ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------
PHẠM THỊ PHƢƠNG MY
TINH THẦN NH P TH
VI T N M TRONG
Ủ PH T GI O
I ẢNH N N
INH T THỊ TRƢ NG HI N N Y
LU N VĂN THẠ SĨ TRI T HỌ
Hà Nội - 2019
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢ NG ĐẠI HỌ
HO HỌ XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------------
PHẠM THỊ PHƢƠNG MY
TINH THẦN NH P TH
VI T N M TRONG
Ủ PH T GI O
I ẢNH N N
học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Hội đồng khoa học, Hội đồng đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Triết học của
Khoa Triết học – Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội cùng quý thầy cô khoa Triết học đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thúy Hằng –
người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, đóng góp những ý kiến quý báu cho luận
văn cũng như truyền đạt kiến thức và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời
gian học tập, nghiên cứu, thực hiện luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu,
song luận văn không tránh khỏi những sai sót, kính mong được sự góp ý của các
thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Phƣơng My
DANH MỤC CÁC CHỮ VI T TẮT
Chủ nghĩa xã hội:
CNXH
Giáo hội Phật giáo Việt Nam:
GHPGVN
Kinh tế thị trường:
ế
ủ
ệ
m ............. 38
1.2.1. Khái niệm................................................................................................................ 38
1.2.2. Đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam .................................................................................................... 41
1.3. Tinh thần nhập thế của Phật giáo và các vấ
ề trong nền kinh tế th
ng hiện nay ................................................................................................................. 43
1.3.1. Tinh thần nhập thế của Phật giáo và vấn đề phát triển kinh tế .......................... 43
1.3.2. Tinh thần nhập thế của Phật giáo và vấn đề văn hóa, giáo dục, đạo đức ......... 44
1.3.3. Tinh thần nhập thế của Phật giáo và vấn đề từ thiện, nhân đạo ........................ 45
1.3.4. Tinh thần nhập thế của Phật giáo và vấn đề khoa học công nghệ ..................... 45
1.3.5. Tinh thần nhập thế của Phật giáo và vấn đề đối ngoại, hợp tác quốc tế ........... 47
Tiểu kết chƣơng 1 .................................................................................................... 48
hƣơng 2. TINH THẦN NH P TH
I ẢNH N N
Ủ
PH T GI O VI T N M TRONG
khoa học công nghệ.......................................................................................................... 67
2.1.5. Thực trạng tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam biểu hiện ở phương diện
đối ngoại, hợp tác quốc tế................................................................................................ 69
2.2. Nhữ
về tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong b i
c nh nền kinh tế th
ng hiện nay ......................................................................... 74
2.2.1. Những đóng góp tích cực đối với tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay .............................................................. 74
2.2.2. Những hạn chế, bất cập đối với tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam
trong bối cảnh nền kinh tế thị trường hiện nay .............................................................. 75
2.3. Gi i pháp nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cự
thần nhập thế của Phật giáo Việ
ệ
ề
i v i tinh
ế
............................................................................................................................... 78
2.3.1. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân để phát huy ảnh hưởng
tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam. 78
2.3.2. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục giúp tăng ni, Phật tử và quần
chúng nhân dân nhận thức đúng về giá trị cũng như hạn chế đối với tinh thần nhập
hưởng quốc tế. Phật giáo Việt Nam - với tinh thần nhập thế vốn có của mình - đã và
đang thể hiện vai trò và vị thế bằng những cách thức mới như thế nào. Để đánh giá
đúng vị thế cũng như vai trò của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh mới này rất cần
những nghiên cứu cả ở phương diện lý luận cũng như thực tiễn.
Hơn nữa, khi Việt Nam đang xây dựng nền KTTT định hướng XHCN với
nhiều bước chuyển mình quan trọng, đã đạt được những thành tựu nổi bật về kinh
tế, từng bước nâng cao đời sống tinh thần cho người dân. Bên cạnh mặt tích cực,
KTTT cũng tạo ra nhiều tác động tiêu cực đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.
Sự phân hóa giàu - nghèo làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội; dễ nảy sinh
tham nhũng, tội phạm, bạo lực; kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân,
lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý… Để ứng phó với mặt trái của nền
KTTT ở nước ta hiện nay đã có rất nhiều giải pháp được đưa ra thông qua các văn
bản pháp luật, cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trên mọi
1
bình diện từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho đến tín ngưỡng, tôn giáo. Trong
những giải pháp khắc phục mặt trái của nền KTTT ở nước ta hiện nay, giải pháp từ
bình diện tín ngưỡng, tôn giáo có nhiều điểm mạnh, vì tín ngưỡng, tôn giáo vốn dĩ
là nhu cầu tinh thần đối với đại đa số người Việt. Vì thế, việc phát huy vai trò của
các tôn giáo trong xây dựng đời sống tinh thần, hoàn thiện đạo đức cho người dân
Việt Nam là một vấn đề hết sức có ý nghĩa. Và để phát huy vai trò của các tôn giáo
ở Việt Nam hiện nay, không thể không nói đến đạo Phật. Bởi, lịch sử đã chứng
minh trong quá khứ nghìn năm Bắc thuộc cũng như trong thời kỳ thực dân Pháp
xâm lược và đế quốc Mỹ đô hộ, đạo Phật vẫn luôn đồng hành cùng dân tộc đấu
tranh chống giặc ngoại xâm. Và trong bối cảnh KTTT hiện nay, đạo Phật vẫn tiếp
tục đồng hành cùng dân tộc kiến thiết đất nước, tạo ra những đóng góp to lớn trong
nhiều lĩnh vực như: an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, hoàn thiện đạo đức, lối sống
cho người dân…
ữ
ô
ì
ê
ứu v
Ở hướng nghiên cứu này phải nói đến những công trình như: Lược sử Phật
giáo Ấn Độ của Thích Thanh Kiểm (1989); Tìm hiểu về tinh thần nhập thế của Phật
giáo Việt Nam của tác giả Đặng Thị Lan (2003); Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh
hội nhập và toàn cầu hóa của Đỗ Quang Hưng (2006); Chức năng của Phật giáo
đối với vấn đề kinh tế của tác giả Trần Hồng Liên (2007); Phật giáo dân gian: con
đường nhập thế của Phật giáo Việt Nam của Nguyễn Thị Minh Ngọc (2008); Giải
thoát luận Phật giáo của Nguyễn Thị Toan (2010); Vài nét về vấn đề nhập thế của
Phật giáo thời Đinh và Tiền Lê của Nguyễn Tuấn Anh (2010); Những điểm chính
yếu của Phật giáo nhập thế của Quán Như (2011); Nhận thức chuẩn về tinh thần
nhập thế của Phật giáo của Hòa thượng Thích Thiện Nhơn (2017); Nhập thế của
Phật giáo – truyền thống và yêu cầu mới của tác giả Hoàng Thị Thơ và Nguyễn Thị
Luyến (2017),… Cụ thể:
Cuốn Lược sử Phật giáo Ấn Độ của Thích Thanh Kiểm được Thành hội Phật
giáo thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1989 đã khái quát về lịch sử xuất hiện
cũng như những vấn đề Phật giáo giải quyết. Tác giả đã viết, “Hai giai cấp Bà-lamôn và vua chúa là giai cấp thống trị, hai giai cấp bình dân và tiện dân là hai giai
cấp bị trị… giai cấp tiện dân lại bị xã hội khinh miệt, không được pháp luật bảo hộ,
cấm chế không cho dự phần tín ngưỡng tôn giáo, và tán tụng kinh điển Veda. Do đó
mà gây thành sự tổ chức xã hội bất công, dân chúng họ hằng khát vọng có bậc thánh
nhân xuất hiện cứu đời. Để đáp lại lòng mong mỏi đó, nên đã phát sinh một tôn giáo
Hoàng Thị Thơ và Nguyễn Thị Luyến với bài viết Nhập thế của Phật giáo –
Truyền thống và yêu cầu mới trong Hội thảo Khoa học Quốc tế Phật giáo nhập thế
và các vấn đề xã hội đương đại năm 2017. Trước khi phân tích tinh thần nhập thế
của Phật giáo Việt Nam trong lịch sử và trong giai đoạn hiện nay, tác giả đã làm rõ
tinh thần nhập thế của Phật giáo nói chung. Theo tác giả “Phật giáo không phải từ
hư không hay từ trên trời rơi xuống mà nó được thai nghén từ các vấn đề của cuộc
sống, và sinh ra để giải quyết các vấn đề đó của cuộc sống”, “Có thể hiểu về căn
4
bản nhập thế đã vốn có ở Phật giáo Ấn Độ…, và đến nay, tinh thần nhập thế của
Phật giáo vẫn không ngừng được phát huy mỗi khi bản thân Phật giáo cần chấn
hưng, canh tân để đáp ứng hơn nữa những đòi hỏi phát triển Phật giáo cũng như
trước những nhiệm vụ của dân tộc, của xã hội” [82, tr. 483].
Như vậy, ở hướng nghiên cứu tinh thần nhập thế của Phật giáo được nhiều
tác giả quan tâm. Đây là cơ sở giúp cho tác giả của luận văn có điều kiện nghiên
cứu và triển khai nhằm đạt được mục đích và nhiệm vụ đề tài đã đặt ra.
Thứ hai,
ữ
ô
ì
ê
ứu v
tuân theo những quy luật thị trường, đồng thời lại dựa trên cơ sở và được dẫn dắt,
chi phối bởi các nguyên tắc mang bản chất chủ nghĩa xã hội, nhằm mục tiêu “dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và từng bước quá độ lên
chủ nghĩa xã hội” [2, tr.31]. Tác giả khẳng định, “Đảng Cộng sản và Nhà nước xã
hội chủ nghĩa giữ vai trò lãnh đạo, tổ chức và quản lý nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa” [2, tr.31].
Bài viết Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
Việt Nam trên Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 431 – Tháng 4/2014, tác giả Trần Thị
Minh Châu đã làm rõ bản chất khác biệt của KTTT định hướng XHCN với KTTT
tư bản chủ nghĩa và nội dung căn bản trong phát triển KTTT định hướng XHCN ở
nước ta. Theo tác giả sự khác biệt duy nhất giữa nền KTTT tư bản chủ nghĩa và nền
KTTT định hướng XHCN là ở chỗ “ai làm chủ sức mạnh kinh tế thị trường và sức
mạnh chính trị trong một nước. Trong nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa: đó là
giới chủ; trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: đó là đông đảo
nhân dân lao động” [10, tr. 29]. Tính chất XHCN trong nền KTTT định hướng
XHCN “là đa phần tư liệu sản xuất đã được tích lũy phải nằm trong tay nhân dân
lao động dưới một hình thức nào đó… và Nhà nước là của nhân dân lao động, vì
nhân dân lao động” [10, tr. 31].
Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập khá toàn diện các vấn đề
liên quan đến KTTT và KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam. Đây là những tư
liệu cần thiết để chúng tôi có thể tiếp cận, phân tích tinh thần nhập thế của Phật giáo
Việt Nam trong bối cảnh của KTTT ở Việt Nam hiện nay.
Thứ ba,
ữ
ô
ì
nhập thế của Phật giáo Việt Nam không còn chung chung, trừu tượng mà đã đi vào
cuộc sống đời thường cụ thể và thiết thực hơn” [59, tr. 43]. Tuy nhiên, theo tác giả,
trong bối cảnh hiện nay, Phật giáo không thể tránh khỏi những tác động mạnh mẽ từ
xu thế toàn cầu hóa và cơ chế thị trường, trong đó có cả tác động tích cực và tiêu
cực. Để thích ứng với bối cảnh hiện đại, theo ông, Phật giáo Việt Nam cần phải biết
“tự điều chỉnh”, “cùng đất nước bước trên lộ trình đổi mới để phù hợp với bối cảnh
lịch sử mới” [59, tr. 45].
Bài viết Vai trò của Phật giáo Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước qua phương châm hoạt động “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã
hội trên tạp chí Nghiên cứu Phật học số 3 năm 2012, Hòa thượng Thích Gia Quang
đã phân tích phương châm hoạt động của tăng ni, Phật tử GHPGVN từ trước đến
nay là “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. “Đó là sự kế thừa có chọn lọc tư
tưởng giáo lý của Đức Phật và truyền thống Hộ quốc an dân của Phật giáo Việt
Nam”, “Giáo hội đã và đang chia sẻ trách nhiệm của mình và nỗ lực phấn đấu góp
7
phần giải quyết những khó khăn còn tồn tại trong sự nghiệp đổi mới của đất nước”
[71, tr. 18]. Qua đây, tác giả đã cho chúng ta thấy được tinh thần nhập thế tích cực
của GHPGVN hiện nay.
Năm 2017, Hòa thượng Thích Gia Quang với bài viết Phật giáo nhập thế và
các vấn đề xã hội đương đại ở Việt Nam đã đưa ra tư tưởng Phật giáo nhập thế đối
với xã hội đương đại là tính ứng dụng của giáo pháp Phật giáo trong cuộc sống [72,
tr. 158]. Trên cơ sở đó, tác giả phân tích thực trạng tinh thần nhập thế của Phật giáo
Việt Nam trên hai phương diện tích cực và tiêu cực ở các vấn đề gia đình và xã hội;
từ thiện, nhân đạo; phát triển kinh tế; giáo dục; môi trường và biến đổi khí hậu;
khoa học công nghệ; quan hệ quốc tế. Từ đó, tác giả đề xuất phải pháp để tinh thần
nhập thế của Phật giáo phát triển hơn trong tương lai.
Như vậy, qua quá trình khảo cứu các công trình đã liệt kê, chúng tôi rút ra
ứu
Trên cơ sở hệ thống những vấn đề lý luận về tinh thần nhập thế của Phật giáo
và Phật giáo Việt Nam, cũng như nền KTTT định hướng XHCN, luận văn làm rõ
thực trạng tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh nền KTTT, từ
đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực
tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh nền KTTT hiện nay.
3.2. Nhi m vụ nghiên cứu
Để đáp ứng được mục đích đề ra, luận văn thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tinh thần nhập thế của
Phật giáo và Phật giáo Việt Nam, cũng như nền KTTT định hướng XHCN;
Thứ hai, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng tinh thần nhập thế của Phật
giáo Việt Nam trong bối cảnh nền KTTT hiện nay;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt
tiêu cực tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh nền KTTT hiện nay.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đ
ợ
ê
ứu
Tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh nền KTTT hiện nay.
Bối cảnh nền KTTT trong luận văn bàn đến chính là nền KTTT định hướng XHCN.
4.2.
ạ
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí
Minh, luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp lịch sử - logic kết hợp với các phương
pháp khác như: Phân tích - tổng hợp, so sánh, thống kê, thu thập thông tin,... Các
phương pháp này được lựa chọn sử dụng phù hợp với từng nội dung cụ thể.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý
ĩ lý lu
Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tinh thần nhập thế
của Phật giáo và Phật giáo Việt Nam, cũng như nền KTTT ở Việt Nam, đồng thời
làm sáng tỏ thực trạng và đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy mặt tích cực,
hạn chế mặt tiêu cực tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh nền
KTTT hiện nay.
6.2. Ý
ĩ
ự
ễ
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc học
tập, nghiên cứu các môn học như: triết học, tôn giáo học, văn hóa học,… trong các
cơ sở nghiên cứu và đào tạo thuộc khối ngành khoa học xã hội và nhân văn ở Việt
Nam hiện nay.
7.
ết cấu của đề tài
Trên cơ sở khảo cứu quan niệm của các học giả, trong nghiên cứu này chúng
tôi cho rằng, nhập thế là không xa lánh cuộc đời và chủ động tham gia vào các hoạt
động của đời sống xã hội.
* Nhập thế trong tôn giáo
Nói đến khái niệm nhập thế trong tôn giáo, nhà nghiên cứu Đỗ Quang Hưng
trong bài viết Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa đã phân
biệt khái niệm “nhập thế” (engage in life) và khái niệm “thế tục hóa”
(secularization) trong tôn giáo. Theo ông, nhập thế là sự chủ động tham gia của các
lực lượng tôn giáo vào các vấn đề thế tục như chính trị, văn hóa, kinh tế,… vì xã
hội. Thế tục hóa là sự chuyển giao các quyền chính trị, giáo dục cho các lực lượng
thế tục, nghĩa là tách quyền lực tôn giáo ra khỏi quyền lực nhà nước [46, tr. 58-66].
Như vậy, nhập thế và thế tục hóa là hai khái niệm không đồng nhất với nhau.
Theo Từ điển Nho, Phật, Đạo do Lao Tử, Thịnh Lê chủ biên giải thích, “Đạo
gia cho rằng, tại gia mà tu đạo, đó có nghĩa là hòa nhập theo thế tục mà lập thân
11
hành đạo, cho nên gọi là công phu nhập thế. Như Lão Tử thờ nhà Chu, Trương
Lương phò nhà Hán, Lưu Cơ giúp nhà Minh hưng thịnh, đều gọi là công phu nhập
thế, để đối lập với công phu xuất thế. Hơn nữa, nếu lại làm các việc đời để làm nên
công đức sửa mình, giúp đời, độ thế hành đạo, vì thế gian mà làm mọi đạo đức tế vật,
tích lũy công hạnh để chứng đạo quả thì đều gọi là công phu nhập thế” [91, tr. 1001].
Như vậy, khái niệm nhập thế trong tôn giáo có thể được hiểu là tôn giáo chủ
động dấn thân, tiếp cận và thích ứng với thực tế sống động của đời sống thế gian;
vận dụng tư tưởng từ phía tôn giáo cùng với xã hội thế tục giải quyết các vấn nạn
của xã hội. Nói cách khác, nhập thế trong tôn giáo chính là sự mở rộng phạm vi
hoạt động ra ngoài phạm vi tôn giáo, như: chính trị, kinh tế, giáo dục, ngoại
giao,…Tôn giáo nhập thế để phát triển.
Nhập thế trong tôn giáo còn là sự thể hiện mối quan hệ giữa tôn giáo và xã
hội thế tục. Tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội, là kết quả của nhu cầu tinh thần
đóng vai trò dẫn dắt tinh thần với mục đích đem lại những điều có lợi cho nhân gian
[Dẫn theo 50, tr. 349].
Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong nghiên cứu Đạo Phật đi vào cuộc đời
(1964) cho rằng, “đem đạo Phật đi vào cuộc đời có nghĩa là thể hiện những nguyên
lý đạo Phật trong sự sống, thể hiện bằng những phương thức phù hợp với thực trạng
của cuộc đời để biến cải cuộc đời theo chiều hướng thiện, mỹ. Chừng nào sinh lực
của đạo Phật được trông thấy dào dạt trong mọi hình thức của sự sống chừng đó ta
mới có thể nói được rằng đạo Phật đang thật sự hiện hữu trong cuộc đời” [34, tr.
41]. Bản thân Thiền sư cũng đã giải thích: “Cuộc đời có nghĩa là cuộc sống hay xã
hội. Đạo Bụt nhập thế tiếng Việt được hiểu là đạo Bụt đi vào cuộc sống, đạo Bụt đi
vào xã hội” [36].
Theo nhà nghiên cứu Chân Minh khi đánh giá về tác phẩm nổi tiếng của
Thiền sư Thích Nhất Hạnh là Hoa sen trong biển lửa (1966) - một tác phẩm đánh
dấu sự khởi đầu của khái niệm Phật giáo nhập thế, cho rằng “Cái tự thân của đạo
Phật là đi vào cuộc đời rồi. Nếu không đi vào cuộc đời thì đâu còn là đạo Phật nữa?
Điều này rất dễ hiểu. Chúng ta đã học Bát Chánh Đạo, chúng ta biết rằng Tứ Đế là
một giáo lý khuyên chúng ta, chỉ dẫn cho chúng ta đối diện trực tiếp với khổ đau mà
không phải chạy trốn khổ đau. Sự thật thứ nhất là sự có mặt của đau khổ, và mình
phải trực tiếp đối diện với đau khổ đó. Vậy thì ngay trong sự hình thành của Phật
13
giáo ta đã thấy cái tính chất dấn thân rồi. Vì nếu không là dấn thân, nếu không phải
là nhân gian, nếu không phải là đi vào cuộc đời, thì đạo Phật đâu còn là đạo Phật
nữa? Vậy thì tại sao đã là đạo Phật rồi mà còn phải thêm chữ dấn thân, phải thêm
chữ nhập thế nữa, phải thêm chữ engaged nữa? Tại vì sao? Là tại có những người
nghĩ rằng đạo Phật là chỉ dành cho những người tu ở trong chùa thôi! Vì vậy, cho
nên phải dùng chữ engaged cho họ hiểu. Khi người ta đã hiểu rồi thì mình bỏ chữ
engaged đi cũng được, bỏ chữ dấn thân đi cũng được” [Dẫn theo 60].
chỉnh lý thống nhất giáo lý. Sau mỗi lẫn kiết tập thì nội dung của giáo lý ít nhiều có
sự thay đổi nhằm phù hợp với con người và môi trường xã hội mới. Giáo lý Phật giáo
bao gồm hệ thống quan niệm có kết cấu chặt chẽ về thế giới quan và nhân sinh quan.
Thế giới quan Phật giáo được phản ánh trong thuyết Duyên khởi. Duyên
khởi là nói tắt câu “Chư pháp do nhân duyên nhi khởi” nghĩa là các pháp – vạn vật,
bao gồm cả vật chất và tinh thần đều do nhân duyên mà có. Nhân là nhân tố cơ bản
để hình thành vạn vật, duyên là điều kiện tác động làm cho nhân sinh khởi. Duyên
khởi do tâm mà ra. Tâm là nguồn gốc của duyên khởi và là nguồn gốc của vạn vật.
Phật giáo đưa ra thuyết Thập nhị nhân duyên – mười hai cái vừa là nhân vừa
là duyên quyết định đến đau khổ. Mười hai nhân duyên đó được sắp xếp theo chiều
thời gian: Già chết (12) khâu cuối cùng của sinh mệnh; già do Sinh (11); sinh do
Hữu (10): ý muốn sinh tồn, hiện hữu; hữu do Thủ (9): sức bám víu, níu kéo sự
sống; thủ do Ái (8) lòng khát khao, ham muốn, dục vọng; ái do Thụ (7): cảm giác,
tình cảm nảy sinh do thân tâm tiếp xúc với ngoại cảnh; thụ do Xúc (6): sự tiếp xúc
của sáu căn (các giác quan của con người) với sáu trần (những thuộc tính của ngoại
giới); xúc do Lục nhập (5): tên gọi khác của sáu căn, sáu căn tiếp xúc với sáu trần
khiến cho ngoại cảnh trôi vào trong tâm thức; sáu căn có được là do Danh sắc (4): cơ
chế tâm linh, hình hài hay sự hội họp của các yếu tố vật chất và tinh thần; danh sắc lại
do Thức (3): ý thức ban sơ của thai nhi; thức do Hành (2): hoạt động mù quáng
hướng tới sự sống; hành do Vô minh (1): sự mê lầm, không sáng suốt. Như vậy, đây
là con đường dẫn tới khổ đau, luân hồi được dẫn dắt và chi phối bởi vô minh.
Từ đây, Phật giáo chủ trương vô tạo giả tức không có vị thần linh tối cao tạo
ra thế giới. Quan niệm này đối lập với các quan điểm hữu thần của các tôn giáo Ấn
Độ đương thời. Phật giáo đã chứng minh vạn vật là do nhân và duyên tạo thành,
nhân duyên hòa hợp thì vạn vật sinh, nhân duyên tan rã thì vạn vật diệt. Thuyết vô
15
tạo giả gắn liền vơi thuyết vô ngã, vô thường. Trong Kinh Trường A hàm Đức Phật
nói, về ý nghĩ đều tạo nên nghiệp (thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp) và kết quả
của nghiệp ấy gọi là nghiệp báo. Khi con người chết, thân thể mất đi nhưng nghiệp
do con người tạo ra giống như luật vô hình quay lại gặp nhân duyên tạo thành một
sinh linh mới. Sinh linh này phải trả quả cho những giây phút trước, kiếp trước và
đồng thời lại tạo nhân cho những giây phút sau, kiếp sau cứ thế không bao giờ
ngừng nghỉ, như chiếc bánh xe quay liên tục gọi là luân hồi. Phật giáo nhấn mạnh
nghiệp do Tam độc là tham, sân, si gây nên.
“Này các Tỳ kheo, đây là nhân sinh khổ thật sự là ái dục. Ái dục là nhân làm
cho chúng sinh phải sinh vào cảnh giới mới, khi ấy lại phải lẫn lộn với sự ham
muốn trong các đề mục” [78, tr. 63]. Như vậy, ái dục (lòng đam mê) là nguyên nhân
chính yếu của khổ. Chính lòng đam mê đã khiến con người bám víu vào sự sống
dưới mọi hình thức. Từ dục dẫn đến tham. Sự tham lam của con người, xúi giục con
người hành động để thỏa mãn lòng tham của mình. Sân là khi lòng tham không
được thỏa mãn thì con người trở nên tức giận, bực tức, nóng nảy làm cho tâm phiền
não, u buồn, khiến con người không có cái nhìn sáng suốt, tỉnh táo, khách quan
được, đó gọi là si. Si theo nghĩa rộng này thì cũng chính là vô minh. Vô minh là
không sáng suốt, “chỉ cái tâm âm độn, không chiếu rọi được rõ ràng sự lý của pháp.
Là tên gọi khác của si” [86, tr. 46]. Vô minh mang ý nghĩa là sự mê lầm, không
sáng suốt, lẫn lộn thật giả, thực hư, không hiểu lẽ vô thường vô ngã và Tứ diệu đế.
Như vậy, vô minh là nguyên nhân trực tiếp của ái dục và là nguyên nhân sâu
xa của khổ. Vô minh đã đẩy con người tái sinh qua các kiếp luân hồi để gánh chịu
sự trầm luân không cùng của nghiệp báo. Nghiệp báo luân hồi trong Phật giáo là
khái niệm dùng để chỉ sự chuyển sinh vô tận của đời sống.
Diệt đế là chân lý về sự chấm dứt các nỗi khổ. Phật giáo cho rằng, nỗi khổ
của cuộc đời con người có thể chấm dứt được bằng cách diệt vô minh, khi đó tam
độc sẽ biến mất, luân hồi chấm dứt, con người đạt tới Niết bàn (Nirvana).
Niết bàn, theo tiếng Phạn gồm hai phần: “Nir” là hình thức phủ định, không;
“Vana” có nghĩa là ái dục, là diệt. Cho nên, diệt trừ được lòng tham, diệt trừ được
rèn luyện để khắc phục tam độc, gồm: Giới, Định, Tuệ. Trong đó, tham được khắc
phục bằng giới (chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh); sân được khắc phục bằng
định (chính tinh tấn, chính niệm, chính định); si được khắc phục bằng tuệ (chính
kiến, chính tư duy).
18