Vận dụng quy trình bài học trong mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) vào việc dạy học đọc hiểu văn bản nhật dụng ở lớp 7 : Luận văn ThS. Giáo dục học: 60 14 01 11 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH

VẬN DỤNG QUY TRÌNH BÀI HỌC TRONG MÔ HÌNH
TRƯỜNG HỌC MỚI VIỆT NAM (VNEN) VÀO VIỆC DẠY HỌC
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở LỚP 7

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI- 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH

VẬN DỤNG QUY TRÌNH BÀI HỌC TRONG MÔ HÌNH
TRƯỜNG HỌC MỚI VIỆT NAM (VNEN) VÀO VIỆC DẠY HỌC
ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở LỚP 7

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

Chuyên ngành:Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Ngữ Văn

Mã số: 60 14 01 11

Giảng viên hướng dẫn: TS. Phạm Minh Diệu




DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt

Đọc là

CCGD

Cải cách giáo dục

CT

CT

CNTT

Công nghệ thông tin

GD-ĐT

Giáo dục – đào tạo

GV

GV

HS

HS



DANH MỤC BẢNG BIỂU
TT

Số và tên bảng

Trang

1

Bảng 1.1- Thống kê địa bàn, số lượng GV tham gia phỏng vấn

20

2

Bảng 1.2- Thống kê địa bàn, số lượng HS tham gia khảo sát

21

3

Bảng 1.3- Kết quả phỏng vấn GV về thực trạng dạy học đọc hiểu
23

văn bản nhật dụng
4

Bảng 1.4- Kết quả học tập văn bản nhật dụng của HS lớp 7

MỤC LỤC

Trang

Lời cảm ơn ………………………………………………………......

i

Lời cam đoan………………………………………………………..

ii

Danh mục các chữ viết tắt……………………………………………

iii

Danh mục bảng biểu…………………………………………………

iv

Mục lục …………………………………………………….……….

v

Mở đầu …………………………………………………….………..

1

Chương 1- Cơ sở khoa học của việc vận dụng quy trình VNEN
vào dạy học đọc hiểu văn bản nhật dụng ở lớp 7 …………...

1.2.1- Mục đích, nội dung, PPDH phần đọc hiểu văn bản nhật dụng
ở lớp 7…………………………………………………………..............

16

1.2.2- Khảo sát kết quả dạy học đọc hiểu văn bản nhật dụng lớp 7

19

1.3- Tiểu kết chương 1……………………………………………………

26

Chương 2- Đề xuất vận dụng quy trình VNEN vào dạy học đọc
hiểu văn bản nhật dụng theo CT Ngữ văn 7…………
2.1- Nguyên tắc đề xuất quy trình ………………………………………
2.2- Đề xuất quy trình và khung giáo án bài đọc hiểu văn bản nhật

v

27
27


dụng ở lớp 7…………………………………………………………...

28

2.2.1- Đề xuất quy trình …………………………………………………


3.3.1- Những công việc cụ thể của thực nghiệm……………………

54

3.3.1.1- Thiết kế giáo án ………………………………………..

54

3.3.1.2- Dạy học theo các giáo án thực nghiệm………………..

69

3.3.1.3- Kiểm tra- đánh giá trong thực nghiệm…………………

70

3.3.2- Kết quả thực nghiệm……………………………………………

70

3.3.2.1- Tổng hợp kết quả thực nghiệm…………………………

70

3.3.2.2- Kết quả thực nghiệm đối chứng ………………………..

72

3.4- Tiểu kết chương 3……………………………………………………


quan điểm “nhà trường gắn liền với xã hội”, CT Ngữ văn 7 đã có một số bài
học về văn bản nhật dụng. Loại văn bản này không yêu cầu quá cao về nghệ
thuật văn chương mà chú trọng nhiều vào việc chuyển tải tới người đọc những
vấn đề nóng hổi chất thời sự, cho nên khi dạy học cũng có những thuận lợi và
khó khăn riêng so với những văn bản văn học khác. Trên thực tế dạy học văn
bản nhật dụng, cả thầy và trò đều đang gặp phải những lúng túng nhất định.
1.3. Vì những lí do đó, đề tài này xin chọn vấn đề “Vận dụng quy trình
của bài học trong Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) vào việc dạy
học đọc hiểu văn bản nhật dụng ở lớp 7”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1- Về văn bản nhật dụng và PPDH văn bản nhật dụng
a. Tại nhiều nước trên thế giới, văn bản nhật dụng đã được dạy đại trà
trong các lớp phổ thông. CT ở các nước như: Anh, Ô-xtrây-li-a, Mĩ,…, gọi

1


văn bản này là everyday text (văn bản thường ngày) ; CT của Pháp dùng
thuật ngữ directif (văn bản điều hành) (18, tr. 277- 278).
Theo thống kê sơ bộ của PGS. TS. Đỗ Ngọc Thống, trong CT của Trung
Quốc, Ô-xtrây-li-a (bang Vic-tô-ri-a), Mĩ (bang Ma-sa-chu-set)… có một số
dạng văn bản trong văn bản nhật dụng gồm: thư từ (thư thương mại, thư
riêng, thư điện tử); báo cáo; kiến nghị; tóm tắt; nhận xét; ghi chép; quảng cáo;
lời giới thiệu; thông báo; tóm tắt tiểu sử và tự thuật tiểu sử; lời chúc mừng;
đơn kiện; chỉ thị (huấn thị); thỉnh thị; kế hoạch công tác; điều tra; tổng kết;
hợp đồng…(18, tr. 277-278).
b. Ở Việt Nam, từ năm 1945 đến trước 2000, CT và SGK phân môn Tập
làm văn đã giảng dạy một số văn bản hành chính – công vụ (18, tr. 7-34).
Trước CCGD (1982), CT cấp 1, 2 chủ yếu dạy viết đơn từ, biên bản, thư
từ, sau CCGD, HS được học nhiều kiểu văn bản như: thư, tờ khai in sẵn (lớp

bản khác khi nói về quy trình, cách thức dạy học đọc hiểu, thì chúng ta thấy
có 2 điểm đáng lưu ý:
a- Phần lớn tác giả vẫn chủ trương thiết kế quy trình dạy học đọc hiểu
theo giảng văn hoặc vấn đáp (chẳng hạn, xem 10, tr. 109- 110).
b- Cũng có một số tác giả chủ trương thiết kế thành các “việc” mà GV
cần giúp HS thực hiện. Tuy nhiên, với các thiết kế này, thì cả GV và HS đều
cùng hoạt động như nhau, và đôi khi GV vẫn còn lấn lướt cả công việc của
HS (chẳng hạn xem 11, tập 2, tr.105- 110).
2.2- Vấn đề vận dụng mô hình VNEN vào thực tế dạy học
“Mô hình trường học mới tại Việt Nam” (VNEN), như đã giới thuyết, là
một dự án đang được thực hiện tại các trường đăng kí thí điểm; Bộ Giáo dục và
Đào tạo có chủ trương cho phép các trường không nằm trong dự án có thể học
tập những yếu tố tích cực, phù hợp với cơ sở, địa phương. Chính vì vậy, khi nói
tới vận dụng quy trình VNEN vào dạy học theo CT Ngữ văn hiện hành, chúng ta
cần hình dung có 2 loại hoạt động liên quan đang diễn ra trong thực tế:

3


Một là, việc thiết kế biên soạn tài liệu Hướng dẫn học Ngữ văn 7 vẫn
đang được tiếp diễn theo mô hình VNEN.
Hai là, việc vận dụng mô hình này một cách “tự phát” cũng đang diễn ra
ở nhiều trường phổ thông, với sự khuyến khích của cơ quan chủ quản.
Chúng tôi thấy, việc vận dụng VNEN đối với các trường ngoài dự án là
công việc hoàn toàn khả thi, tuy nhiên, cần có những nghiên cứu khoa học để
công việc đó được đảm bảo chắc chắn về tính hiệu quả.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1- Đối tượng:
Đề tài này chọn đối tượng nghiên cứu là quá trình dạy học văn bản nhật
dụng ở THCS, tập trung vào trọng điểm là quy trình dạy học.

pháp này còn được sử dụng khi nghiên cứu cơ sở thực tiễn, phân tích đặc điểm nội
dung của các bài học về văn bản nhật dụng trong CT Ngữ văn 7, từ đó rút ra
những kết luận cần thiết cho việc đề xuất quy trình dạy học các bài loại này.
5.2- Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm:
a- Quan sát sư phạm là phương pháp được dùng để nghiên cứu quá trình
dạy học, trong đó chủ yếu là hoạt động của GV và HS;
b- Điều tra là phương pháp được sử dụng đẻ tìm hiểu thực trạng dạy và
học các bài đọc hiểu văn bản nhật dụng trong CT.
c- Thực nghiệm là phương pháp sử dụng để dạy học thử nghiệm nhằm kiểm
tra tính khả thi và tính hiệu quả của các quy trình đã được luận văn này đề xuất.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính
của luận văn gồm ba chương:
Chương 1- Cơ sở khoa học của việc vận dụng quy trình VNEN vào dạy
học đọc hiểu văn bản nhật dụng ở lớp 7
Chương 2- Đề xuất vận dụng quy trình VNEN vào dạy học đọc hiểu văn
bản nhật dụng theo CT Ngữ văn 7
Chương 3- Thực nghiệm sư phạm
5


CHƯƠNG 1- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC VẬN DỤNG QUY TRÌNH
VNEN TRONG DẠY ĐỌC HIỂU VĂN BẢN NHẬT DỤNG Ở LỚP 7

1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1- Một số khái niệm
a- Quy trình bài học
Trong Giáo dục học, khái niệm “quá trình dạy học” (Tiếng Anh:
Teaching process) được sử dụng rất phổ biến. Cụm từ này cũng có thể được
dùng theo nghĩa hẹp hơn để chỉ “quy trình dạy học”.

hướng dẫn HS tự xử lí để tiếp cận và chiếm lĩnh tác phẩm một cách sáng tạo.
Do đó tạo được ở chủ thể HS một sự tự phát triển toàn diện” [11, tr.299-300].
b- Đọc hiểu
Đọc hiểu là thuật ngữ được dùng để chỉ hoạt động tiếp nhận văn bản của
bạn đọc là HS trong nhà trường.
Theo GS Trần Đình Sử, “đọc hiểu” là giai đoạn tiếp nối “giảng văn” và
sau đó là “phân tích tác phẩm văn học” trong nhà trường.
Tác giả chỉ ra sáu nội dung của đọc hiểu tác phẩm văn học như sau:
(1) Đọc là hoạt động tâm lí nhằm giải mã văn bản (gồm chuyển mã văn
bản và giải mã văn bản).
(2) Đọc là hoạt động tìm nghĩa, và là hoạt động cảm thụ kết hợp với tư
duy nhằm kiến tạo ý nghĩa.
(3) Đọc là hoạt động mang tính cá thể hoá cao độ, gắn với trình độ, cá
tính, trí tuệ của người đọc.
(4) Đọc là hoạt động sáng tạo.
(5) Đọc là quá trình đối thoại với tác giả và cộng đồng (tính liên chủ thể,
tính hợp tác).
(6) Đọc là xử lí mối liên hệ giữa văn bản đang đọc với trường văn bản
xung quanh (tính liên văn bản, hoạt động liên kết văn hoá) [15].
c- Văn bản nhật dụng

7


Thuật ngữ “văn bản nhật dụng” được đưa vào CT và SGK từ năm 2000.
Theo cuốn Làm văn của PGS TS Đỗ Ngọc Thống (chủ biên), “văn bản ứng
dụng” hay “văn bản nhật dụng” (everyday text) là một trong 6 kiểu văn bản
được đưa vào nhà trường, nhưng không cùng loại với 5 kiểu văn bản khác, vì
bản thân nó bao gồm nhiều kiểu văn bản: văn bản hành chính- công vụ, văn
bản thống kê, quảng cáo; thư, điện chúc mừng, v.v… Nó còn được gọi bằng

Mô hình trường học mới Việt Nam (VNEN) có nhiều nội dung: từ tổ
chức lớp học đến thực hiện dạy học theo quy trình mới, trong đó, quan trọng
nhất là biên soạn và thực hiện tài liệu Hướng dẫn học các bộ môn.
Sau đây là quy trình 5 bước của bài học theo VNEN ở cấp THCS:
(A) Hoạt động khởi động
Mục đích của bước này là giúp HS tạo ra hứng thú để HS bước vào bài
học mới; huy động vốn kiến thức và kĩ năng để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức
và kĩ năng mới.
(B) Hoạt động hình thành kiến thức mới
Mục đích của bước này giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua
hệ thống các bài tập/ nhiệm vụ.
Các tri thức ở hoạt động này thuộc cả ba phân môn trong SGK hiện hành:
Đọc - hiểu, Tiếng Việt và Tập làm văn, được tiến hành theo trình tự sau:
 Đọc văn bản
Mục này yêu cầu HS đọc, có mục Chú thích. GV cần giao nhiệm vụ cho
HS đọc trước ở nhà; đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn và một vài lưu ý
trong chú thích.
 Tìm hiểu văn bản
Sách Hướng dẫn học Ngữ văn thiết kế các bài tập/ nhiệm vụ cho HS khi
tìm hiểu văn bản theo một số hình thức dưới đây:
– Sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập/ nhiệm vụ lớn hơn.
– Thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận.
– Thiết kế các hoạt động kích thích khám phá, sáng tạo....
9


Nội dung các bài tập/ nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêu cầu tìm
hiểu về nội dung, nghệ thuật, đặc điểm thể loại của văn bản.
Các hoạt động của HS trong mục này gồm: hoạt động cá nhân, hoạt động
nhóm, một số trường hợp có thể có hoạt động chung cả lớp.

Các bài tập ứng dụng gồm các loại:
– Vận dụng kiến thức đọc - hiểu để giải thích, phân tích một hiện tượng
văn học, văn hoá khác tương ứng. Ví dụ: giải thích câu tục ngữ, phân tích bài
ca dao, nêu ý kiến về một hiện tượng văn hoá,...
– Vận dụng kiến thức, kĩ năng tiếng Việt để giải quyết một số vấn đề,
như: giải nghĩa, tìm từ loại, xác định cấu tạo từ,... trong các hiện tượng ngôn
ngữ của cuộc sống.
– Tiếp tục rèn luyện kĩ năng tập làm văn.
Phần ứng dụng vẫn có thể sử dụng trong hoạt động trên lớp, nếu thấy cần
thiết và có thời gian; giữa Hoạt động thực hành và Hoạt động ứng dụng có
mối quan hệ linh hoạt, không cứng nhắc.
(E) Hoạt động bổ sung
Mục đích của hoạt động này là tiếp tục mở rộng kiến thức, kĩ năng cho HS.
Nội dung và hình thức bài tập/ nhiệm vụ gồm:
– Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan.
– Trao đổi với người thân về nội dung bài học, như: kể cho người thân
nghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa của câu chuyện,...
– Tìm đọc trên in-tơ-nét một số nội dung theo yêu cầu.
Các nhiệm vụ trong hoạt động bổ sung cũng được thiết kế cho HS tự làm
việc ở nhà. Mục đích của VNEN là đưa các thành viên gia đình và xã hội vào
quá trình học tập của các em; đồng thời, yêu cầu các em sử dụng in-tơ-nét để
kết gắn với xã hội rộng lớn.
Với 5 bước hoạt động trên, sách Hướng dẫn học Ngữ văn 6 VNEN thiết
kế các loại hoạt động của HS bao gồm:
11


a. Hoạt động cá nhân.
b. Hoạt động cặp đôi.
c. Hoạt động nhóm.

của văn bản nhật dụng.
(4) Tính quy phạm: Có thể nói văn bản nhật dụng là phương tiện tác
động riêng lẻ của pháp luật đến các quan hệ xã hội. Do vậy, các văn bản được
ban hành theo chức năng pháp lí là sản phảm của quá trình áp dụng cụ thể các
quy phạm pháp luật trong quản lí nhà nước và trong lĩnh vưc hanh chính xã
hội. Tính quy phạm được thể hiện ở những quy định về nội dung và cách thức
trình bày được coi là khuôn mẫu, bắt buộc mọi người phải tuân theo khi soạn
thảo những văn bản này [18, tr. 280].
Chú ý: Mặc dù nêu 4 đặc điểm của văn bản nhật dụng, nhưng trên thực
tế, chỉ có tính phổ quát và tính thực dụng là những đặc điểm gắn liền với các
loại văn bản nhật dụng. Còn tính thông tin thì chỉ phù hợp với các văn bản
thông tin, tính quy phạm thì phù hợp với các văn bản hành chính- công vụ.
Văn bản thông tin và văn bản hành chính- công vụ là 2 loại chiếm tỉ lệ nhiều
nhất trong văn bản nhật dụng.
b. Các dạng thức của văn bản nhật dụng
Quan niệm về văn bản nhật dụng, văn bản ứng dụng hay văn bản hành
chính… dến nay vẫn còn nhiều điểm chưa thống nhất.
Theo nội dung các thể thức văn bản được dạy trong nhà trường từ Tiểu
học đến THPT, văn bản nhật dụng bao gồm một số kiểu truyền thống và một
số mới được bổ sung:
b.1- Các kiểu văn bản truyền thống gồm các dạng thức văn bản hành
chính- công vụ, văn bản sinh hoạt như: đơn, thư, hợp đồng, biên bản, tường
trình, thông báo, bản tổng kết…
b.2- Một số văn bản bổ sung, gồm:
- Kiến nghị, thư- điện chúc mừng, tin nhắn;
- Kế hoặch cá nhân, thời gian biểu, danh sách lớp;
13


- Quảng cáo, phỏng vấn, bản tin;

b. Mẹ tôi (hồi kí) (tuần 1)
c. Cuộc chia tay của những con búp bê (truyện ngắn) (tuần 2)
d. Ca Huế trên sông Hương (bút kí) (tuần 28)
Xét về mặt văn học, các văn bản trên đều thuộc các thể loại khác nhau
như: truyện ngắn, hồi kí, bút kí; tuy nhiên, chúng đều là những văn bản dùng
trong “nói viết hàng ngày”, mang tính thực dụng cao nên sách Hướng dẫn GV
gọi là văn bản nhật dụng [14, tập 1, tr. 6].
1.1.4- Đặc điểm tâm sinh lí HS lớp 7 liên quan đến việc áp dụng quy
trình bài học VNEN vào dạy đọc hiểu văn bản nhật dụng
Theo các nhà Tâm lí học sư phạm, HS THCS nói chung và HS lớp 7 nói
riêng có những đặc trưng tâm lí rất rõ rệt. Đây là lứa tuổi vừa bước qua thời
thơ ấu, đang chập chững bước vào cuộc đời. Người ta thường gọi đây là “tuổi
teen”- lứa tuổi dậy thì, tuổi vị thành niên, tuổi của nhiều mộng mơ, nhiều thay
đổi đột biến về tính cách…
Về tri giác, HS THCS nói chung và lớp 7 có độ nhạy cảm tốt hơn so với
lứa tuổi tiểu học. Các em dễ dàng nắm bắt những khía cạnh tinh tế của tình
cảm, qua các hành vi, lời nói. Từ đây có thể suy ra rằng, HS lớp 7 có thể nhận
biết tốt hơn về những quy định, tính quy ước của văn bản, cũng như nhận biết
tính thiết thực của các văn bản nhật dụng.
Về tư duy, HS lớp 7 thuộc lứa tuổi vị thành niên, một mặt có thể hiểu
biết các tri thức pháp luật, văn hóa- xã hôi thể hiện trong văn bản nhật dụng,
nhưng mặt khác vẫn chưa đủ khả năng để làm chủ các tri thức đó. Đây là giai
đoạn tư duy của các em dễ có những biến động, các em đang tìm hiểu thế giới
xung quanh một cách tích cực, tuy vậy nêu không được định hướng đúng đắn,
nhận thức của các em về thế giới xung quanh dễ dẫn đến những điều cực
đoan. Đối với một số em, tri thức sách vở giúp các em có hiểu biết nhiều về
cuộc sống, nhưng vẫn thiếu rất nhiều kinh nghiệm, sự từng trải cần thiết để

15




hàng ngày của các em. Đó là do bản chất ước lệ và cách điệu của hình tượng
nghệ thuật, trong chừng mực nhất định, cần phải khái quát hóa, trừu tượng
hóa theo phương pháp của nghệ thuật để hình tượng đạt tới những giá trị phổ
cập hơn. Cho nên, nếu chỉ quan tâm đến văn bản nghệ thuật thuần túy sẽ dẫn
đến thiếu sót như vừa nêu. Hơn nữa, những văn bản nhật dụng được đưa vào
CT không phải là những tác phẩm thiếu tính nghệ thuật.
Ngoài những mục đích chung, mỗi văn bản nhật dụng được đưa vào CT
còn có một mục đích riêng.
Văn bản Cổng trường mở ra ghi lại tâm trạng của một người mẹ trong
một đêm chuẩn bị cho con bước vào ngày khai trường đầu tiên. Bài học này
giúp HS tìm hiểu và phân tích tâm trạng người mẹ, qua tâm trạng này mà thấy
được tình cảm và tấm lòng người mẹ đối với con cái, từ đó HS liên hệ với
chính bản thân.
Văn bản Mẹ tôi là một bài văn mang tính dạng truyện nhưng lại dưới
dạng một bức thư. Có chuyện xảy ra nhưng phần chính vẫn là tâm trạng và
những suy nghĩ của người bố qua bức thư gửi cho con- người đã phạm lỗi.
Bài học này giúp HS thấy được công lao và tình cảm của người mẹ có ý nghĩa
thế nào đối với người con cái. HS có thể tự liên hệ và kiểm tra thái độ và tình
cảm của bản thân đối với cha mẹ của mình.
Văn bản Cuộc chia tay của những con búp bê có đề tài quyền trẻ em. Bài
học giúp HS thấy được những tình cảm chân thành, sâu nặng của hai anh em
trong câu chuyện; cảm nhận được nỗi đau đớn, xót xa của những bạn nhỏ
chẳng may rơi vào hoàn cảnh gia đình bất hạnh, đồng thời biết cảm thông với
những người bạn ấy.
Văn bản Ca Huế trên sông Hương giới thiệu sản phẩm văn hóa của một
địa danh nổi tiếng với dòng sông Hương thơ mộng. Văn bản này giúp HS thấy
được vẻ đẹp của một sinh hoạt văn hóa ở Cố đô Huế, một vùng dân ca với
những con người rất đỗi tài hoa.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status