BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
****************
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA BẢO
HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN CẨM
MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Họ và tên:
Khóa: 2018 - 2020
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số ngành:
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
********************
ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN Ý ĐỊNH THAM GIA
BẢO HIỂM Y TẾ TỰ NGUYỆN CỦA NGƯỜI DÂN
TẠI HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
GTSX
: Giá trị sản xuất
4
5
DANH SÁCH CÁC BẢNG
6
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH
TRANG
7
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề nghiên cứu
Ngày nay xã hội phát triển không ngừng đồng thời việc ô nhiễm môi trường,
thực phẩm bẩn cũng tăng cao khiến chúng ta dễ mắc các bệnh nguy hiểm và chi phí
phải trả cho việc điều trị rất cao, những biến cố rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào
thu hạn chế từ người dân, làm cho quỹ BHYT bội chi, làm cho các bệnh viện quá tải
dẫn đến chất lượng của việc khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT chưa cao. Về các
nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT, chi phí chăm sóc y tế là yếu tố quyết
định quan trọng của mua BHYT. Tuổi, bảo hiểm bệnh tật và kiến thức về bảo hiểm
cũng được tìm thấy ảnh hưởng đến quyết định mua BHYT một cách tích cực. Đối
với số lượng mua BHYT, thu nhập đã được tìm thấy có mối quan hệ đáng kể, cụ thể
là những người có thu nhập cao thì mua BHYT nhiều hơn thu nhập thấp (Yamada et
al., 2009). Số lượng trẻ em trong các gia đình, tuổi tác và nhận thức về chi phí chăm
sóc y tế trong tương lai cũng được tìm thấy ảnh hưởng có ý nghĩa đến việc mua bảo
hiểm (Bhat và Jain, 2006). Ngoài ra, các yếu tố khác tác động lên quyết định mua
BHYT tự nguyện có thể kể đến là yếu tố dân tộc, quy mô hộ, kiến thức về sản phẩm
bảo hiểm trên thị trường, mức độ chấp thuận rủi ro, nhận thức rủi ro, trình độ giáo
dục của chủ hộ (Lammers và Wamerdam, 2010). Với mong muốn áp dụng những
kiến thức đã học vào thực tế, xuất phát từ tình hình thực tế của địa phương,Như vậy,
để đảm bảo BHYT tự nguyện phát huy được đúng tác dụng tích cực giúp cho việc
khám chữa bệnh của người dân được thuận lợi thì việc tìm hiểu về “Các nhân tố
ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân tại huyện
Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai” có ý nghĩa hết sức thiết thực.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện
của người dân tại huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của
9
người dân tại huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
Mục tiêu 2: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y
hiểm y tế luôn được mở rộng quyền lợi. Thay đổi hệ thống BHYT tự nguyện, theo
đó mở rộng hệ thống bảo hiểm cơ bản giá thấp được gọi là MediShield, tức là người
mua bảo hiểm sẽ được bảo hiểm suốt đời (kể cả những người trên 90 tuổi và những
người đã có tiền sử bệnh tật) và được hưởng mức bảo hiểm cao hơn. Người trên 60
tuổi sẽ được nhà nước hỗ trợ nhiều hơn để trả phí bảo hiểm. Ngoài ra, chính phủ
cũng sẽ tăng tiền trợ cấp cho những bệnh nhân ngoại trú bị bệnh nặng.
Còn tại Mỹ chính sách BHYT tự nguyện được thực hiện có thể qua các Công
ty Bảo hiểm tư nhân. Và nước Mỹ cũng thông qua Luật cải cách y tế của Tổng
thống Obama, một trong những quy định của bộ luật này là tất cả mọi người mỹ
phải có bảo hiểm y tế. phần lớn người lao động ở mỹ được chủ lao động đứng ra
bảo hiểm, nhưng cũng có nhiều người không nhận được bảo hiểm ở nơi họ làm việc
nhưng người này thường có thu nhập không cao để tự mua bảo hiểm cho mình,
nhưng thu nhập cũng không quá thấp để đủ điều kiện tham gia chương trình chăm
sóc y tế miễn phí của chính phủ, còn gọi là medicaid. Quốc hội Mỹ đang điều
nghiên để thực hiện bảo hiểm toàn dân. Cần có sự can thiệp để BHYT tự nguyện có
ý nghĩa và đủ giá trị hơn.
Còn tại Đức với một mạng lưới dày đặc các bác sĩ có tay nghề cao, nước Đức
được coi là một trong những nước có hệ thống y tế tốt nhất thế giới đạt được một số
thành tựu quan trọng: Mọi công dân Đức đều có BHYT tự nguyện, sự tiếp cận cũng
như việc cung cấp dịch vụ y tế ngày càng hiện đại… BHYT tự nguyện đã tạo ra
nguồn tài chính công đáng kể cho công tác khám chữa bệnh, góp phần thực hiện
mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đảm bảo an sinh xã hội.
11
1.1.2. Tại Việt Nam
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế (BHYT)
sẽ đạt 90% dân số. Tuy nhiên, đến nay, tỷ lệ bao phủ BHYT đã là 89%, với gần 85
triệu người dân tham gia. Có được thành quả này là nhờ sự quyết tâm và chỉ đạo
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 15/4/1992.
Đây là Hiến pháp được thể chế hóa theo chủ trương đường lối “đổi mới” của Đảng.
Lần đầu tiên phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và cụm từ “bảo hiểm
y tế” đã được đưa vào Hiến pháp nước ta, Điều 39 Hiến pháp 1992 đã quy định:
“Kết hợp phát triển y tế Nhà nước với y tế nhân dân; thực hiện bảo hiểm y tế, tạo
điều kiện để mọi người dân được chăm sóc sức khỏe”. Đây là cơ sở pháp lý quan
trọng cho việc triển khai thực hiện chính sách bảo hiểm y tế sau này.
Trên tinh thần Hiến pháp 1992, chính sách bảo hiểm y tế ở nước ta lần đầu
tiên đã được Hội đồng Bộ trưởng ban hành tại Nghị định số 299/HĐBT ngày
18/8/1992 ban hành Điều lệ BHYT
Qua triển khai thực hiện, hệ thống chính sách bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
nhân dân từng bước được hoàn thiện, thể hiện ở các Nghị định số 58/1998/NĐ-CP
ngày 13/8/1998 (Nghị định 58) và Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005
(Nghị định 63) hướng đến mục tiêu công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và
chăm sóc sức khỏe nhân dân trên cơ sở đóng góp của cộng đồng, chia sẻ nguy cơ
bệnh tật, giảm bớt gánh nặng tài chính của mỗi người dân.
Từ khi luật BHYT được ban hành, quyền lợi của người tham gia BHYT được
nâng lên rõ rệt. Cụ thể, quỹ KCB BHYT sẽ thanh toán 95% chi phí KCB cho các
nhóm đối tượng: người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp bảo trợ
xã hội hàng tháng; người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh
sống tại các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn và đặc biệt khó khăn. Người bệnh
sẽ phải đồng chi trả 5% còn lại. Đối với các đối tượng khác, quỹ sẽ thực hiện thanh
toán 80% chi phí KCB, người bệnh đồng chi trả 20% còn lại. Riêng trường hợp
KCB có sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn thì quỹ BHYT thanh toán theo
các mức như trên, nhưng không vượt quá 40 tháng lương tối thiểu cho một lần sử
dụng dịch vụ đó. Ngoài ra, các nhóm: trẻ em dưới 6 tuổi, người có công, một số đối
13
tại tỉnh Đồng Nai đã đạt con số 1.043.290 người và tiếp tục tăng theo các năm theo
bảng số liệu dưới đây.
Bảng 2. 1: Số người tham gia BHYT và BHYT tự nguyện theo nhóm đối tượng
từ năm 2014 đến năm 2018
Đơn vị tính: người
Chỉ số
Năm
2014
Năm
2015
Năm
2016
Năm
2017
Năm
2018
I.Nhóm có trách nhiệm
1.060.862 1.073.315 1.099.414 1.105.089 1.109.434
tham gia BHYT
1.Người LĐ và người
252.902
3. Ngân sách NN hỗ trợ
383.412
384.974
391.294
391.078
391.775
100%
-Đại biểu QH, HĐND
1.387
1.362
1.303
1.320
1.325
-Chất độc hóa học, người
có công, thân nhân người
50.668
51.913
49.123
48.900
49.100
có cồng
-Bảo trợ XH
13.379
17.265
22.408
22.510
22.525
-Cán bộ xã hưởng trợ cấp
112
106
-Trẻ em dưới 06 tuổi
170.255
186.313
197.025
199.300
201.150
4.NSNN hỗ trợ 1 phần
311.323
307.274
318.805
319.130
319.209
-Cận nghèo
1.220
5.981
11.905
12.150
12.220
-Học sinh sinh viên
310.103
301.293
306.900
306.980
306.989
II. Nhóm tự nguyện tham
123.804
145.303
152.837
172.148
232.250
làm nghề tự do, hộ gia đình nông, lâm, ngư, diêm nghiệp. Các đối tượng tự nguyện
tham gia BHYT cũng tăng nhanh theo các năm nhưng vẫn còn chiếm tỷ lệ rất ít.
Đây chính là khó khăn cho việc thực hiện BHYT toàn dân. Đòi hỏi phải có các biện
pháp mở rộng đối tượng này tham gia BHYT.
1.2. Những nghiên cứu trước đây
16
1.2.1. Những nghiên cứu trong nước
Trong thời gian qua đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, các nghiên cứu,
hội thảo, bài viết về phát triển BHYT nói chung và BHYT tự nguyện nói riêng,
đáng chú ý có một số công trình sau:
Tác giả Trần Nga, có bài viết “ Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện: Điều
chỉnh để tăng hấp dẫn”, Báo Kinh tế Đô thị, ngày 26/7/2018. Trong nghiên cứu tác
giả chỉ ra được hiện có khoảng trên 70% số người lao động trong toàn xã hội chưa
tham gia BHYT, trong đó phần lớn là nông dân, lao động tại nông thôn và lao động
phi chính thức. Đây là nhóm đối tượng tiềm năng để phát triển BHYT tự nguyện.
Tuy nhiên, nhóm đối tượng này lại ít được tiếp cận các thông tin, chính sách về
BHYT tự nguyện.
Thứ trưởng Bộ LĐTB&XH Lê Quân cho biết, hiện nhiều người dân muốn
đóng BHYT tự nguyện nhưng lại ngại chờ đợi tới 20 năm sau mới được hưởng chế
độ. Bên cạnh đó, dù người dân rất quan tâm đến các chế độ hưởng ngắn hạn như ốm
đau, thai sản thì BHYT chỉ quy định 2 chế độ hưởng dài hạn là hưu trí và tử tuất.
Đây là điểm kém hấp dẫn của BHYT tự nguyện với các loại hình bảo hiểm tư nhân
khác. Do vậy, Nghị quyết số: 28-NQ/TW ngày 23 tháng 5 năm 2018 đã đề cập đến
vấn đề giảm dần số năm đóng BHYT tối thiểu để được hưởng lương hưu xuống 15
năm, hướng tới 10 năm với mức tính toán phù hợp, đồng thời từng bước mở rộng
các chế độ hưởng của BHYT tự nguyện.
Tác giả Trần Hà (2017), có bài viết “ BHYT tự nguyện: thị trường lớn, khó
Kinh tế quốc dân. Trong nghiên cứu của mình tác giả đưa ra được: trong nền kinh tế
thị trường, việc tham gia BHYT của các nhóm lao động là cần thiết, nhằm bảo vệ họ
trong những trường hợp giảm hoặc mất thu nhập do giảm hoặc mất khả năng lao
động trong quá trình lao động. Tuy nhiên, để phát triển BHYT phù hợp với các
nhóm lao động khác nhau, nên có sự tổ chức khoa học để thực hiện quản lý được
đối tượng, tập trung được nguồn lực và tạo điều kiện cho mọi hộ gia đình có thể tiếp
cận được tới các dịch vụ xã hội. BHYT có thể thực hiện tới những đối tượng chưa
thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc như lao động ở các doanh nghiệp có dưới 10
lao động (hiện nay là từ 1 lao động trở lên phải tham gia BHYT - NCS), lao động
trong nông nghiệp, nông dân, lao động ở khu vực tiểu thủ công nghiệp. Trong
nghiên cứu này tác giả đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tham gia BHYT tự
18
nguyện đó là: An toàn sức khỏe, Giới thiệu người thân quen, An toàn sức khỏe gia
đình, Giảm thiểu chi phí khi nằm viện.
Tác giả Nguyễn Thị Bích (2016), có nghiên cứu “Phát triển chính sách
BHYT tự nguyện cho người lao động với Bảo hiểm xã hội tự nguyện”, Khóa luận tốt
nghiệp - Đại học Bách khoa Hà Nội. Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích
tìm hiểu nhu cầu, khả năng tham gia của hộ gia đình đối với hình thức BHYT tự
nguyện cũng như thái độ, mong muốn của chính bản thân hộ gia đình đối với
phương thức tham gia, đóng góp và cơ chế hưởng chế độ bảo hiểm sau này. Tác giả
đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển và mở rộng quy mô của hộ gia đình tham
gia BHYT.
Tác giả Hà Thị Thủy Tiên (2016), có nghiên cứu "Yếu tố ảnh hưởng ý định
tham gia BHYT tự nguyện trên địa bàn thành phố Thái Nguyên", Khóa luận tốt
nghiệp kinh tế - Đại học Thái Nguyên. Luận văn đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận
về BHYT tự nguyện. Từ khái niệm BHYT tự nguyện, bản chất, vai trò, nguyên tắc
hoạt động của BHYT tự nguyện, nội dung chính sách BHYT tự nguyện, các nhân tố
hoạch định chính sách về các kế hoạch phát triển trong tương lai. Phương pháp
nghiên cứu quan trọng là một phiếu điều tra được thực hiện trên diện rộng ở nhiều
gia đình. Nghiên cứu này trình bày các thực trạng, chỉ ra các điểm phát triển chính,
các thành công và thất bại, và các thách thức chính mà dự án đang phải đối mặt.
Mossialos and Thomson (2004) trong một nghiên cứu về “Bảo hiểm sức
khỏe tự nguyện ở Liên minh Châu Âu” đã cung cấp thông tin tổng thể về thị trường
bảo hiểm sức khỏe tự nguyện trong Liên minh Châu Âu (EU). Nghiên cứu đánh giá
vai trò của bảo hiểm tự nguyện trong việc cung cấp các cơ hội tiếp cận với chăm
sóc sức khỏe; đánh giá các tác động của nó đến sức khỏe con người và các dịch vụ
đi kèm có thể di chuyển tự do; và phân tích các xu hướng và thách thức trong tương
lai đối với những người đóng bảo hiểm tự nguyện và cho các nhà hoạch định chính
sách cấp quốc gia nói riêng và EU nói chung.
Một nghiên cứu các thể chế trong phát triển an toàn kinh tế thông qua các
hoạt động bảo hiểm xã hội, nhóm tác giả nghiên cứu về sự phát triển của bảo hiểm y
tế tự nguyện, trong vòng 3 năm nghiên cứu đã chỉ ra sự phát triển và các phương
20
pháp bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu về chi phí của những người tham gia trong
điều kiện bệnh tật ngày càng gia tăng, nhu cầu có một kế hoạch chi trả trước cần
được xây dựng trong phạm vi dân cư lớn để đa số người dân có thể hưởng lợi (Klem
and McKiever, 1948).
Các công trình nghiên cứu tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, tuy nhiên, các
công trình nêu trên chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về: “Các nhân tố ảnh
hưởng đến ý định tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của người dân tại huyện Cẩm
Mỹ, tỉnh Đồng Nai ”. Đề tài mà tác giả lựa chọn để nghiên cứu là mới, có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn.
1.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
1.3.1. Điều kiện tự nhiên xã hội huyện Cẩm Mỹ
Xuân Đường, Long Giao có điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh phát triển dịch vụ.
Hình 1. 1.Bản đồ hành chính huyện Cẩm Mỹ
22
Nguồn: (Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Mỹ, 2016)
1.3.1.4. Điều kiện tự nhiên
Địa hình:
Địa hình của Cẩm Mỹ có 03 dạng địa hành là: địa hình núi, đồi thoải lượn
sóng và các dải đất tương đối bằng ven suối.
- Địa hình núi: Phân bố rải rác thành các ngọn núi độc lập có độ dốc lớn
(núi Hàng Gòn, Cam Tiên ở xã Long Giao, chiếm khoảng 2% tổng diện tích toàn
huyện, không thích hợp với sản xuất nông nghiệp chỉ thích hợp cho trồng rừng.
- Địa hình đồi thoải lượn sóng: Là dạng địa hình chính, hiện chiếm khoảng
80% tổng diện tích toàn huyện. Độ dốc phổ biến từ 3 đến 80. Khá thuận lợi cho phát
triển nông nghiệp với các loại hình cây lâu năm nổi tiếng của huyện như: Bơ, cà
phê; sầu riêng, chôm chôm, …
- Địa hình bằng, ven suối: Phân bổ trên các dải dài ven Sông Ray, chiếm
khoảng 18% tổng diện tích tự nhiên toàn huyện, độ dốc chủ yếu là cấp I (từ 0 - 30)
gần nguồn nước mặt, mực nước ngầm, một số khu vực đất thấp thường bị ngập vào
các tháng mưa lớn. Hầu hết diện tích trên dạng địa hình này đã được sử dụng trồng
lúa và các loại cây ngắn ngày.
Khí hậu thời tiết:
- Huyện Cẩm Mỹ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo,
với những đặc trưng như sau:
Năng lượng bức xạ dồi dào (trung bình 154 - 158 Kcal/cm2-năm). Nắng
nhiều (trung bình từ 5,7 - 6 giờ/ngày), nhiệt độ cao đều trong năm (trung bình
25,40C); tổng tích ôn lớn (trung bình 9.2710C/năm). Ít có những biểu hiện cực đoan
lâu năm chủ yếu là đất trồng cây cao su và điều, phân bổ nhiều nhất ở các xã Xuân
Quế, Sông Nhạn, Xuân Đường.
+ Đất trồng cây ăn quả: Diện tích 3.147ha, chiếm 9,10% đất trồng cây lâu
năm, các cây trồng lấy quả trên địa bàn huyện cũng rất đa dạng và có giá trịnh kinh
24
tế cao như: mãng cầu, măng cụt, chôm chôm, sầu riêng, bơ…
Đất trồng cây lâu năm khác: diện tích 377ha, chiếm 1,09% đất trồng cây
lâu năm, bao gồm cây lâu năm xen kẽ cây hàng năm, gắn liền với đất ở thuộc khuôn
viên hộ gia đình trong các khu dân cư và cây trồng lấy gỗ rải rác thuộc hộ gia đình
cá nhân.
Nguồn nước:
- Cẩm Mỹ phần lớn sông suối đều ngắn và dốc nên khả năng giữ nước
kém, nghèo kiệt vào mùa khô. Việc xây dựng các hồ chứa kết hợp với chuyển tải
nước từ ngoài vùng vào là rất cần thiết cho phát triển kinh tế - xã hội mà đặc biệt là
cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp của huyện, với hệ thống sông suối
chính như:
+ Sông Ray: Bắt nguồn từ khu vực phí nam và tây nam núi Chứa Chan,
diện tích lưu vực trong phạm vi huyện Cẩm Mỹ khoảng 300km2 với các nhánh suối
chính như: Suối Gia Hoét, suối Tầm Bò, Suối Trung, Suối Thề…chiều dài sông
chính 60km, đoạn chảy qua huyện 20 - 25km, lưu lượng trung bình 10,6 m2/s ,
ngoại trừ dòng chính có nước quanh năm, đại bộ phận các nhánh suối đều cạn kiệt
vào cuối mùa khô. Trên hệ thống Sông Ray đã xây dựng được các hồ chứa nước
nhỏ như: hồ Suối Vọng, hồ Suối Đôi đã có tác dụng tốt trong việc cung cấp nước
cho sinh hoạt và sản xuất, nhưng do lượng nước được tích trong hồ không lớn, địa
hình vùng tưới bị chia cắt nên phạm vi tưới thường hẹp, chi phí cho tưới khá cao.
Hồ Suối Rang khả năng giữ nước kém nên năng lực tưới rất hạn chế.
+ Các nhánh sông thuộc hệ thống sông Thị Vải: Các nhánh suối này bắt