Ngày 20/8 diễn ra cuộc hội thảo về nâng cao năng lực và đánh giá tác động của việc gia nhập
WTO đối với ngành thủy sản được tổ chức tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc.
Cuộc hội thảo nằm trong khuôn khổ dự án Xây dựng kế hoạch hành động Quốc gia về phát
triển bền vững ngành thủy sản sau khi Việt Nam gia nhập WTO giai đoạn 2010-2012 do FAO
tài trợ 250.000 USD, được thực hiện từ tháng 2/2008 đến tháng 8/2009.
Sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), ngành thuỷ sản đã có những
điều kiện thuận lợi để phát triển và thâm nhập sâu hơn vào thị trường thế giới. Tuy nhiên,
ngành cũng gặp phải nhiều khó khăn thách thức lớn như một loạt các cam kết theo quy định của
WTO và hài hòa chính sách hoạt động cho phù hợp với thông lệ, tiêu chuẩn và luật pháp quốc
tế.
Trong Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020, ngành thủy sản cũng đã đề ra một loạt giải pháp đồng bộ nhằm đạt mục tiêu trở thành
ngành sản xuất hàng hoá phát triển nhanh và bền vững. Theo đó, những chính sách về khai thác
ổn định nguồn lợi thuỷ sản trong nước được chú trọng.
Kể từ khi gia nhập WTO, sản lượng nuôi trồng, đánh bắt của Việt Nam luôn đạt sản lượng lớn.
Năm 2008, Việt Nam đứng ở vị trí thứ 3 về sản lượng nuôi trồng thủy sản và đứng thứ 13 về
sản lượng khai thác thủy sản, xuất khẩu được trên 4,5 tỷ USD hàng thủy sản, đứng thứ 6 về giá
trị xuất khẩu thủy sản trên thế giới.
Đại diện Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam, ông Andrew Speedy cho
rằng trong thời gian tới, ngành thủy sản Việt Nam còn phải vượt qua nhiều thách thức như vấn
đề kiểm soát chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc thuỷ sản không rõ
nguồn gốc. Có vậy mới giữ vững vị thế cho thuỷ sản Việt Nam khi xuất khẩu ra thế giới
Thị trường Thủy Sản Thế Giới năm 2008 Và
Triển Vọng 2009
Khởi tạo bởi : tinkinhte | Đăng bởi : tinkinhte | Cập nhật: 17/03/2009 23:56
E-mail | Bản in | Lưu xem sau
Giá thuỷ sản tăng mạnh vào đầu năm do đợt rét khắc nghiệt ở châu Á; Nhu cầu giảm kéo
giá giảm vào những tháng cuối năm. Các nhà sản xuất thuỷ sản gặp khó khăn do chi phí
thức ăn nuôi thả cao. Thuỷ sản nuôi thả ngày càng quan trọng trên thị trường thế giới.
Thị trường thuỷ sản thế giới năm 2008 không quá biến động như những thị trường hàng hoá
khác. Liên minh châu Âu (EU), thị trường Trung Đông và một số nước châu Á như Trung Quốc
triệu tấn và dự kiến sẽ tăng hơn 8% vào năm 2009, đạt 1,3 triệu tấn. Sản lượng cá tuyết Đại Tây
Dương sẽ giảm nhẹ (2%) còn 770.000 tấn. Nguồn cung cá tuyết haddock giữ nguyên mức
337.000 tấn mặc dù nhiều chuyên gia dự đoán sản lượng loài này sẽ tăng 13% vào năm 2009.
Ngành thuỷ sản Trung Quốc duy trì được tốc độ tăng trưởng ổn định trong năm 2008 nhờ sản
lượng thuỷ sản nuôi tăng 3% so với năm trước, đạt 48,9 triệu tấn. Bất chấp cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu, thặng dư thương mại thuỷ sản nuôi của Trung Quốc vẫn tăng 190 triệu USD
(5,78%) lên 3,49 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2008. Ngoài cuộc khủng hoảng tài chính,
ngành nuôi trồng thuỷ sản nước này còn thường xuyên phải đối phó với thiên tai, như thời tiết
đông giá vào đầu năm và bão lụt hồi giữa năm. Tuy nhiên, sản lượng của ngành này vẫn tăng
nhờ việc cải tiến các đầm nuôi, thiết lập hệ thống kiểm tra, kiểm dịch và hệ thống sản xuất con
giống tốt.
Tiêu thụ thuỷ sản nuôi năm 2008 lần đầu tiên vượt trội so với thuỷ sản đánh bắt. Tổ chức Nông
lương Liên Hiệp Quốc (FAO) ước tính 43% sản lượng nghề cá thế giới đến từ hoạt động nuôi
thả. Tại Anh, nhu cầu đối với cá hồi nuôi đang tăng lên, và doanh thu từ cá hồi nuôi Scotland
đã vượt quá 400 triệu bảng từ năm 2006, chỉ sau doanh thu từ thịt bò (467 triệu bảng), và cao
hơn hẳn doanh thu từ thịt cừu, thịt lợn và thủy sản đánh bắt.
Ấn Độ có thể sẽ từ nước xuất khẩu thuỷ sản lớn trở thành nước nhập khẩu thuỷ sản do sản
lượng trong nước giảm. Xuất khẩu thủy sản của nước này đã giảm từ mức 612.642 tấn vào
năm 2006-2007 xuống còn 541.701 tấn, trị giá 76.200 triệu rupee trong năm 2007-2008. Trong
khi đó tiêu thụ trong nước đang tăng do thu nhập của người dân và GDP tăng khá. Bởi vậy, về
lâu dài cán cân xuất nhập khẩu có thể được cân bằng. Với xu hướng hiện tại thì đến năm 2050,
Ấn Độ sẽ không còn nhiều thủy sản để xuất khẩu nữa cho nên cần phải cân nhắc đến việc nhập
khẩu nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu.
TÔM:
Giá tôm thế giới tăng mạnh từ cuối năm 2007 tới gần hết quý I/2008, sau đó giảm nhẹ vào đầu
quý II, phục hồi vào quý tiếp theo và giảm trở lại vào cuối năm. Sự bất ổn của ở các thị trường
tôm hàng đầu thế giới đã ảnh hưởng tới thị trường tôm toàn cầu.
Mỹ là nhà nhập khẩu tôm lớn nhất thế giới, mỗi năm nước này nhập khoảng 550.000 tấn. Tuy
nhiên, sau 10 năm tăng tăng liên tục, nhập khẩu tôm vào Mỹ năm 2008 bắt đầu trì trệ. Nhập
khẩu tôm vào Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2008 đạt tổng cộng 236.000 tấn, hầu như không thay
nhiều nước sản xuất tôm chân trắng ở Đông Nam Á, với trung tâm là Thái Lan đang phải đẩy
mạnh sản xuất tôm cỡ lớn 26/30 hoặc lớn hơn. Một nguồn tin thương mại của Nhật dự báo rằng
tôm chân trắng cỡ lớn sẽ chiếm từ 10-12% nguồn cung tôm cho thị trường Nhật.
Giá tôm chân trắng tại Thái Lan (Baht/kg)
Ngày 50 con/kg 60 con/kg 70 con/kg 80 con/kg 90 con/kg 100con/kg
30/12/2008 123 116 110 100 92 86
1/6/2008 108 100 93 90 86 80
4/1/2008 120 103 97 90 85
CÁ NGỪ:
Khác với mặt hàng tôm, giá cá ngừ tăng khá nhiều trong 3 quý đầu năm 2008 bởi sản lượng
khai thác ở Ấn Độ Dương thấp và chi phí nhiên liệu tăng cao. Tổng cung cá ngừ ở thị trường
Nhật Bản quý I năm 2008 giảm rõ rệt so với cùng kỳ năm 2007, sau khi sản lượng khai thác nội
địa 3 tháng cuối năm 2007 giảm 11% xuống chỉ 50.901 tấn. Từ mức khoảng 1.300 USD/tấn,
giá cá ngừ vằn nguyên liệu đã lên tới 1.600 USD/tấn vào giữa năm (so với khoảng 800-1.000
USD/tấn một năm trước đó). Cơ quan Nghề cá Nhật Bản cho biết, giá nhiên liệu cho các tàu
khai thác đã tăng gấp 2,3 lần kể từ tháng 3/2004 tới giữa năm 2008 do giá dầu thô tăng liên tục
leo thang. Theo số liệu thống kê của FAO, tổng sản lượng khai thác 5 loài cá Ngừ chủ yếu là cá
Ngừ vằn, cá Ngừ vây vàng, cá Ngừ mắt to, cá Ngừ vây dài và cá Ngừ vây xanh năm 2008 và
những năm tới sẽ không thể tăng hơn mức vốn đã thấp của những năm 2005-2006, khoảng 4,35
triệu tấn. Nhiều tàu khai thác cá Ngừ ở châu Á thậm chí có thể phải ngừng hoạt đồng do giá
nhiên liệu ngày một tăng, dẫn đến giá cá ngừ sashimi có thể sẽ tăng theo. Ngày càng có nhiều
tàu đã đăng ký nhưng không hoạt động do chi phí nhiên liệu tăng cao trong khi việc đánh bắt
ngày một khó khăn do nguồn cung suy giảm. Tuy nhiên vào những tháng cuối năm, giá giảm
dần do nhu cầu giảm, chịu tác động từ suy thoái kinh tế, và giá nhiên liệu giảm. Từ mức 1.850
-1900 USD/tấn trong quý III, giá giá mỗi tấn cá ngừ đã giảm xuống trung bình 1.400 USD.
CÁ HỒI, CÁ THU:
Theo khảo sát mới đây do Bộ Nông, Lâm, Ngư nghiệp Nhật Bản tiến hành, nhu cầu đối với cá
hồi của Trung Quốc ước tính tăng khoảng 40% năm 2008. Tiêu thụ cá hồi và nhu cầu nguyên
liệu của Trung Quốc cho sản xuất sushi tăng nhanh chóng. Năm 2006, Trung Quốc nhập khẩu
10.000 tấn cá hồi. Qua phỏng vấn nhiều tổ chức ngành, thì nhu cầu đối với cá hồi của nước này
mặn là vô cùng lớn. Nước ta có 544 loài cá thuộc 288 giống tiềm năng, nguồn lợi thủy sản ước
tính khoảng 4,5-5 triệu tấn. Từ năm 1985 đến 2008, ngành thủy sản tăng trưởng liên tục với tốc
độ trung bình từ 6 - 10%/năm.
Theo đại diện Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, những tồn tại lớn nhất của
ngành là: chưa có chiến lược phát triển; quy hoạch còn tùy tiện; chồng chéo; phát triển tự phát;
năng lực quản lý điều hành không đúng thực tế, chậm tìm ra giải pháp tháo gỡ; sự tăng trưởng
của nghề cá không đi đôi với việc thay đổi bộ mặt của đời sống ngư dân.
Chiến lược phát triển ngành Thủy sản Việt Nam đến năm 2020 bao gồm các nội dung cụ thể
sau: Năm 2010, sản lượng tăng bình quân 2,15%, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 4,8 - 5,0 tỷ
USD; Năm 2015, sản lượng tăng 2,76%/năm, kim ngạch xuất khẩu đạt 6,0 tỷ USD; Đến năm
2020, kim ngạch xuất khẩu đạt 7,0 tỷ USD.
Để đạt mục tiêu trên thì cần phải đầu tư một khoản vốn lớn, lên tới hơn 67.000 tỷ đồng với
khoảng 20 chương trình và đề án sẽ được đầu tư như: chương trình phát triển khai thác hải sản
bền vững, chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, chương trình đảm bảo an toàn
cho người và tàu cá hoạt động thủy sản, chương trình phát triển khoa học công nghệ phục vụ
phát triển thủy sản…
Tham gia đóng góp ý kiến trong dự thảo Chiến lược Phát triển Thủy sản đến năm 2020, lãnh
đạo một số bộ, ban ngành đã đưa ra phương án cụ thể như sau:
Ông Nguyễn Việt Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT cho rằng: phải quan tâm đến thị
trường xuất khẩu gắn với nội địa; năng suất, chất lượng đời sống của ngư dân cần được chú
trọng hơn. Trong khi khai thác phải đi đôi với bảo vệ để đảm bảo phát triển thủy sản bền vững.
Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Vũ Văn Tám nhấn mạnh: Cần chú trọng chất lượng và giá trị, mở
rộng hơn về diện tích và tổng sản lượng. Bên cạnh đó, ngành cần phát triển sản phẩm có thế
mạnh, sản phẩm chủ lực không chỉ trong nước mà xuất khẩu. Trước mắt Bộ NN&PTNT yêu
cầu các địa phương rà soát lại diện tích nuôi trồng và có các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh.
Tùy theo quy mô sản xuất mà có sự đầu tư phù hợp đảm bảo ngay từ nguyên liệu đầu vào, từ đó
ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giá cả và đầu ra cho sản phẩm, năng lực sản xuất ngày càng
lớn của các doanh nghiệp khi thị trường xuất khẩu ngày càng mở rộng.
Trong tình hình xuất khẩu thủy sản như hiện nay, Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt
Nam khuyến cáo các doanh nghiệp cần mở rộng thị trường xuất khẩu; ngoài thị trường truyền
Trong tổng lượng gia tăng nhu cầu thuỷ sản dùng làm thực phẩm (khoảng 40 triệu tấn), có 46%
mức tăng là do dân số tăng, 54% còn lại là do kinh tế phát triển và các nhân tố khác. Các nước
đang phát triển sẽ dẫn đầu về mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu người với mức tăng dự
kiến là 1,3%, trong khi đó tại các nước phát triển mức tăng nhu cầu tiêu thụ tính theo đầu người
bình quân mỗi năm giảm 0,2%.
Nhu cầu bột cá và dầu cá dự kiến mỗi năm sẽ chỉ tăng khoảng 1,1%/năm trong giai đoạn từ
2000 đến 2010 và 0,5%/năm trong giai đoạn 2010 - 2015. Trong khi đó nhu cầu bột cá ở các
nước phát triển sẽ tăng 1,6% mỗi năm, ở các nước đang phát triển sẽ tăng 2,6%/năm cho tới
năm 2010 và 1,4%/năm sau thời gian này. Khối lượng cá cần thiết để đáp ứng nhu cầu sản xuất
bột cá và dùng cho các mục đích phi thực phẩm khác sẽ đạt khoảng 45 triệu tấn vào năm 2015.
Tiêu thụ thuỷ sản của các nước đang phát triển tăng với nhịp độ cao hơn là do sự gia tăng
nhanh hơn về dân số và thu nhập. Đối với các nước phát triển những yếu tố hạn chế nhịp độ
tăng sản lượng chính là nhịp độ tăng dân số thấp hơn và mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu
người đã ở mức cao.
Cùng với sự khác biệt về nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản theo nhóm nước phát triển và đang phát
triển là sự thay đổi về cơ cấu tiêu thụ theo khu vực trong giai đoạn dự báo. Trong đó, khu vực
Đông Bắc á, ngoại trừ Nhật Bản, sẽ có nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản cao nhất (khoảng
30%/năm); tiếp đến là khu vực các nước ASEAN và các nước châu á khác; các nước Tây Âu,
Bắc Mỹ sẽ có nhịp độ tăng tiêu thụ thuỷ sản thấp nhất.
Do kết quả của việc cải cách hệ thống phân phối hàng thuỷ sản và do nhiều nguyên nhân khác,
ở các nước sẽ có xu hướng tăng tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản tại gia đình bên cạnh hệ thống dịch
vụ ăn uống công cộng, các nhà hàng, khách sạn... Thị phần của kênh tiêu thụ gia đình sẽ tăng
lên trong tổng tiêu thụ thuỷ sản của một khu vực thị trường.
Thị hiếu tiêu thụ
Về thị hiếu, tiêu thụ thuỷ sản thế giới sẽ chuyển sang hướng tiêu dùng nhiều thuỷ sản tươi,
sống, đặc biệt là các loại có giá trị cao: giáp xác, nhuyễn thể, cá ngừ, cá hồi... Tỷ trọng dầu cá,
một bên là giá thuỷ sản tăng, cùng với sự dịch chuyển về nhu cầu tiêu thụ các loại thuỷ sản
khác nhau và một bên là sự dịch chuyển nhu cầu nhu cầu sang các loại thực phẩm giàu protein
thay thế khác.
Triển vọng thương mại thuỷ sản thế giới
Theo dự báo của FAO, thương mại thuỷ sản thế giới đang tăng trưởng rất nhanh với 38% sản
lượng thuỷ sản được giao dịch quốc tế. Kim ngạch xuất khẩu toàn cầu tăng 9,5% vào năm
2006, 7% năm 2007, lên đến con số kỷ lục 92 tỉ USD. Trung Quốc là nước xuất khẩu thuỷ sản
lớn nhất thế giới, với kim ngạch xuất khẩu đạt 9,7 tỷ USD. Đồng thời nước này đang tăng
cường nhập khẩu thuỷ sản, năm 2007 Trung Quốc đã chi 4,2 tỷ USD để nhập khẩu thuỷ sản
cho mục đích tái xuất.
Các nước đang phát triển tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong ngành thuỷ sản, chiếm 50%
sản lượng thương mại thuỷ sản toàn cầu, chiếm 27% giá trị, tương đương 25 tỉ USD. Các nước
phát triển chiếm 80% tổng nhập khẩu thuỷ sản toàn cầu.
Mức xuất khẩu ròng thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản của các nước đang phát triển sẽ đạt
10,6 triệu tấn vào năm 2010, nhưng sẽ giảm xuống còn 10,3 triệu tấn vào năm 2015, chủ yếu là
do nhu cầu nội địa gia tăng. Mỹ La tinh và Caribê sẽ tiếp tục là khu vực xuất siêu về thuỷ sản
lớn nhất, và Châu Phi, khu vực nhập siêu về thuỷ sản truyền thống sẽ trở thành khu vực xuất
siêu về thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản vào năm 2010.
Châu Á vẫn là khu vực nhập siêu về thuỷ sản tuy mức nhập siêu sẽ giảm đi do Trung Quốc -
vốn là nước nhập siêu thuỷ sản sẽ lại trở thành nước xuất siêu về thuỷ sản vào năm 2015, chủ
yếu là do sản lượng nuôi tiếp tục mở rộng. Nhập khẩu ròng thuỷ sản vào châu Á sẽ giảm từ 5,1
triệu tấn năm 1999/2000 xuống 4,8 triệu tấn vào năm 2015. Trái với xu hướng này, Trung
Quốc, dự kiến sẽ là nước nhập ròng với giá tương đối ổn định, dự kiến sẽ trở thành một nước
xuấ khẩu ròng cá vào năm 2015, chủ yếu bởi sản lượng nuôi thả tăng lên.
Các nước phát triển sẽ giảm lượng nhập siêu thuỷ sản và các sản phẩm thuỷ sản xuống còn
khoảng 10,6 triệu tấn vào năm 2010 và khoảng 10,3 triệu tấn vào năm 2015. Xét theo khu vực,
Bắc Mỹ có thể sẽ tăng khối lượng nhập siêu từ 1,7 triệu tấn hiện nay lên 2,4 triệu tấn vào năm
2015. Tây Âu dự kiến sẽ giảm lượng nhập siêu từ mức 2,6 triệu tấn hiện nay xuống còn khoảng
0,2 triệu tấn vào năm 2015. Các nước phát triển khác, đáng chú ý là Nhật Bản, dự kiến sẽ duy
trì khối lượng thuỷ sản nhập khẩu như hiện nay.
ASEAN. Cơ hội đa dạng hoá thị trường còn lại ở các thị trường Trung Quốc, các nước Đông
Âu cũ và Úc.
Dưới đây là một số khó khăn và giải pháp tháo gỡ của ngành:
Khó khăn:
-Khó khăn chủ yếu hiện nay là các nước đang áp dụng các hành vi bảo hộ thương mại, các hàng
rào kỹ thuật, kiểm dịch chặt chẽ và thường xuyên ban hành các tiêu chuẩn mới khắt khe hơn về
dư lượng kháng sinh và an toàn vệ sinh thực phẩm. Như trường hợp Bộ Nông nghiệp Mỹ
(USDA) đang trong quá trình triển khai dự luật nông nghiệp 2008 (Farmbill), trong đó có điều
khoản nhằm hạn chế việc nhập khẩu cá tra của Việt Nam, dựa trên việc mở rộng định nghĩa
catfish và đưa cá tra của Việt Nam vào danh sách này để chuyển đối tượng này từ US FDA
sang USDA quản lý.
-Thiếu nguyên liệu trong nước để sản xuất xuất khẩu trong khi thuế nhập khẩu ở mức cao 10-
20%. Hiện nay, hầu hết các nhà máy chế biến thuỷ sản chỉ hoạt động được khoảng 70% công
suất do thiếu nguyên liệu chế biến. Số nhà máy chế biến hải sản không ngừng tăng lên trong khi
năng lực nuôi trồng , khai thác trong nước có hạn, cạnh tranh trở nên gay gắt. Để đáp ứng được
các đơn hàng đã ký từ trước, nhiều doanh nghiệp buộc phải chọn giải pháp nhập khẩu nguyên
liệu. Chỉ riêng cá hồi, bình quân mỗi năm Việt Nam phải nhập khẩu khoảng 1.500 tấn từ các
nước châu Âu. Theo dự báo của Bộ NN & PTNT, để đáp ứng đủ nhu cầu chế biến xuất khẩu, từ
nay đến 2010, nhập khẩu hàng thuỷ sản của Việt Nam sẽ tăng từ 81-10%/năm, với giá trị
khoảng 200 triệu USD/năm.
-Việc tiếp cận nguồn vốn vay từ các ngân hàng và vay ưu đãi gặp khó khăn. Hiện , người dân
nuôi trồng thuỷ sản phải vay vốn ngân hàng với lãi suất cao (trên 1%/tháng), thậm chí nếu vay
ở ngoài có lúc lên tới 2%/tháng.
-Con giống không đảm bảo, chất lượng thấp. Nguyên liệu sản xuất thiếu trong khi thuế nhập
khẩu nguyên liệu ở mức cao, chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa vùng sản xuất với chế biến. Bên
cạnh đó, yếu kém trong khâu marketing và thiếu đội ngũ các nhà quản lý cũng như lao động có
trình độ cũng là khó khăn đối với ngành thuỷ sản.
-Nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu nhiều trường hợp không đảm bảo chất
lượng, có dư lượng kháng sinh cao…
Giải pháp