MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN……………………………………………………...……….2
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………….…………..…….3
NỘI DUNG…………………………………………………………...……..4
CHƯƠNG I: CUNG CẦU HÀNG HÓA……………………….………..4
1. Cầu hàng hóa (Demand-D)…………………………………....….4
2. Cung hàng hóa (Supply-S)…………………………….…………..4
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CUNG CẦU GẠO Ở VIỆT NAM……...5
1. Khái quát chung………………………………………………...…5
2. Xuất khẩu gạo Việt Nam: xưa và nay……………………………..6
2.1. Ngày xưa................................................................................7
2.2. Ngày nay..............................................................................10
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG – CẦU...23
1. Áp dụng “ 3 giảm, 3 tăng”............................................................23
2. Đưa cơ giới hóa vào sản xuất........................................................24
KẾT LUẬN..................................................................................................26
TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................................28
1
LỜI CÁM ƠN
Chúng em xin chân thành cảm ơn:
Ban giám hiệu trường đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, khoa
quản trị kinh doanh.
Giảng viên Hồ Nhật Hưng đã tận tình giảng dạy và hướng dẫn.
Thư viện trường Đại học công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ
tài liệu tham khảo.
Giúp chúng em hoàn thành bài tiểu luận này.
Thay mặt nhóm 7
Nhóm trưởng
Ngô Thị Thanh Thư
2
LỜI MỞ ĐẦU
Cầu hàng hóa là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người mua có khả
năng mua và sẵn sàng mua ở các mức giá khác nhau trong một thời gian
nhất định.
Lượng cầu là tổng số lượng hàng hóa hay dịh vụ mà người mua sẵn sàng
mua và có khả năng mua ở mức giá đã cho trong một thời gian nhất định.
2. Cung hàng hóa (Supply-S)
Cung hàng hóa là số lượng hàng hóa và dịch vụ mà người bán có khả
năng bán và sẵn sàng bán ở các mức giá khác nhau trong một thời gian nhất
định.
Lượng cung là tổng số lượng hàng hóa hay dịch vụ mà người bán sẵn
sàng bán và có khả năng bán ở mức giá đã cho trong một thời điểm nhất
định.
4
C H ƯƠ NG II : THỰC TRẠNG CUNG CẦU GẠO Ở VIỆT NAM
Gạo là một trong những mặt hàng thuộc nhóm hàng lương thực, được sản
xuất và tiêu dùng chủ yếu ở Châu Á. Cũng như các mặt hàng lương thực
khác, Chính phủ các nước luôn có chính sách và khuyến khích tăng cung
trong nước để đảm bảo an ninh lương thực. Do vậy, khối lượng gạo trao đổi
chiếm khoảng 6 – 7% so với sản lượng sản xuất của thế giới. Trong thương
mại thế giới, khối lượng và giá trị buôn bán mặt hàng gạo ở mức tương
đương với lúa mì và chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng giá trị thương mại hàng
hóa.
1. Khái quát chung
Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam kể từ khi thực hiện chính sách đổi mới, sản
lượng lúa gạo đã gia tăng nhanh chóng. Trong 10 năm (1991 – 2001), bình
quân diện tích tăng 1,73%/năm, năng suất tăng 3,2%/năm và sản lượng tăng
5%/năm. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu
gạo hàng đầu thế giới, chiếm khoảng 17% lượng gạo xuất khẩu toàn cầu.
Hiện nay, theo mức kim ngạch xuất khẩu, gạo được xem là một trong những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với giá trị xuất khẩu năm 2002
6
2.1. Ngày xưa...
Hơn một thế kỷ trước, các thương gia Việt Nam đã tổ chức xuất khẩu lúa
gạo. Tác giả Trần Văn Đạo, trên báo Công nghiệp tiếp thị số ngày 12/2/2007
có bài viết <<130 năm trước Việt Nam xuất khẩu gạo như thế nào?>>
Theo sử triều Nguyễn, từ khi lên ngôi, vua Gia Long đã chọn Đà Nẵng
làm cảng biển ngoại giao duy nhất của triều đình. Nhưng từ năm 1802 đến
khi Pháp xâm lược nước ta (năm 1858), có tới 20 lần, tàu Pháp, Anh, Mỹ…
đến Đà Nẵng dâng quốc thư, gửi lên các vua Nguyễn xin thông thương, lập
quan hệ buôn bán, nhưng đều bị khước từ. Với chính sách “trọng nông khinh
thương”, “bế quan tỏa cảng” ấy, mặc dù Tường Tộ, Đặng Huy Tứ, Phạm
Phú Thứ đã dâng sớ lên Vua đề nghị chính sách canh tân đất nước, nhưng
cũng không được chấp nhận.
7
Tuy nhiên, ở Sài Gòn và các địa phương thuộc khu vực Nam bộ vẫn tìm
cách giao thương với các thương nhân nước ngoài. Thời kỳ này, lúa gạo,
hàng tiểu thủ công nghiệp vùng Sài Gòn - Gia Định vẫn phát triển. Sách
“Những vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam” có đoạn: Ở Sài
Gòn - Chợ Lớn, các nghề chế biến nông sản như xay xát lúa gạo, sản xuất
đường, sản xuất các loại bột từ khoai, gạo… các nghề rèn, mộc, đóng
thuyền, dệt nhuộm hoạt động mạnh mẽ. Ở làng Bình Tây, vào đầu thế kỷ
XIX đã có 240 nhóm xay gạo, làm hàng xáo, mỗi nhóm có 5-6 giàn cối xay.
Gạo đã trở thành một mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Nam kỳ thời đó…
Đặc biệt từ đầu những năm 70 của thế kỷ XIX, các thương nhân người
Hoa đã có vai trò quan trọng trong việc thu mua và xuất khẩu gạo ở miền
Nam. Nam kỳ là thuộc địa Pháp, nên các nhà buôn Pháp phải cạnh tranh với
thương nhân người Hoa trong việc xuất khẩu gạo. Sách dẫn trên đã công bố
một tài liệu lịch sử quan trọng, bàn đến các biện pháp bảo đảm gạo và tăng
cường chất lượng gạo Nam kỳ xuất khẩu. Trong đó có “biên bản” cuộc họp
giữa các nhà xuất nhập khẩu người Âu và người Hoa vào ngày 12/9/1874 tại
loại gạo dài: Loại gạo Pye-Chow (có lẽ loại “gạo hoa liên” hạt trong và dài
- chú thích của HT-HA, sách đã dẫn) cũng cùng những điều kiện như gạo
Vĩnh Long.
9
Gạo bán ra không phù hợp với các hợp đồng đã ký sẽ phải bồi thường theo
ấn định của các trọng tài. Gạo làm mẫu sẽ đặt tại Phòng Thương mại, được
sử dụng để đối chiếu trong trường hợp có tranh chấp” (Sách đã dẫn, trang 68
- 69).
2.2. Ngày nay
Theo tổng kết của Xuân Bách, báo Nhân dân số ngày 2/8/2007, trong sáu
tháng đầu năm 2007, xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt hơn 2,3 triệu tấn, kim
ngạch 731 triệu USD, giảm hơn 18% về lượng và gần 6% về trị giá so cùng
kỳ năm trước. Các thị trường nhập khẩu gạo chủ yếu của Việt Nam vẫn tập
trung ở khu vực châu Á (chiếm 76,58%), phần còn lại là châu Phi (14,32%)
và châu Mỹ (5,9%).
Tuy nhiên, giá cước vận tải tăng
nhanh đang là khó khăn rất lớn đối
với hoạt động xuất khẩu gạo của
Việt Nam. Cước luồng châu Á tăng
từ 18-19 USD/tấn lên 26-30
USD/tấn; luồng vận tải đi châu Phi
còn tăng cao hơn, từ 80-90 USD/tấn
lên tới 120-130 USD/tấn, chiếm trên
30% trị giá FOB của loại gạo cao
cấp khi xuất khẩu.
Mặc dù vậy, cho đến thời điểm hiện nay, tổng lượng gạo xuất khẩu đã ký
hợp đồng đạt 4,5 triệu tấn (trong đó các hợp đồng thương mại chiếm khoảng
10
30%). Cụ thể số lượng đã ký có thời gian giao hàng từ ngày 1-7 còn khoảng
2,2 triệu tấn, trong đó có khoảng 100 nghìn tấn giao vào đầu năm 2008.