó qua bí hiểm. Các ngân hàng
thường sai lầm khi nghĩ rằng các giá trị của các phương pháp toán học tính ra là
một con số duy nhất cho giá trị của các ngân hàng thương mại. Trên thực tế giá trị
của một ngân hàng là giá được thoả thuận giữa các bên và giá chỉ có thể nhận ra
sau khi hai bên tiến hành thoả thuận. Cho nên sẽ không tốt lắm nếu như một trong
hai bên cố gắng định giá trước cho thương vụ sáp nhập. Cho nên các ngân hàng
TMCP khi định giá nên chú ý ba điều:
- Lựa chon phương pháp định giá thích hợp
Kinh nghiêm các thương vụ M&A thế giới cho thấy dòng tiền chứ không
phải thu nhập theo kế toán quyết định giá trị. Phương phương pháp thu nhập ngân
hàng mục tiêu dựa nhiều trên thu nhập trên kế toán do đó các con số này hầu hết
không có ý nghĩa lắm
Chỉ thu nhập trong năm tới năm nay, năm trước có ý nghĩa. Chỉ mình hệ số
P/E chưa nói lên hêt toàn bộ chu trình kinh doanh. Do đó một ngân hàng có thể
làm ăn tồi trong năm nay, có thể làm ăn hiệu quả nổi bật trong năm kế tiếp.