I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN VN HIN
BIệN PHáP KHáM NGƯờI THEO
LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2019
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN VN HIN
BIệN PHáP KHáM NGƯờI THEO
LUậT Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 8380101.03
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS. PHM MNH HNG
H NI - 2019
1.1.1. Khái niệm ............................................................................................. 6
1.1.2. Đặc điểm............................................................................................... 9
1.2.
Vai trò của việc quy định biện pháp điều tra khám xét ngƣời
trong luật tố tụng hình sự ................................................................ 14
1.3.
Khái quát lịch sử phát triển của quy định pháp luật tố tụng
hình sự về biện pháp khám xét ngƣời từ năm 1945 đến trƣớc
khi có BLTTHS năm 2015 ............................................................... 16
1.3.1. Từ năm 1945 đến trước khi có BLTTHS năm 1975 .......................... 16
1.3.2.
Từ khi có BLTTHS năm 1988 đến trước khi có BLTTHS năm 2003 ..... 19
1.3.3.
Từ khi có BLTTHS năm 2003 đến trước khi có BLTTHS năm 2015 ..... 22
1.4.
Khái quát biện pháp khám xét ngƣời trong pháp luật tố tụng
hình sự của một số quốc gia trên thế giới....................................... 24
1.4.1. Pháp luật Tố tụng hình sự của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ .................. 24
1.4.2. Pháp luật Tố tụng hình sự của Cộng hòa Liên bang Đức .................. 26
1.4.3. Pháp luật Tố tụng hình sự của Liên bang Nga ................................... 29
3.2.
Tăng cƣờng hợp tác quốc tế về áp dụng biện pháp khám xét
ngƣời trong tố tụng hình sự ............................................................. 78
3.3.
Một số giải pháp khác nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp
khám xét ngƣời trong tố tụng hình sự ............................................ 79
KẾT LUẬN .................................................................................................... 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 86
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CQĐT
: Cơ quan điều tra
VKS
: Viện kiểm sát
DANH MỤC BẢNG
phòng, anh ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe cộng đồng”.
Những tư tưởng và quy định này đã đặt ra yêu cầu tất yếu là phải hoàn thiện
pháp luật theo hướng tôn trọng, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Bên cạnh đó, trong tố tụng hình sự các quy định về khám xét người có
vai trò quan trọng trong thực tiễn điều tra. Đây là cơ sở để các cơ quan có
thẩm quyền phát hiện, thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án để có
hướng điều tra đúng đắn, từ đó xác định, làm sáng tỏ sự thật khách quan của
vụ án, rút ngắn thời gian điều tra và nâng cao hiệu quả trong việc giải quyết
vụ án hình sự. Nghiên cứu sự phát triển của luật tố tụng hình sự Việt Nam từ
năm 1945 đến nay cho thấy các biện pháp điều tra hình sự nói chung và biện
pháp khám xét người nói riêng có sự kế thừa, phát triển qua từng thời kỳ. Tuy
nhiên, tình hình tội phạm trong thời gian qua, đặc biệt tại địa bàn thành phố
Hải Phòng với nhiều diễn biến phức tạp, tội phạm ngày càng tinh vi xảo quyệt
về thủ đoạn, phương thức và ngày càng nghiêm trọng về tính chất, mức độ
nguy hiểm, thực tiễn áp dụng Bộ luật tố tụng hình sự tại địa phương đã bộc lộ
những điểm bất cập, hạn chế.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu biện pháp khám xét người trong Bộ luật
1
tố tụng hình sự trên cơ sở số liệu thành phố Hải Phòng, để từ đó có những giải
pháp hoàn thiện pháp luật về biện pháp khám xét người trong tố tụng hình sự,
nâng cao hiệu quả hoạt động áp dụng pháp luật, có ý nghĩa rất quan trọng về
lý luận cũng như thực tiễn. Những phân tích trên đây lý giải cho việc học viên
chọn đề tài “Biện pháp khám người theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn thành phố Hải Phòng)” làm luận
văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm gần đây, biện pháp khám xét người là một biện pháp
Từ những những công trình nghiên cứu được khảo sát trên, có thể nhận
thấy rằng, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về biện pháp khám
xét nói chung và biện pháp khám xét người nói riêng. Tuy nhiên, những
nghiên cứu về đề tài này chủ yếu được thực hiện như một phần nội dung của
sách chuyên khảo, tham khảo, giáo trình và tạp chí khoa học, trong đó chỉ đề
cập một cách tổng thể, khái quát những vấn đề lý luận chứ chưa nghiên cứu
thực tiễn áp dụng biện pháp khám xét người. Hai nghiên cứu chuyên sâu như
hai luận văn trên thực hiện trên cơ sở nghiên cứu Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003, chưa tiếp cận Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đồng thời, hiện nay
chưa có một nghiên cứu nào nghiên cứu thực tiễn áp dụng biện pháp khám xét
người tại thành phố Hải Phòng. Vì vậy, luận văn “Biện pháp khám người
theo Luật tố tụng hình sự Việt Nam (Trên cơ sở số liệu thực tiễn tại địa bàn
thành phố Hải Phòng)” là một đề tài độc lập, không có sự lặp lại. Luận văn
đi sâu vào nghiên cứu để tìm ra những tồn tại, hạn chế, đề xuất giải pháp cho
biện pháp khám xét người người trong luật tố tụng hình sự và thực tiễn áp
dụng tại Hải Phòng.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của nghiên cứu là nhằm góp phần tiếp tục để hoàn thiện một
3
số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về biện pháp khám xét người người
và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp khám xét
người người tại Hải Phòng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra là:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về biện pháp khám xét người;
- Nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành về
chiếu, thống kê số liệu để tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các
vấn đề tương ứng với nghiên cứu của học viên.
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về biện pháp khám xét người trong tố
tụng hình sự.
Chương 2: Biện pháp khám xét người trong Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2015 và thực tiễn áp dụng trên cơ sở số liệu thành phố Hải Phòng.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp
khám xét người
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BIỆN PHÁP KHÁM XÉT NGƢỜI
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm của biện pháp khám xét ngƣời
1.1.1. Khái niệm
Khám xét là một trong những biện pháp điều tra nhằm phát hiện và thu
thập những đồ vật, công cụ, phương tiện phạm tội, tài liệu có liên quan đến vụ
án. Các hoạt động khám xét rất đa dạng bao gồm: khám xét người, ch ở, nơi
làm việc, địa điểm, phương tiện, tài liệu, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện,
bưu phẩm, dữ liệu điện tử. Trong đó, biện pháp khám xét người là một trong
các hoạt động của biện pháp khám xét, mang đầy đủ bản chất, đặc điểm của
biện pháp khám xét. Như vậy, để định nghĩa được khám xét người, trước hết
phải tìm hiểu về khám xét nói chung.
Các hoạt động khám xét đã được quy định trong pháp luật tố tụng hình
sự, được các cơ quan có thẩm quyền thực hiện thường xuyên, tuy nhiên, khái
đồ vật, tài sản do người phạm tội mà có, đồ vật tài liệu khác có liên
quan đến vụ án hoặc phát hiện xác chết hay người đang bị truy nã,
người bị bắt cóc [31, tr.149].
PGS.TS. Nguyễn Ngọc Anh định nghĩa về khám xét trong Cuốn Sổ tay
pháp luật của Điều tra viên:
Khám xét là hoạt động điều tra được quy định trong BLTTHS,
do CQĐT tiến hành bằng cách lục soát người, ch ở, ch làm việc,
địa điểm để tìm kiếm dấu vết tội phạm, thu thập tài liệu, vật chứng
hoặc những đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án [1, tr.102].
Về vấn đề này, TS. Trần Quang Tiệp quan niệm trong sách chuyên
khảo Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế tố tụng hình sự như sau:
7
Khám xét là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do cơ
quan có thẩm quyền áp dụng, hạn chế quyền tự do thân thể, quyền
bất khả xâm phạm về ch ở, bí mật thư tín, điện tín của người bị áp
dụng bằng cách tìm tòi, lục soát người, ch ở, ch làm việc, địa
điểm, đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm nhằm phát hiện,
thu thập công cụ, phương tiện phạm tội, đồ vật, tài sản do phạm tội
mà có, đồ vật, tài liệu khác có liên quan đến vụ án hoặc phát hiện,
bắt người bị truy nã [28, tr. 187].
Các khái niệm về hoạt động khám xét trong các giáo trình và sách
chuyên khảo đã làm rõ hơn về định nghĩa so với các Từ điển; đồng thời, nhấn
mạnh, làm sáng tỏ được bản chất của biện pháp khám xét. Theo đó, bản chất
của hoạt động khám xét là sự tìm tòi, lục soát, cưỡng chế của các cơ quan có
thẩm quyền đối với những đối tượng nhất định.
Tuy nhiên, cách định nghĩa tại các giáo trình, sách chuyên khảo cũng
tồn tại một số điểm hạn chế. Thứ nhất, hạn chế về việc liệt kê các hoạt động
trong các hoạt động khám xét được quy định trong luật tố tụng hình sự; do cơ
quan có thẩm quyền tiến hành bằng cách tìm tòi, lục soát trong người, trong
quần áo đang mặc và đồ vật đem theo, dựa trên căn cứ, thủ tục và trình tự
luật định nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến vụ án
hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm
Khám xét người có một số đặc điểm như sau:
Thứ nhất, khám xét người là biện pháp điều tra trong tố tụng hình sự
có tính hiệu quả, nhằm mục đích phát hiện, thu thập chứng cứ liên quan đến
vụ án hoặc các tài liệu, đồ vật bất hợp pháp khác theo quy định pháp luật.
Khám xét người được quy định tại Điều 194 BLTTHS năm 2015. Theo
đó, khi khám xét người, cơ quan có thẩm quyền tiến hành lục soát, tìm tòi
trong người, trong quần áo đang mặc và đồ vật đem theo của bị can, bị cáo,
9
người bị bắt giữ trong trường hợp quả tang hoặc khẩn cấp, người đang bị truy
nã hoặc người có mặt ở nơi đang bị khám xét mà có căn cứ cho rằng người đó
đang giấu trong người đồ vật cần thu giữ, nhằm mục đích phát hiện, thu giữ
những vật chứng và tài liệu liên quan đến vụ án. Các vật chứng, tài liệu thu
thập được là một trong những cơ sở quan trọng làm căn cứ để xác định có hay
không hành vi phạm tội; nếu xác định được có hành vi phạm tội, cơ quan có
thẩm quyền kịp thời đưa ra những quyết định trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình; từ đó, lập kế hoạch, phương hướng điều tra và tổ chức thực
hiện các hoạt động điều tra phù hợp, từng bước giải quyết và nhanh chóng
làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án hình sự một cách đầy đủ, toàn diện.
Thứ hai, khám xét người là biện pháp điều tra mang tính cưỡng chế
trong tố tụng hình sự
Theo Từ điển tiếng Việt năm 2003, “cưỡng chế là buộc người khác
căn cứ để nhận định trong người của đối tượng khám xét có tài liệu, vật chứng
liên quan đến vụ án; đồng thời, việc khám xét người phải tuân theo trình tự,
thủ tục, nguyên tắc luật định, đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản
của khám xét người sẽ được phân tích ở phần sau.
Đối với những đối tượng bị áp dụng biện pháp khám xét người, bên
cạnh các quyền được pháp luật bảo hộ, còn có nghĩa vụ phải tuân theo các yêu
cầu của lực lượng tiến hành khám xét. Nếu các đối tượng này có hành vi cản
trở, chống đối hoặc không hợp tác thì tùy theo mức độ, tính chất của hành vi
sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, khám xét người phải được tiến hành theo các nguyên tắc nhất định
Như đã phân tích ở những đặc điểm trên, biện pháp khám xét người là
một biện pháp tác động mạnh đến quyền con người, do vậy, khi tiến hành
khám xét người để đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa và hiệu quả của biện
pháp khám xét này, cần tuân thủ theo các nguyên tắc sau:
11
Khám xét người dựa trên nguyên tắc cơ bản bảo vệ quyền con người.
Quyền con người đã được ghi nhận và bảo vệ tại Hiến pháp năm 2013;
BLTTHS năm 2015 cũng coi việc đảm bảo quyền này là nguyên tắc quan
trọng của tố tụng hình sự vì quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân phải được tôn trọng và bảo vệ trong hoạt động tố tụng nói chung và
khám xét người nói riêng:
Khi tiến hành tố tụng, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải tôn
trọng và bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân; thường xuyên kiểm tra tính hợp pháp và sự cần thiết của
những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những
biện pháp đó nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn
một trong các yếu tố nêu trên hoạt động khám xét người sẽ không được diễn
ra; cơ quan có thẩm quyền vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật.
Khám xét người phải đảm bảo yêu cầu về nghiệp vụ là bí mật, bất ngờ,
bảo đảm an toàn cho người thực hiện. Đây là nhân tố cơ bản để hoạt động
khám xét người đạt được mục đích, khi yêu cầu này được thực hiện, tội phạm
sẽ không có cơ hội che giấu, tiêu hủy vật chứng, tài liệu có liên quan đến vụ
án. Để đạt được yêu cầu này, cơ quan thi hành lệnh khám phải giữ bí mật chủ
trương, kế hoạch khám xét người, việc chuẩn bị, triển khai các lực lượng bao
vây, giám sát và tạo được yếu tố bất ngờ khi xuất hiện tại nơi cần khám xét.
Ngoài ra, trong quá trình khám xét, các cơ quan này không được để lộ bí mật
về thành phần, phương tiện, công cụ h trợ, cách thức hiện và các biện pháp
nghiệp vụ đã được áp dụng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác đấu tranh
phòng, chống tội phạm trước mắt và lâu dài.
Trên đây là các đặc điểm cơ bản của khám xét người. Khi nắm vững
được những đặc điểm này, cơ quan có thẩm quyền sẽ dễ dàng phân biệt được
biện pháp khám xét người với các biện pháp điều tra khác, từ đó, vận dụng
13
linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với từng tình huống cụ thể trong thực tiễn hoạt
động điều tra.
1.2. Vai trò của việc quy định biện pháp điều tra khám xét ngƣời
trong luật tố tụng hình sự
Bảo đảm quyền con người được thực hiện trong pháp luật tố tụng hình
sự bằng các phương thức, biện pháp khác nhau. Trong đó, các biện pháp quan
trọng nhất là bằng các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi trong pháp luật tố
tụng hình sự và đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế.
Thứ nhất, đảm bảo quyền con người trong tố tụng hình sự.
Quyền con người là quyền tự nhiên của con người và không bị tước bỏ
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự,
thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác
định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi
phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết
vụ án [24, Điều 86].
Theo khái niệm nêu trên về chứng cứ thì chứng cứ được coi là hợp
pháp khi đáp ứng đầy đủ các thuộc tính khách quan, tính liên quan và tính
được thu thập hợp pháp. Chứng cứ sẽ mất đi giá trị chứng minh nếu thiếu đi
một trong các thuộc tính này. Đặc biệt, thuộc tính được thu thập hợp pháp là
thuộc tính cần được chú trọng, bởi lẽ, nó dễ bị vi phạm nhất. Theo quy định
tại BLTTHS năm 2015, những chứng cứ được thu thập bằng biện pháp do
pháp luật tố tụng hình sự quy định là đảm bảo tính thu thập hợp pháp; còn
những tài liệu được thu thập không phù hợp với các biện pháp luật định thì sẽ
không được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội.
Một trong các mục đích quan trọng nhất của biện pháp khám xét người
là nhằm tìm kiếm, thu thập chứng cứ để là sáng tỏ sự thật khách quan của vụ
án đầy đủ và toàn diện. Vì vậy, việc quy định chi tiết về biện pháp khám xét
người trong BLTTHS năm 2015 sẽ giúp việc thu thập chứng cứ được chính
15
xác, đúng đắn, đảm bảo giá trị chứng minh cho chứng cứ; hơn nữa, việc quy
định cũng đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng biện pháp khám xét người
của cơ quan có thẩm quyền.
Thứ ba, góp phần giải quyết vụ án hình sự kịp thời
Thực tế hoạt động điều tra cho thấy, những tài liệu, vật chứng mà cơ
quan có thẩm quyền thu thập được trong quá trình tiến hành khám xét người
là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng nhất; đóng vai trò quyết định
đến thời gian và hiệu quả của việc giải quyết vụ án hình sự. Qua việc nghiên
luật” [14, Điều 11]; Hiến pháp năm 1959 ghi nhận: “Quyền bất khả xâm
phạm về thân thể của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được bảo
đảm. Không ai có thể bị bắt nếu không có sự quyết định của Toà án nhân dân
hoặc sự phê chuẩn của viện kiểm sát nhân dân.” [15, Điều 27].
Dựa trên tinh thần của Hiến pháp, khám xét người với đặc điểm là biện
pháp có tính cưỡng chế tố tụng hình sự lần đầu tiên được quy định tại Luật số
103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 quy định về quyền tự do thân thể và quyền bất
khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân. Ngày 10/7/1957,
Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 301-TTg quy định chi tiết thi
hành Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 bảo đảm quyền tự do thân thể và
quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân, lần đầu
tiên ghi nhận một số nội dung liên quan đến hoạt động khám xét người với
nội dung cụ thể như sau:
Thẩm quyền khám xét ngƣời trong các trường hợp thông thường
thuộc về: Công tố ủy viên, Phó Công tố ủy viên, Thẩm phán Tòa án nhân dân
tỉnh hoặc thành phố trở lên (được tạm ủy quyền giữ nhiệm vụ công tố); Chánh
án, Phó Chánh án, Thẩm phán Tòa án nhân dân tỉnh hoặc thành phố trở lên
(được ủy quyền làm chủ tọa phiên tòa đối những vụ án đem xét xử tại phiên
tòa ấy); Cục trưởng hoặc Cục phó Cục quân pháp; Công tố ủy viên hoặc Công
tố ủy viên Tòa án binh các cấp, cán bộ công tố (được ủy nhiệm giữ nhiệm vụ
17
công tố); Chánh án, Phó Chánh án, cán bộ thẩm phán (được ủy nhiệm làm chủ
tọa phiên tòa); Những người thi hành lệnh viết của các cán bộ tư pháp nêu
trên [27, Điều 12, 13, 14].
Thẩm quyền khám xét ngƣời trong các trƣờng hợp đặc biệt: Trong
trường hợp phạm pháp quả tang, trường hợp khẩn cấp hoặc có triệu chứng
phạm pháp, trường hợp đang tiến hành điều tra vụ án mà can phạm đang bị tạm