Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao người Việt - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH TRANG

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỀ TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN
TRONG CA DAO NGƢỜI VIỆT

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Văn học Dân gian

Hà Nội - 2014

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THANH TRANG

VĂN HÓA ỨNG XỬ VỀ TÌNH YÊU VÀ HÔN NHÂN
TRONG CA DAO NGƢỜI VIỆT

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Dân gian
Mã số: 60 22 01 25

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học : GS.TS Vũ Anh Tuấn

Hà Nội, 11/ 2014



4


DANH MỤC VIẾT TẮT

KTCD

: Kho tàng ca dao ngƣời Việt

VHDG

: Văn học dân gian

THCS

: Trung học cơ sở

H

: Hà Nội

NXB

: Nhà xuất bản

TS

: Tiến sĩ


2.2. Tình yêu đau khổ......................................................................................... 44
2.2.1. Nguyên nhân ............................................................................................. 44
2.2.2. Thái độ trách móc, hờn giận .................................................................... 45
2.2.2.1. Khi trái duyên, bị ép duyên .................................................................... 45
2.2.2.2. Khi bị phụ tình ....................................................................................... 47
2.2.2.3. Khi ghen tuông ....................................................................................... 49
2.2.2.4. Khi bị lỡ duyên – nuối tiếc ..................................................................... 50
2.2.3. Thái độ cao thượng – không cao thượng................................................. 55
2.3. Tình yêu đơn phƣơng.................................................................................. 59
2.4. Những ƣớc mong trong tình yêu ................................................................ 60

6


Tiểu kết chƣơng 2 ............................................................................................... 62
CHƢƠNG 3: VĂN HÓA ỨNG XỬ TRONG HÔN NHÂN ........................... 64
3.1. Ứng xử trong quan hệ vợ chồng ................................................................ 64
3.1.1. Đạo nghĩa chung trong quan hệ vợ chồng .............................................. 64
3.1.2. Ứng xử của người vợ ................................................................................ 67
3.1.2.1. Ứng xử tích cực ( sự gắn bó, hòa hợp) ................................................. 67
3.1.2.2. Ứng xử tiêu cực ...................................................................................... 77
3.1.3. Ứng xử của người chồng .......................................................................... 92
3.1.4. Ứng xử của người tình của chồng ........................................................... 94
3.2. Ứng xử trong mối quan hệ khác ................................................................ 97
3.2.1. Ứng xử trong quan hệ nàng dâu với mẹ chồng ....................................... 97
3.2.2. Ứng xử trong quan hệ bố mẹ vợ - con rể ............................................... 102
3.2.3. Ứng xử trong quan hệ mẹ ghẻ - con chồng, cha dượng - con của vợ .. 103
3.2.4. Ứng xử giữa anh chị em dâu rể ............................................................. 104
Tiểu kết chương 3.............................................................................................. 104
KẾT LUẬN ....................................................................................................... 106

niệm mới, tƣ duy mới không còn giống với quan niệm của ngày xƣa, nhƣng cái

8


mới ấy vẫn không thể thoát ly khỏi bản sắc của dân tộc. Dẫu rằng trong thế giới
phẳng này chẳng có ai “ngây thơ” quan niệm về tình yêu và hôn nhân nhƣ văn
hóa truyền thống, nhƣng quan niệm mới ấy vẫn phải có sự chế định của bản sắc
dân tộc. Nói tới văn hóa là nói tới nhân dạng và tính cách; tính cách lại làm nên
phẩm giá con ngƣời. Mỗi dân tộc lại có quan niệm về phẩm giá khác nhau và
phẩm giá ấy làm nên chuẩn mực có tính lịch sử. Do có tính lịch sử nên ngoài cái
đổi mới, phẩm giá còn có sự tiếp nối. Thế nhƣng có đổi mới tới đâu cũng phải
phát triển dựa trên dân trí và đạo đức. Không thể phủ nhận ngày nay là thời đại
khoa học công nghệ, thời đại của công nghệ thông tin, thời đại dân trí phát triển
mạnh. nhƣng dân trí đƣợc nâng cao không có nghĩa phá vỡ những nền tảng đạo
đức. Hai khía cạnh ấy phải luôn có sự song hành, diễn tiến hài hòa.
Do đó, việc tìm hiểu văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân qua ca dao
giúp chúng ta hiểu hơn đời sống của cha ông và việc soi bóng vào quá khứ sẽ
giúp ta thấy đƣợc một tƣơng lai, soi bóng vào dân tộc để thấy đƣợc chính mình.
Có đƣợc gốc rễ ấy để ta có cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc
sống hiện đại và đây là điều thực sự cần thiết cho giới trẻ ngày nay.
1.2. Lý do học thuật
Ca dao cũng là một lĩnh vực cần nghiên cứu chuyên sâu, vì kho tàng ca
dao cũng là một kho tàng tri thức về lịch sử, xã hội, địa lý, đặc biệt là lĩnh vực
văn hóa. Nghiên cứu ca dao chính là việc làm mang tính chất học thuật nhằm
khám phá kho tàng tri thức của cha ông.
Tình yêu, hôn nhân đặc biệt là tình yêu, hôn nhân trong ca dao của ngƣời
Việt luôn là tâm điểm nghiên cứu từ xƣa đến nay. Bởi đó là vấn đề mang tính
chất hiện sinh, đặt ra nhiều mối quan tâm trong cuộc sống thực tại. Những bài ca
dao về tình yêu tự do, về quyền sống của con ngƣời, đặc biệt là ngƣời phụ nữ,

10


của ngƣời xƣa. Từ đó, điều chỉnh đƣợc thái độ, hành vi cũng nhƣ cách ứng xử về
tình yêu trong cuộc sống hiện đại.
Công việc giảng dạy của giáo viên ở trƣờng phổ thông vì thế cũng đòi hỏi
phải nắm vững kiến thức về ca dao, đặc biệt là kiến thức về tình yêu hôn nhân,
để từ đó có cách cảm, cách nghĩ đúng đắn và định hƣớng đƣợc cho học sinh của
mình. Mảng kiến thức về ca dao trong trƣờng phổ thông cũng chiếm một khối
lƣợng khá lớn. Do đó, tìm hiểu về ca dao cũng sẽ giúp nâng cao nghiệp vụ và
tầm bao quát kiến thức cho giáo viên.
2. Lịch sử vấn đề
Đề tài tình yêu, hôn nhân trong ca dao, tục ngữ là đề tài muôn thuở đƣợc
nhiều ngƣời quan tâm và nghiên cứu. Các giáo trình văn học dân gian của Đinh
Gia Khánh, Hoàng Tiến Tựu, Vũ Anh Tuấn, Đỗ Bình Trị… cũng đề cập tới vấn
đề này, tuy không nhiều lắm, nhƣng cũng là nguồn tham khảo quý giá cho chúng
tôi. Bên cạnh đó, qua các cuốn chuyên luận, các luận án, các bài báo mà chúng
tôi khảo sát đƣợc, chúng tôi nhận thấy các nhà nghiên cứu trƣớc đây mới chỉ tập
trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Về vấn đề văn hóa ứng xử trong ca dao, các nhà nghiên cứu mới tập trung
nghiên cứu mảng ứng xử xã hội (Chuyên luận của Trần Thúy Anh: Ứng xử cổ
truyền với tự nhiên và xã hội của người Việt châu thổ Bắc Bộ qua ca dao, tục
ngữ; bài viết của Hà Đan: Từ chữ “nghĩa” trong ca dao, tìm về một nét ứng xử
trong truyền thống văn hóa người Việt; bài viết của Trần Thị Ngân Giang: Nghĩa
của từ “nhịn” trong tiếng Việt và chữ nhịn trong văn hóa ứng xử người Việt),
mảng ứng xử trong gia đình, đạo đức (Đỗ Thị Bảy: Sự phản ánh quan hệ gia
đình, xã hội trong tục ngữ, ca dao; Nguyễn Nghĩa Dân: Tục ngữ ca dao về giáo
dục đạo đức…); về thi pháp biểu hiện trong ca dao ( bài viết của Cao Huy Đỉnh:

11

Nhƣ vậy, vấn đề văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao
ngƣời Việt mới chỉ đƣợc đề cập một cách sơ lƣợc, chứ chƣa đƣợc nghiên cứu
thành hệ thống bài bản. Vì vậy, chọn tên đề tài “Văn hóa ứng xử về tình yêu và
hôn nhân trong ca dao người Việt” là việc làm cần thiết, khoa học, không bị
trùng lặp. Việc làm của chúng tôi sẽ làm nổi rõ văn hóa ứng xử về tình yêu và
hôn nhân trong ca dao Việt, qua việc hệ thống hóa một cách chi tiết và đầy đủ
mảng ca dao tình yêu, hôn nhân trong kho tàng ca dao ngƣời Việt.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài luận văn của chúng tôi có tên là : "Văn hóa ứng xử về tình
yêu và hôn nhân trong ca dao người Việt". Vì vậy đối tƣợng nghiên cứu của
chúng tôi là thái độ ứng xử của nam, nữ trong tình yêu và thái độ ứng xử trong
mối quan hệ hôn nhân. Chúng tôi tập trung làm rõ văn hóa ứng xử của các nhân
vật trữ tình trong ca dao đƣợc biểu đạt. Đó là cách ứng xử nhìn từ quan điểm
giới đẳng cấp xã hội, tầng lớp xã hội, áp lực của dƣ luận, lề thói…, đặc biệt là
cách nhìn của ca dao đối với ngƣời phụ nữ. Trên cơ sở đó, chúng tôi có sự so
sánh cách dân gian đối xử với ngƣời phụ nữ trong chèo cổ, truyện nôm bình dân
cũng nhƣ cách những ngƣời phụ nữ đó ứng xử trong tình yêu, hôn nhân. Từ đó
có thể thấy hôn nhân và tình yêu thể hiện chuẩn mực của xã hội.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Tƣ liệu về ca dao rất dồi dào, phong phú, đa dạng biểu hiện ở nhiều công
trình. Nhƣng với đề tài “Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao
người Việt”, đối tƣợng khảo sát chính của chúng tôi là “Kho tàng ca dao người
Việt” (1995),

13


4 tập, do Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật chủ biên, Nxb Văn hóa thông tin,
H. Ngoài ra chúng tôi có tham khảo thêm“Tổng tập Văn học dân gian người

chú ý đến các phƣơng pháp chủ yếu sau :
Phương pháp thống kê phân loại : Trƣớc hết chúng tôi tiến hành thống kê
toàn bộ số lƣợng những lời ca nói về cách ứng xử trong tình yêu và hôn nhân.
Đó là cơ sở khoa học cho những nhận định, kết luận của luận văn. Qua kết quả
thống kê phân loại chúng tôi có thể rút ra những nhận xét một cách chính xác,
khách quan và khoa học.
Phương pháp phân tích, tổng hợp - bình: Trên cơ sở của việc thống kê,
phân loại, chúng tôi tiến hành phân tích, hệ thống hóa. Dựa vào kết quả của sự
phân tích, chúng tôi sẽ tổng hợp để rút ra những kết luận khái quát. Trong quá
trình đó chúng tôi có sử dụng phƣơng pháp bình. Đây không phải là phƣơng
pháp chủ yếu mà đây chỉ là cách tiếp cận sâu hơn khi cần khái quát tƣ duy của
các tác giả dân gian.
Ngoài những phƣơng pháp cơ bản trên đây, trong quá trình nghiên cứu
chúng tôi còn vận dụng một số phương pháp liên ngành.
6. Dự kiến đóng góp
Việc làm của chúng tôi sẽ làm nổi rõ văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn
nhân trong ca dao Việt, qua việc hệ thống hóa một cách chi tiết và đầy đủ mảng
ca dao tình yêu, hôn nhân trong kho tàng ca dao ngƣời Việt. Bên cạnh đó, góp
phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc để
khẳng định sự bền vững của bản sắc văn hóa dân tộc trong văn hóa ứng xử. Từ

15


đó để ta có cái nhìn đúng đắn về tình yêu, hôn nhân trong cuộc sống hiện đại và
đây là điều thực sự cần thiết cho giới trẻ ngày nay.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục các chữ viết tắt, Tài liệu tham
khảo, Phụ lục, Luận văn này gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Những vấn đề chung

điểm giống nhau (văn hóa Đông Sơn, văn hóa Sa Huỳnh)”. [54, tr 1705]
Tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa không nơi nào không có!”[7]. Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con
ngƣời trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa, nơi nào có con ngƣời nơi đó có
văn hóa.
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá
trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên và xã hội của mình”[60].
Theo nhà nghiên cứu Trần Quốc Vƣợng, định nghĩa về văn hóa có thể tạm
quy ƣớc về hai loại. “Văn hóa hiểu theo nghĩa rộng như lối sống, lối suy nghĩ,

17


lối ứng xử… Văn hóa hiểu theo nghĩa hẹp như văn học, văn nghệ, học vấn… và
tùy theo từng trường hợp cụ thể mà có những định nghĩa khác nhau” [71, tr.22].
Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: “Văn
hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí
tuệ và xúc cảm, quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người
trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống,
những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và
những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân.
Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có
lí tính, có óc phê phán và dấn thân mọt cách đạo lý. Chính nhờ văn hóa mà con
người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa
hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết
mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản
thân” [71, tr.23] . Điều đó cũng có nghĩa là “văn hóa bao gồm tất cả những gì
làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia”.
Nhƣ vậy, có thể thấy rằng: văn hóa là tất cả những giá trị vật thể do con

Theo lời phát biểu của ông De Cuella, nguyên Tổng giám đốc UNESCO
nhân buổi tổng kết thập kỉ văn hóa (1987 – 1997) của Liên Hợp Quốc: “Văn hóa
là cách sống (cách ứng xử) cùng nhau”. Nhƣ vậy nghĩa là nghiên cứu ứng xử
cũng là nghiên cứu văn hóa, cách sống. Ứng xử là hệ thống các quan hệ tƣơng
tác, các phản ứng đƣợc thực hiện bởi các vật thể sống, kể cả con ngƣời để thích
nghi với môi trƣờng.
Có thể nói, văn hóa là toàn bộ những truyền thống hƣớng dẫn hành xử mà
các cá nhân trong một xã hội đƣợc xã hội đó trao truyền bằng những hình thức

19


học tập khác, đa dạng. Điều này cần bắt đầu ngay từ nhỏ, đƣợc nhập thân văn
hóa từ khi còn trong bụng mẹ. Ra đời, đƣợc 12 bà mụ dạy ăn, nói, gói, mở và tự
rèn luyện bằng cách học tập suốt đời. Ứng xử của con ngƣời ở các nƣớc, các
vùng khác nhau thì không giống nhau do nền văn hóa khác nhau. Còn ứng xử
của loài vật thì khắp nơi hầu nhƣ giống nhau vì loai vật không có văn hóa. Điều
này có nghĩa là trong những thời đại khác nhau thì văn hóa ứng xử của con
ngƣời cũng có sự thay đổi.
1.2. Ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong văn hóa Việt Nam
1.2.1. Ứng xử về tình yêu trong văn hóa Việt Nam
Tình yêu và hôn nhân là hai vấn đề hầu nhƣ luôn đi đôi với nhau, gắn bó
và tƣơng quan chặt chẽ với nhau nhƣ một. Tình yêu là một tình cảm thiêng liêng,
cao đẹp của con ngƣời nên tình yêu đòi hỏi cung cách ứng xử cũng phải cao đẹp
để tƣơng ứng với nó. Từ cách xƣng hô đến hò hẹn, cả khi trách cứ giận hờn cũng
phải mang màu sắc đặc thù của tình yêu. Nếu chúng ta xử sự một cách suồng sã
thì dù có yêu nhau đến đâu chăng nữa cũng chỉ là một thứ tình yêu thiếu văn hóa.
Do tình yêu là bản chất thiêng liêng và tự nhiên của con ngƣời cho nên dù
ở thời đại nào, tình yêu bao giờ cũng là đề tài bất tận cho những áng văn chƣơng.
Việt Nam chúng ta từ ngàn xƣa là một quốc gia nông nghiệp. Với hình thể chữ S

Đối với tộc ngƣời Việt việc duy trì dòng dõi là hết sức quan trong, nên khi xem xét
đến con ngƣời trong hôn nhân, trƣớc hết ngƣời ta quan tâm đến khả năng sinh sản
của ngƣời con gái. Vì vậy, kén dâu, lấy vợ thì phải chọn:
“Đàn bà đáy thắt lưng ong
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con”.

21


Ngƣời vợ còn phải đảm đang tháo vát, đem lại nguồn lợi vật chất cho nhà chồng, còn
ngƣời chồng phải là ngƣời tài ba để đem lại vinh quang (nguồn lợi tinh thần) cho gia
đình vợ , nên:
“Trai khôn kén vợ chợ đông
Gái khôn tìm chồng giữa chốn ba quân”.
Đôi khi do sự chi phối của chế độ gia trƣởng phụ quyền, bố mẹ chọn vợ, chọn
chồng cho con lại quan tâm nhiều đến lợi ích kinh tế và địa vị xã hội (môn đăng, hộ
đối).
Trong xã hội ngƣời Việt cổ truyền khá phổ biến hiện tƣợng ép duyên, xuất
phát từ quan điểm hôn nhân vị mƣu sinh. Mặt khác, cũng có quan điểm hôn nhân vị
tình cảm. Có lẽ đây mới là quan điểm chủ đạo, phù hợp với truyền thống trọng tình
của ngƣời Việt. Vì vậy, ép duyên là cách ứng xử có tồn tại trong xã hội song không
đƣợc coi nhƣ một giá trị văn hóa, mà là một hiện tƣợng cần phê phán. Từ những
nhận xét trên ta thấy cách ứng xử bị ảnh hƣởng tƣ tƣởng Nho giáo với những quan
điểm "môn đăng hộ đối", "lấy vợ kén tông, lấy chồng kén giống" tuy có tồn tại
trong xã hội Việt Nam, song nó không bắt rễ sâu chắc nhƣ quan niệm bản địa vốn
trọng tình. Còn trong cuộc sống gia đình, ứng xử trong gia đình ngƣời Việt đƣợc
dựa trên nền tảng tình cảm hết sức vững chắc, tốt đẹp: vợ chồng đầu gối tay ấp. Mối
quan hệ đó thật bền chặt, gắn bó, thiêng liêng và sâu sắc.
Quan hệ vợ chồng là quan hệ gắn bó từ hai phía, phụ thuộc từ hai phía, vì
nhau và luôn cậy nhờ lẫn nhau. “Đạo vợ chồng cư xử với nhau, trọng nhất là hai

xa với gia đình gia trƣởng của Nho giáo, trong đó vai trò của ngƣời vợ hoàn toàn là
phụ thuộc và thụ động. Hiện tƣợng này có thể lý giải đƣợc nếu nhƣ xem xét hoàn
cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam.

23


- Thứ nhất, Nho giáo thâm nhập vào Việt Nam trong điều kiện xã hội Việt
Nam có nhiều nét khác biệt với xã hội Trung Quốc.
- Thứ hai, với nền sản xuất tiểu nông: Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa , vai
trò của ngƣời vợ bình đẳng với ngƣời chồng là hoàn toàn dễ hiểu. Mặt khác, ngƣời
vợ còn là ngƣời quản lý gia đình, chăm sóc con cái, gia súc, trong khi ngƣời chồng
làm các công việc đồng áng khác. Đây là cách phân công lao động phù hợp và hiệu
quả đối với nền sản xuất tiểu nông, là cơ sở để phát sinh truyền thống trọng phụ nữ
của ngƣời Việt. Truyền thống này lại đƣợc bảo lƣu trong môi trƣờng khép kín của
làng quê với lối ứng xử theo kiểu: Phép vua thua lệ làng. Do đó, Nho giáo có thể
thâm nhập vào bề nổi của cuộc sống thông qua các cấp quản lý hành chính, chứ
không bắt rễ sâu vào tâm thức dân gian.
Tóm lại, ứng xử trong hôn nhân của ngƣời Việt có những nét bản sắc trong
văn hóa. Đó là cách lựa chọn đối tƣợng hôn nhân tƣơng hợp dựa trên nhân cách và
tình cảm, là mối quan hệ gia đình bình đẳng, gắn bó giữa chồng và vợ, là vai trò của
ngƣời phụ nữ đƣợc tôn trọng với những cách ứng xử nhằm bảo đảm sự hòa thuận
êm ấm trong gia đình... Đó chính là tinh hoa trong đạo lý sống của ngƣời Việt đƣợc
bảo lƣu qua nhiều thế hệ nhƣ những giá trị trƣờng tồn và mang đậm bản sắc của dân
tộc Việt.
1.3. Văn hóa ứng xử về tình yêu và hôn nhân trong ca dao từ góc nhìn thể
loại
Ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian, là cả một thế giới
muôn màu muôn vẻ, đem đến cho ngƣời dân xƣa và cho chúng ta ngày nay biết
bao tri thức, biết bao bài học trong lao động sản xuất, trong ứng xử, củng cố cho


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status