Chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại theo pháp luật Việt Nam : Luận văn ThS. Luật: 60 38 50 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ KHÁNH HÀ

CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2012


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

TẠ KHÁNH HÀ

CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60.38.50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Nhƣ Phát

Hà Nội - 2012

2.2. Chế tài phạt vi phạm: .................................................................................................. 40
2.3. Chế tài bồi thƣờng thiệt hại ........................................................................................ 49
2.4.Tạm ngừng, đình chỉ và hủy bỏ hợp đồng ................................................................... 56
2.5. Các biện pháp khác do các bên thỏa thuận ................................................................. 62
3.Mối quan hệ giữa các chế tài theo luật thƣơng mại Việt Nam ....................................... 63
3.1.Mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thƣờng thiệt hại.............................................. 63
3.2.Về mối quan hệ giữa chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác. ...
.......................................................................................................................... 65
CHƢƠNG III: SO SÁNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ CHẾ TÀI VI PHẠM HỢP ĐỒNG.............................................. 74
I. Chế tài Bồi thƣờng thiệt hại trong thƣơng mại quốc tế qua luật thƣơng mại Việt Nam,
công ƣớc CISG và bộ nguyên tắc Unidroit ....................................................................... 74
II. Sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng thƣơng mại quốc tế: ........................................ 84


CHƢƠNG IV: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ TÀI VI
PHẠM HỢP ĐỒNG. ......................................................................................................... 88
1. Một số kiến nghị nhằm cải thiện Luật thƣơng mại năm 2005 về các chế tài trong
thƣơng mại ......................................................................................................................... 88
2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng Luật thƣơng mại năm 2005 về các
chế tài trong thƣơng mại .................................................................................................... 95
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 98
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................... 99


MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài:
Trong cuộc sống hàng ngày, trong các quan hệ kinh tế, thƣơng mại, hay dân
sự, hợp đồng là một phƣơng tiện quan trọng giúp con ngƣời tạo lập các thoả thuận,
thoả mãn nhu cầu. Sắm đồ vật, sử dụng dịch vụ, tham gia vào hội hay thành lập

nhiều các nhà khoa học quan tâm. Đã có một số sách nghiên cứu về các chế tài do
vi phạm hợp đồng, về hợp đồng dân sự, hợp đồng thƣơng mại nhƣ Giáo trình Luật
thƣơng mại của một số cơ sở đào tạo Luật (Trƣờng đại học Luật Hà Nội, Khoa luật
Đại học Quốc Gia Hà Nội v.v, …), PGS.TS Nguyễn Nhƣ Phát và TS. Phan Thảo
Nguyên Pháp luật thƣơng mại dịch vụ Việt Nam và Hội nhập kinh tế quốc tế,
PGS.TS Phạm Duy Nghĩa Chuyên khảo Luật kinh tế, “Pháp luật về hợp đồng trong
thƣơng mại và đầu tƣ” của TS. Nguyễn Thị Dung , Nxb. Chính trị quốc gia, Hà
Nội … Ngoài các sách chuyên khảo, ở phạm vi và mức độ khác nhau có một số bài
viết, công trình nghien cứu của các nhà luật học bàn về một vài khía cạnh pháp luật
liên quan đƣợc công bố qua các tài liệu, báo cáo và tạp chí chuyên ngành nhƣ
“Hợp đồng thƣơng mại và pháp luật về hợp đồng thƣơng mại của một số nƣớc trên
thế giới” của TS. Vũ Thị Lan Anh Tạp chí Luật học (2008), “Vấn đề áp dụng Bộ
luật dân sự trong điều chỉnh quan hệ hợp đồng thƣơng mại” của TS. Nguyễn Viết
Tý -Tạp chí Luật học (2008), Luận văn thạc sĩ “Chế tài pháp luật – một số vấn đề
lí luận và thực tiễn” của Thạc sỹ Phạm Thị Minh Phƣơng (2009), Khóa luận tốt
nghiệp “Tìm hiểu quy định pháp luật về chế tài trong thƣơng mại” Lê Thị Yến
(2004)… song chƣa có công trình khoa học chuyên sâu nào nghiên cứu về chế tài


do vi phạm hợp đồng thƣơng mại ở bình diện lý luận cơ bản cũng nhƣ thực trạng
ban hành và thực thi pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
-

Đối tƣợng nghiên cứu: Nhƣ một quy luật tất yếu, khi số lƣợng hợp đồng

thƣơng mại gia tang mạnh mẽ thì số lƣợng tranh chấp thƣơng mại phát sinh giữa
các bên trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng cũng tang theo. Vì vậy, pháp
luật về chế tài thƣơng mại đã góp phần đáp ứng yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp
của các bên.

Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về chế tài vi phạm hợp
đồng trong quan hệ dân sự thƣơng mại ở Việt Nam hiện nay
Chƣơng 3: So sánh quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về
chế tài vi phạm hợp đồng
Chƣơng 4: Kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về chế tài vi
phạm hợp đồng


CHƢƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẾ TÀI VI PHẠM HỢP ĐỒNG

I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VÀ HỢP ĐỒNG THƢƠNG
MẠI
Khi xã hội loài ngƣời có sự phân công lao động và xuất hiện hình thức trao
đổi hàng hóa thì hợp đồng đã hình thành và giữ một vị trí quan trọng trong việc
điều tiết các quan hệ tài sản. Hợp đồng là hình thức pháp lý thích hợp và có hiệu
quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hoá - tiền tệ. Ngày nay, phần lớn các
quan hệ xã hội đều đƣợc điều chỉnh bằng hợp đồng. Vai trò và vị trí của chế định
hợp đồng ngày càng đƣợc khẳng định trong mọi hệ thống pháp luật. Trong hệ
thống pháp luật của một quốc gia, pháp luật về hợp đồng giữ vị trí vô cùng quan
trọng. Vai trò trung tâm của hợp đồng trong hệ thống kinh tế và pháp luật không
phải là ngẫu nhiên, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trƣờng, nơi mà mọi hàng hoá,
dịch vụ... phải đƣợc tự do lƣu thông trên thị trƣờng thì vai trò của hợp đồng ngày
càng đƣợc thể hiện rõ hơn, bởi lẽ trong các quan hệ hợp đồng thì ý chí của các bên
mang tính quyết định. Về mặt nguyên tắc, pháp luật tôn trọng ý chí của các bên và
chỉ can thiệp trong các trƣờng hợp mà ở đó có sự giới hạn của pháp luật.
Hợp đồng có bản chất là sự tự nguyện thoả thuận và thống nhất ý chí nhằm
xác lập, thay đổi, hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các chủ thể
trong xã hội. Hợp đồng là căn cứ pháp lý phổ biến làm phát sinh quyền và nghĩa vụ
giữa các bên. Giao kết và thực hiện các hợp đồng chính là cách thức cơ bản để thực
hiện hiệu quả các hoạt động kinh tế.

và bảo vệ.


Chế định hợp đồng luôn tôn trọng sự tự do của các bên giao kết, song sự tự
do đó phải giới hạn trong khuôn khổ pháp luật. Nói cách khác, pháp luật chỉ bảo vệ
những cam kết không xâm hại đến trật tự pháp luật, trật tự công cộng. Xuất phát từ
nguyên tắc cơ bản trong quan hệ dân sự là tôn trọng quyền tự do ý chí của mọi cá
nhân và các chủ thể khác trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật
các nƣớc đều cho phép các chủ thể đƣợc hoàn toàn tự do giao kết hợp đồng, miễn
là không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc hình thành các hạn chế của nguyên
tắc tự do trong ký kết hợp đồng xuất phát từ quan điểm bảo vệ trật tự công và lợi
ích chung của xã hội. Vì vậy, pháp luật sẽ bảo vệ lợi ích và quyền của các bên song
lợi ích này phải không đƣợc xâm hại đến trật tự và lợi ích công.
Thứ ba, chế định hợp đồng mang tính bắt buộc song cũng hết sức linh
hoạt, mềm dẻo.
Điều này không dễ dàng đạt đƣợc nếu nhƣ quy định pháp luật không đƣợc
xây dựng theo hƣớng đề cao tự do ý chí của các bên, pháp luật chỉ can thiệp ở giới
hạn cần thiết. Ở Việt Nam, pháp luật hiện hành không đƣa ra định nghĩa về hợp
đồng thƣơng mại mà chỉ định nghĩa về hợp đồng dân sự. Theo Điều 388, Bộ luật
Dân sự (2005) “Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập,
thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”. Quyền và nghĩa vụ dân sự theo
hợp đồng dân sự đƣợc hiểu bao gồm cả các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các
quan hệ thƣơng mại. Khái niệm hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự (2005) đƣợc
xem là khái niệm chung về hợp đồng trong lĩnh vực thƣơng mại, đầu tƣ kinh
doanh. Về lí luận, hợp đồng trong thƣơng mại là một dạng cụ thể của hợp đồng dân
sự. Tuy nhiên, hợp đồng trong thƣơng mại có những đặc điểm riêng nhất định,
khác với những hợp đồng dân sự thông thƣờng theo cách hiểu truyền thống. Có thể
xem xét hợp đồng thƣơng mại trong mối liên hệ với hợp đồng dân sự theo nguyên
lý mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng. Từ cách tiếp cận này những vấn đề cơ


đồng bằng hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tƣơng đƣơng với văn
bản (hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng đại lý thƣơng mại, hợp đồng
uỷ thác mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ khuyến mại, quảng cáo, hội chợ, triển
lãm thƣơng mại, ...)
Mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận. Mục đích lợi nhuận là đặc
trƣng của các giao dịch thƣơng mại. Tuy nhiên, trong nhiều trƣờng hợp, một bên
của hợp đồng trong thƣơng mại không có mục đích lợi nhuận. Những hợp đồng
này, về nguyên tắc không đƣơng nhiên chịu sự điều chỉnh bởi những quy định
riêng của pháp luật thƣơng mại. Theo khoản 3, Điều 1, Luật Thƣơng mại (2005)
“hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương
nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong
trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp
dụng Luật này” thì sẽ thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Thƣơng mại (2005).
Bộ luật Dân sự (2005) và Luật Thƣơng mại (2005) ra đời đánh dấu bƣớc
phát triển mới của pháp luật về hợp đồng và là sự thống nhất pháp luật về hợp
đồng ở Việt Nam. Các quy định về hợp đồng trong thƣơng mại đó có những thay
đổi cơ bản cả về kỹ thuật lập pháp và nội dung pháp lý. Luật Thƣơng mại (2005) là
nguồn quan trọng điều chỉnh các giao dịch thƣơng mại giữa các thƣơng nhân với
nhau và với các bên có liên quan nhằm triển khai hoạt động kinh doanh… Luật
Thƣơng mại xây dựng trên cơ sở tiếp tục phát triển các quy định mang tính chất
nguyên tắc của Bộ luật Dân sự, cụ thể hóa các nguyên tắc này cho thích hợp để
điều chỉnh các quan hệ hợp đồng trong kinh doanh. Bên cạnh các quy định trong
Bộ luật Dân sự (2005) và Luật Thƣơng mại (2005), một số hợp đồng đặc thù trong
thƣơng mại còn đƣợc điểu chỉnh bởi quy định trong các luật chuyên ngành nhƣ:
Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng, Bộ luật


Hàng hải... Thông thƣờng, ngoài việc phải tuân thủ các quy định chung về hợp
đồng trong Bộ luật Dân sự và Luật Thƣơng mại, mỗi loại hợp đồng cụ thể còn chịu
sự điều chỉnh của các luật chuyên ngành đó. Nguyên tắc áp dụng pháp luật đƣợc

luật, dẫn đến việc áp dụng những nghĩa vụ mới đối với vi phạm - trừng phạt tƣớc
đoạt một số quyền khác, bắt thực hiện những nghĩa vị bổ xung”. Trách nhiệm pháp
lý đƣợc thể hiện qua chế tài của quy phạm pháp luật và gắn liền với sự cƣỡng chế
của nhà nƣớc, thể hiện sự phê phán của nhà nƣớc đối với hành vi vi phạm pháp
luật và với bản thân ngƣời vi phạm. Hơn nữa trách nhiệm pháp lý nhƣ là hậu quả
của việc không thi hành hoặc thi hành không đúng quy định của pháp luật, thể hiện
trong việc áp dụng những biện pháp trừng phạt đối với hành vi phạm, bắt buộc
thực hiện những quy định pháp luật và buộc khôi phục các quyền bị vi phạm.
Quan niệm này có từ rất lâu trong khoa học pháp lý, nó bị ảnh hƣởng bởi
luật dân sự, một ngành luật phát triển từ rất sớm (từ thời cổ La Mã). Những hình
phạt cổ điển đƣợc áp dụng đối với những hành vi trộm cắp, giết ngƣời... đƣợc nâng
lên thành khái niệm hình sự. Cùng với sự phát triển của lịch sử các quan hệ xã hội
mới cũng hình thành và phát triển nhƣ quan hệ hành chính, quan hệ lao động, quan
hệ kinh tế... đã đòi hỏi khoa học pháp lý phải điều chỉnh và đáp ứng kịp thời, do đó
xuất hiện nhiều ngành luật mới nhƣ: Luật Hành chính, Luật Lao động, Luật kinh
tế... lúc này trách nhiệm pháp lý đƣợc mỗi ngành luật đƣa ra thành đối tƣợng
nghiên cứu riêng. Quan niệm trách nhiệm pháp lý là nghĩa vụ phải gánh chịu
những tƣớc đoạt mang tính chất nhân thân hay tài sản tƣơng ứng với hành vi vi
phạm pháp luật theo quy định pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn ngừa
những vi phạm tƣơng tự sẽ xảy ra, giáo dục phòng ngừa ngƣời vi phạm pháp luật,
tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa và kỷ luật lao động, trách nhiệm đó gọi là


“trách nhiệm đối với hành vi đã xảy ra”.
2. Khái niệm và đặc điểm của chế tài trong thƣơng mại
2.1. Khái niệm chế tài trong thƣơng mại
* Theo nghĩa rộng
Theo nghĩa rộng, chế tài trong thƣơng mại đƣợc hiểu là hình thức chế tài đƣợc
cơ quan nhà nƣớc hoặc bên có quyền lợi bị vi phạm áp dụng đối với mọi tổ chức
cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật thƣơng mại. Khi có hành vi vi phạm pháp

mại, việc áp dụng các chế tài đó nhằm đảm bảo các mục đích sau:
(a) Đối với các hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm trật tự quản lí hoạt động
thƣơng mại của nhà nƣớc (ví dụ buôn lậu, trốn thuế…) thì cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền áp dụng chế tài hành chính hoặc chế tài hình sự, nhằm đảm bảo tính
nghiêm minh của pháp luật, bảo vệ lợi ích của nhà nƣớc, xã hội và của chính ngƣời
tiêu dùng;
(b) Đối với các hành vi vi phạm chế độ hợp đồng, chế tài nhằm bảo đảm kỉ
luật hơp đồng, ngăn ngừa mọi vi phạm hợp đồng và trừng phạt bên bị vi phạm.
Tóm lại, theo cách hiểu này chỉ cần chủ thể tham gia pháp luật thƣơng mại có
hành vi vi phạm pháp luật thƣơng mại là đều có căn cứ áp dụng chế tài. Nhƣ vậy
rất dễ dàng để truy cứu trách nhiệm đối với cá nhân, tổ chức tham gia pháp luật
thƣơng mại. Nhƣng nhƣợc điểm của nó là khi áp dụng chế tài, việc phân tích, tìm
hiểu hành vi vi phạm thì rất khó tìm quy phạm điều chỉnh và áp dụng các hình thức
chế tài cụ thể vì pháp luật quy định rất rộng, rải rác trên nhiều văn bản khác nhau.
* Theo nghĩa hẹp


Trong quan hệ giữa các thƣơng nhân, pháp luật thƣơng mại ra đời là cần thiết
để duy trì và bảo đảm sự bình đẳng cho các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng.
Khi một hợp đồng thƣơng mại đã đƣợc giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu lực
pháp luật thì các bên phải thực hiện các nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp
đồng. Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm
phải chịu các hình thức trách nhiệm – chế tài. Đây là khái niệm chế tài hiểu theo
nghĩa hẹp, chế tài chỉ bao gồm các chế tài do vi phạm hợp đồng trong thƣơng mại
mà bên bị vi phạm có quyền đƣợc lựa chọn áp dụng hoặc yêu cầu áp dụng chế tài.
Đó là các biện pháp tác động bất lợi về tài sản của bên có quyền lợi bị vi phạm đối
với chủ thể có hành vi vi phạm cam kết hợp đồng trong thƣơng mại. Nếu một bên
có hành vi vi phạm hợp đồng thì phải gánh chịu những hậu quả pháp lí (bất lợi)
nhất định do hành vi vi phạm đó gây ra. Luật thƣơng mại 2005 quy định các loại
chế tài tại Điều 292 theo đó có các chế tài sau: (a) Buộc thực hiện đúng hợp đồng;

bên vi phạm. Hậu quả bất lợi mang tính chất tài sản thể hiện ở việc bên có hành vi
vi phạm phải nộp một khoản tiền phạt hợp đồng, nộp tiền bồi thƣờng hợp đồng hay
những chi phí cần thiết để thực hiện đúng hợp đồng… Việc áp dụng chế tài hủy
hợp đồng cũng có thể làm phát sinh nghĩa vụ tài sản đối với các bên, đặc biệt là
bên có hành vi vi phạm.
+ Chủ thể lựa chọn và quyết định các hình thức chế tài chính là bên bị vi
phạm trong quan hệ hợp đồng
Những điều khoản các bên đã cam kết trong hợp đồng là điều khoản bắt buộc
phải đƣợc tuân thủ thực hiện, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo
các cam kết đƣợc thỏa thuận trong hợp đồng thì chủ thể đó bị coi là có hành vi vi


phạm hợp đồng. Lúc này bên bị vi phạm có thể áp dụng một hoặc một số chế tài
theo cam kết trong hợp đồng hay theo quy định của pháp luật. Khi bên bị vi phạm
áp dụng các chế tài trong thƣơng mại, nhƣng bên vi phạm không thừa nhận hành vi
vi phạm hay không tuân thủ các biện pháp chế tài đƣa ra thì bên bị vi phạm có thể
làm đơn khởi kiện yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Trong khuôn khổ quy định pháp luật, bên bị vi phạm đƣợc toàn
quyền quyết định việc yêu cầu bên vi phạm thực hiện một phần hay toàn bộ trách
nhiệm tài sản đối với mình. Ví dụ trong hợp đồng thỏa thuận sẽ áp dụng đồng thời
hai chế tài là phạt vi phạm và bồi thƣờng thiệt hại, nhƣng bên bị vi phạm có thể chỉ
áp dụng biện pháp bồi thƣờng thiệt hại mà không áp dụng phạt vi phạm. Tòa án và
Trọng tài đƣợc bên bị vi phạm yêu cầu giải quyết tranh chấp, phải tôn trong quyền
tự định đoạt của bị đơn.
+ Mục đích áp dụng chế tài trong thƣơng mại
Việc quy định các chế tài trong thƣơng mại nhằm bảo vệ quyền lợi của chính
các bên trong quan hệ hợp đồng. Đảm bảo cam kết giữa các bên đƣợc thực hiện,
hoặc đền bù lại những tổn thất đã gây ra cho bên bị thiệt hại do hành vi của bên vi
phạm hợp đồng. Qua đó nhằm giáo dục các bên tham gia hợp đồng tuân thủ pháp
luật và nghĩa vụ phải thực hiện theo thỏa thuận nhằm đảm bảo hợp tác bình đẳng,

Phạt vi phạm hợp đồng là hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng, theo đó bên
vi phạm hợp đồng phải trả cho bên bị vi phạm hợp đồng một khoản tiền nhất định
do pháp luật quy định hoặc do các bên thỏa thuận theo quy định hoặc do các bên
thỏa thuận trên cơ sở pháp luật. Điều 300 Luật thƣơng mại 2005 quy định: “Phạt
vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi
phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách


nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”. Mặc dù cũng là chế tài tiền tệ giống
nhƣ chế tài bồi thƣờng thiệt hại nhƣng phạt vi phạm có chức năng hoàn toàn khác.
Nếu nhƣ chế tài bồi thƣờng thiệt hại nhằm mục đích chủ yếu là bù đắp thiệt hại vật
chất cho ngƣời bị thiệt hại thì phạt vi phạm chủ yếu nhằm răn đe, trừng phạt. Căn
cứ duy nhất để bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả tiền phạt là do hành vi
không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng. Yếu tố lỗi ở đây
chỉ có ý nghĩa suy đoán. Tức là, bên vi phạm có lỗi do việc không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng hợp đồng. Bên vi phạm chỉ cần chứng minh có sự vi phạm
mà không cần phải chứng minh yếu tố lỗi. Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp
đồng đều không đƣợc quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm. Tuy
nhiên, đối với cùng một vi phạm hợp đồng thì bên bị vi phạm chỉ đƣợc quyền lựa
chọn áp dụng một trong hai chế tài là phạt vi phạm hoặc bồi thƣờng thiệt hại, nếu
nhƣ các bên không có thỏa thuận khác. Nói cách khác, việc áp dụng đồng thời hai
loại chế tài này đối với một vi phạm chỉ xảy ra trong trƣờng hợp các bên đã có
thỏa thuận trƣớc trong hợp đồng.
Bồi thường thiệt hại là hình thức chế tài nhằm khôi phục bù đắp những lợi ích
vật chất bị mất của bên bị vi phạm hợp đồng trong kinh doanh. Khoản 1 Điều 302
Luật thƣơng mại 2005 quy định: “Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi
thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm”.
Việc bồi thƣờng thiệt hại chỉ xảy ra khi có đầy đủ 4 yếu tố sau: (a) có hành vi vi
phạm hợp đồng; (b) có thiệt hại thực tế; (c) hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên

2. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”.


Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt hiệu lực từ thời
điểm một bên nhận đƣợc thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh
toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.
Huỷ bỏ hợp đồng là hình thức chế tài, theo ðó một bên chấm dứt thực hiện
nghĩa vụ hợp ðồng và làm cho hợp ðồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết.
Ðiều 312 Luật thƣơng mại quy định:
“1. Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ một phần
hợp đồng.
2. Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các
nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.
3. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp
đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.
4. Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này,
chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện để hủy bỏ
hợp đồng;
b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.”
Khi một hợp đồng bị hủy bỏ toàn bộ, hợp đồng đƣợc coi là không có hiệu
lực từ thời điểm giao kết. Các bên không phải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã
thỏa thuận trong hợp đồng, trừ thỏa thuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi hủy bỏ
hợp đồng và về giả quyết tranh chấp. Các bên có quyền đòi lại các lợi ích do việc
đã thực hiện phần nghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ
hoàn trả thì nghĩa vụ của họ phải đƣợc thực hiện đồng thời; trƣờng hợp không thể
hoàn trả bằng chính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status