GIẢI PHÁP NHẰM TẬN DỤNG TỐT NHẤT NGUỒN VỐN FDI VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ VIỆT NAM - Pdf 67

GIẢI PHÁP NHẰM TẬN DỤNG TỐT NHẤT NGUỒN VỐN FDI
VÀO LĨNH VỰC PHÂN PHỐI BÁN LẺ VIỆT NAM
3.1 Thời cơ và thách thức trong việc thu hút FDI vào lĩnh vực phân phối
bán lẻ Việt Nam
3.1.1 Thời cơ
3.1.1.1 Xu hướng đầu tư của thế giới
Trên thế giới hiện nay toàn cầu hóa diễn ra ngày càng sâu rộng mà bản chất
của nó là sự mở rộng thị trường theo các định chế song phương, khu vực và toàn
cầu. Thông qua các cam kết về mở cửa thị trường mà sự phát triển của các tập đoàn
xuyên quốc gia và đa quốc gia trong lĩnh vực phân phối ngày càng lớn mạnh. Sự
hình thành nên các hãng phân phối lớn xuyên quốc gia và đa quốc gia có mạng
lưới phủ khắp toàn cầu đã trở thành một thế lực mạnh, áp đặt cuộc chơi cho các
nhà sản xuất. Trong lĩnh vực bán lẻ, xuất hiện sự thay thế các cửa hàng quy mô
nhỏ, độc lập bằng những hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua
sắm…. Tập đoàn Wal-Mart (Mỹ) có tới 7.343 cửa hàng trên 14 quốc gia, Carefour
(Pháp) có 15.000 cửa hàng trên 30 nước. Như đã nói ở trên, cả hai tập đoàn này đã
lên kế hoạch đầu tư vào lĩnh vực phân phối bán lẻ của Việt Nam. Điều đó sẽ mang
đến những tác động không nhỏ đến lĩnh vực phân phối nói chung và lĩnh vực phân
phối bán lẻ nói riêng.
Vai trò của FDI trong khu vực dịch vụ khác với trong lĩnh vực chế tạo, với số
lượng việc làm tạo ra ít hơn và giá trị gia tăng cũng ít hơn. Sáp nhân và thôn tính
(M&A) là những hình thức thâm nhập thị trường nhanh nhất và thực tiễn nhất. Sự
tăng trưởng FDI vào lĩnh vực dịch vụ ngày càng được tiếp sức bởi sức ép cạnh tranh
ở thị trường trong nước, dẫn đến việc các công ty xuyên quốc gia phải tìm kiếm thị
trường mới để phát huy lợi thế cạnh tranh của họ. . Sự chi phối của các dịch vụ tài
chính đã giảm xuống, còn các dịch vụ máy tính, giải trí, sức khỏe và bán lẻ đã nổi
lên chiếm ưu thế.
Tiêu dùng ở các nước Châu Á đang ngày càng gia tăng và đây là một trong
những thị trường hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các tập đoàn phân
phối hàng hóa lớn trên thế giới. Một đặc điểm chung của các nước Châu Á là hệ
thống phân phối hàng hóa còn mang nặng tính sản xuất nhỏ, các cửa hàng bán lẻ

160 quốc nước và vùng lãnh thổ, trong đó đã ký kết hiệp định thương mại với 90
quốc gia và vùng lãnh thổ, 46 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp
định chống đánh thuế hai lần, có thoả thuận đối xử Tối huệ quốc 81 quốc gia. Một
số hiệp định quan trọng như Hiệp định thương mại Việt Nam - Trung Quốc (1991),
Hiệp định hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc (1992), Hiệp định khung với
Liên minh châu âu (EU) (1992),Hiệp định thương mại song phương Việt Nam -
Hoa Kỳ (2000),Hiệp định hợp tác đầu tư với Nhật Bản (2003)..Việt Nam cũng đã
thiết lập quan hệ đầu tư với 70 nước và vùng lãnh thổ.
Về các quan hệ đa phương toàn cầu và khu vực, Việt Nam đã khai thông và
nối lại quan hệ với Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) (1993);
gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) năm 1995; tham gia Khu
vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) năm 1996, là thành viên sáng lập Diễn đàn
hợp tác Á - Âu (ASEM) năm 1996, gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á-
Thái Bình Dương (APEC) năm 1998; tham gia Khu vực thương mại tự do
ASEAN-Trung Quốc (ACFTA) năm 2001.
Việt Nam đã kết thúc thành công 14 phiên đàm phán đa phương và song
phương với 28 nước thành viên của WTO có yêu cầu đàm phán. Ngày 7/11/2006,
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới, mở ra
những cơ hội to lớn đối với phát triển kinh tế nước ta.
Hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam phải thực hiện các cam kết quốc tế mở
cửa thị trường đối với hàng hóa và dịch vụ, trong đó có dịch vụ phân phối bán lẻ
hàng hóa. Cam kết quốc tế về mở cửa thị trường trong lĩnh vực phân phối bán lẻ
hàng hóa của Việt Nam bao gồm các cam kết trong khuôn khổ các hiệp định
thương mại song phương, trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA) và ASEAN+ (ASEAN với các đối tác) và cam kết trong khuôn khổ WTO.
Dịch vụ phân phối hiện nay đã được mở cửa cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ,
Nhật Bản (theo các cam kết trong Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ và
Hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư Việt Nam - Nhật Bản). Gia nhập WTO, trong
thời gian tới, dịch vụ phân phối sẽ được tiếp tục mở cửa cho các nước thành viên
khác. Đến 01/01/2009, Việt Nam đã mở cửa hoàn toàn cho các doanh nghiệp kinh

trung bình tại TP.HCM và Hà Nội đã tăng nhanh chóng kể từ năm 2002 và đạt mức
40 USD/m
2
/tháng vào cuối quí III năm 2007. Giá thuê của những mặt bằng tại
những vị trí đẹp, hoặc tại khu trung tâm kinh doanh thương mại và tầng trệt lên đến
200 USD/m
2
/tháng
Hiện nay công suất thuê mặt bằng tại các thành phố lớn nước ta đều đạt trên
95% và nhu cầu thuê mặt bằng đang tăng mạnh. Có nhiều trung tâm thương mại
đến nay vẫn đang trong quá trình xây dựng nhưng các nhà kinh doanh cũng đã
đăng ký thuê kín chỗ.
3.1.2.2 Phong cách tiêu dùng của người dân vẫn mang nặng tính truyền
thống
Phần lớn dân cư nước ta vẫn chưa thích ứng được với các mô hình mua sắm
hiện đại. Vì vậy, ở trong nước, dù những tập đoàn bán lẻ lớn như Big C, Metro
đang kinh doanh rất thành công, thì hệ thống phân phối truyền thống gồm gần
9.000 chợ vẫn đang hoạt động hiệu quả và thu hút một lượng lớn dân cư thuộc mọi
tầng lớp, đặc biệt là những người có mức thu nhập trung bình, thấp và những người
hưu trí. Những người tiêu dùng trong nước hàng ngày vẫn tiếp cận với những
nguồn hàng hoá tại chợ gần với nơi họ sinh sống hoặc tại các cửa hàng ven đường.
Điều đó cho thấy, mặc dù nhu cầu ngày một gia tăng, nhưng điều đó chưa đủ để có
thể thay đổi tập quán, thói quen tiêu dùng. Người Việt Nam vốn quá quen với văn
hóa chợ và cửa hàng tạp hóa nên để người tiêu dùng có thể thay đổi hành vi mua
sắm ở các cửa hàng bán lẻ hiện đại, họ cần thời gian thích nghi. Yếu tố này
thường dễ làm các nhà đầu tư nản lòng.
3.1.2.3 Mâu thuẫn giữa các nhà sản xuất trong nước và bán lẻ nước ngoài
Khi các doanh nghiệp bán lẻ vào Việt Nam, đặc biệt là những doanh
nghiệp phân phối hàng tiêu dùng, một điều họ khá quan tâm là nguồn cung hàng
hóa trong nước. Đa phần các nhà sản xuất đều mong muốn sản phẩm phải phù

Do đó để có thể tăng cường thu hút FDI vào lĩnh vực này thì việc nâng cao năng
lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp là điều khá cần thiết trong giai đoạn hiện
nay.
3.2 Gỉải pháp
3.2.1 Bài học từ nước ngoài
3.2.1.1 Hàn Quốc
Sau 8 năm hoạt động ở Hàn Quốc,tập đoàn bán lẻ hàng đầu thế giới Wal-
Mart đã tuyên bố rút lui khỏi thị trường này bằng cách bán hết các cơ sở của
mình cho tập đoàn bán lẻ nội địa Shinsegae với giá gần 900 triệu USD.Trước
đó khoảng 1 tháng,tập đoàn bán lẻ lớn là Carrefour của Pháp cũng gây nên một
cơn “địa chấn” tương tự khi bán lại hệ thống cửa hàng ở Hàn Quốc với giá gần
2 tỉ USD.Vì sao các nhà bán lẻ Hàn Quốc có thể chiến thắng trước các đại gia
mạnh nhất của ngành bán lẻ thế giới?
Giải thích cho quyết định rút lui khỏi thị trường Hàn Quốc,cả Carrefour
và Wal-Mart đều nói rằng đó là do chiến lược tập trung cho thị trường Trung
Quốc.Tuy nhiên,theo giới phân tích,lý do chính là cả 2 gã khổng lồ này đã thất
bại trong việc cạnh tranh với các nhà bán lẻ nội địa vốn có khả năng xoay trở
nhanh và hiểu rõ thị hiếu tiêu dùng của người dân.
Sau 8 năm thâm nhập thị trường Hàn Quốc, Wal-Mart mới chỉ chiếm
được 4% thị phần, xếp thứ 5 sau Shinsegae với 30% thị phần, Tesco với 17%
thị phần, Lotte Shopping 12% và Carrefour khoảng 8%... Tính riêng năm 2005,
doanh thu của Wal-Mart tại thị trường Hàn Quốc chỉ đạt khoảng 800 triệu
USD, thua lỗ đến 10 triệu USD.Khi bắt đầu hoạt động tại thị trường Hàn Quốc,
có tổng giá trị khoảng 120 tỉ USD mỗi năm, cả Carrefour và Wal-Mart đều làm
dấy lên làn sóng lo ngại trong các nhà phân phối hàng hóa nội địa. Họ cho rằng
với kinh nghiệm quản lý của một tập đoàn đa quốc gia và có vốn lớn, chẳng
mấy chốc hai đại gia này sẽ “thôn tính” và thao túng thị trường bán lẻ Hàn
Quốc như đã từng làm ở nhiều quốc gia khác trên thế giới. Thế nhưng, thực tế
xảy ra hoàn toàn ngược lại.
Mới đầu, người dân Hàn Quốc đổ xô tới các cửa hàng của Wal-Mart và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status