MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 68

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
NHỎ VÀ VỪA CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1: Tín dụng đối với DNNVV của ngân hàng thương mại.
1.1.1: Vai trò của DNNVV.
1.1.1.1: Quan niệm về DNNVV và tiêu chí xác định DNNVV.
Doanh nghiệp nói chung, DNNVV nói riêng là một lực lượng không thể
thiếu trong nền kinh tế của tất cả các quốc gia.
Ở Việt Nam theo Luật doanh nghiệp: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định
của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh”.
Hiện nay các nền kinh tế trên thế giới có rất nhiều loại hình DN hoạt động
với nhiều lĩnh vực khác nhau, phong phú và đa dạng. Nếu chúng ta căn cứ vào
quy mô hoạt động để phân loại thì DN được chia làm hai loại : Doanh nghiệp
lớn; Doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Đối với mỗi quốc gia việc xác định quy mô DNNVV chỉ mang tính chất
tương đối, vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển của mỗi
nước, tính chất ngành nghề, điều kiện phát triển hay mục đích phân loại doanh
nghiệp trong từng thời kỳ, nhìn chung trên thế giới một DN được xếp vào loại
DNNVV chủ yếu dựa vào hai tiêu chí:
Tiêu chí định tính:
Được xây dựng dựa trên các đặc điểm cơ bản của DNNVV như trình độ về
chuyên môn hoá còn thấp, mức độ phức tạp trong quản lý ít…Nhưng trên thực
tế các tiêu chí này thường rất khó xác định, do vậy chúng chỉ dùng để tham
khảo, kiểm chứng mà ít được sử dụng để xác định quy mô DNNVV.
Tiêu chí định lượng:
Được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu về số lượng như: Số lượng lao động;
Tổng giá trị tài sản; Doanh thu hay lợi nhuận của DN, các tiêu chí định lượng có
vai trò quan trọng trong việc xác định quy mô DN, vào các thời kỳ khác nhau
các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề, mặc dù giữa chúng vẫn có
những yếu tố chung nhất định.
Các nước trên thế giới có các tiêu chí khác nhau để xác định DNNVV, các

và doanh thu dưới 1 tỷ đồng, DN vừa là các DN có số lao động từ 50 đến 200
người, có tổng vốn và doanh thu từ 1 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng.
Thời kỳ 1998 - 2001 tại công văn số 681/CV- CP ngày 20/06/1998 của Thủ
tướng Chính Phủ, quy định tạm thời về tiêu chí xác định DNNVV như sau: Các
DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ và có số lao động bình quân dưới 200 người được
xếp vào loại DNNVV.
Từ năm 2001 đến nay để khuyến khích và tạo thuận lợi cho các DNNVV
phát triển, ngày 23/11/2001 Chính Phủ đã có Nghị định số 90/NĐ-CP của Chính
phủ về trợ giúp phát triển DNNVV: Theo đó “DNNVV là các cơ sở sản xuất,
kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có số vốn
đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc có số lao động bình quân hàng năm không
quá 300 người”.
Theo Nghị định này tất cả các DN; Hợp tác xã; Cơ sở sản xuất thuộc mọi
thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh, thoả mãn một trong hai tiêu chí về
vốn hoặc lao động đều được coi là DNNVV.
Các tiêu chí này tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt
Nam , nhưng vẫn chưa được cụ thể và sát thực tế, như chỉ tiêu về vốn đăng ký
ban đầu khi đăng ký kinh doanh thường khác xa so với vốn thực tế đưa vào kinh
doanh vì hàng năm DN thường bổ xung thêm vốn nhưng rất ít DN đăng ký bổ
xưng tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Còn chỉ tiêu lao động bình quân cũng
chưa có sự thống nhất, là số lao động thường xuyên, lao động thời vụ hay lao
động có đóng bảo hiểm xã hội.

1.1.1.2. Phân loại DNNVV

Từ các quan niệm và tiêu chí xác định DNNVV, ta thấy nó không đơn thuần
phản ánh quy mô của DN mà nó còn bao hàm cả nội dung kinh tế, tổ chức sản
xuất và quản lý, khoa học và công nghệ. Tuỳ theo trình độ và xu thế phát triển
mà các nước có nhiều tiêu thức khác nhau để phân loại DNNVV, dưới đây là
một số cách phân loại phổ biến hiện nay.

* Vốn đầu tư ít, thời gian thu hồi vốn nhanh, vì vậy đẩy nhanh tốc độ vòng
quay vốn, giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, giúp DNNVV nhanh
chóng đổi mới thiết bị, công nghệ phù hợp.
Khó khăn
Bên cạnh các lợi thế các DNNVV, xuất phát từ chính những đặc điểm của
loại hình DN này đã làm cho các DNNVV còn gặp nhiều khó khăn:
* Vốn chủ sở hữu thấp, lợi nhuận giữ lại tái đầu tư ít, hạn chế khả năng mở
rộng sản xuất kinh doanh.
* Khả năng tiếp cận các nguồn vốn thương mại gặp khó khăn:
Các DNNVV khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng NHTM do tài sản thế chấp ít
hoặc chưa đủ điều kiện thế chấp, không có người bảo lãnh, chưa đủ uy tín để
ngân hàng cho vay tín chấp.
Huy động vốn qua thị trường chứng khoán cũng rất khó thực hiện, do tâm lý
các nhà đầu tư còn ngần ngaị khi bỏ vốn đầu tư.
Vì vậy các DNNVV thường huy động vốn thông qua các hình thức như;
vay vốn từ bạn bè, người thân, hoặc từ chính những người lao động trong DN
để tổ chức sản xuất kinh doanh.
* Nguồn nhân lực trong các DNNVV có trình độ, tay nghề thấp, do điều kiện
làm việc cũng như các ưu đãi khác còn hạn chế, nên khó thu hút lao động có
trình độ, tay nghề cao dẫn đến năng suất lao động còn thấp, chất lượng sản
phẩm không cao, hạn chế khả năng cạnh tranh.
* Trình độ quản trị doanh nghiệp của các chủ DNNVV còn thấp, nhiều chủ
DN tư nhân thiếu năng lực quản lý, trình độ chuyên môn rất hạn chế, chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm, không đủ khả năng để xây dựng dự án, phương án sản
xuất kinh doanh, hạch toán kinh tế mang nặng kiểu gia đình, thiếu minh bạch,
chưa tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
1.1.1.4: Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế thị trường
DNNVV có vai trò quan trọng trong hoạt động tín dụng của NHTM góp
phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
* Vai trò của DNNVV đối với nền kinh tế:

Đặc điểm chung của DNNVV là hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng
nhiều lao động, do đó đã tạo việc làm cho người lao động, giải quyết tốt các vấn
đề xã hội, mang lại lợi ích cho cộng đồng dân cư.
* Nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo, thực hiện
công bằng xã hội.
Phát triển DNNVV tại thành thị cũng như các vùng nông thôn sẽ phát huy
được lợi thế của từng vùng và đều góp phần tăng thu nhập của các tầng lớp dân
cư, rút ngắn sự khác biệt về thu nhập giữa các vùng.
* Tạo môi trường thuận lợi để phát triển các tài năng kinh doanh.
DNNVV làm xuất hiện nhiều tài năng trong kinh doanh, một bộ phận cán bộ
trong các DNNVV đã qua thử thách và được đào tạo, chọn lọc trở thành các
doanh nhân tiêu biểu biết cách làm giầu cho bản thân và xã hội.
*Vai trò của DNNVV đối với hoạt động tín dụng của NHTM
DNNVV phát triển sẽ tạo ra thị trường rộng lớn, đầy tiềm năng cho hoạt
động của các NHTM.
Trong nền kinh tế thị trường cạch tranh giữa các NHTM để mở rộng thị
phần tín dụng, bằng cách giữ chân khách hàng truyền thống và thu hút khách
hàng mới diễn ra quyết liệt. DNNVV đã và đang là đối tượng khách hàng mục
tiêu, mang lại nhiều tiềm năng về doanh thu cho các NHTM từ hoạt động cấp
tín dụng và hoạt động cung cấp các dịch vụ ngân hàng khác cho các DNNVV
như bảo lãnh, tư vấn, thanh toán, chuyển tiền…
Hiện nay các DNNVV đang phát triển nhanh về số lượng và chất lượng , để
thuận tiện cho hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là trong khâu thanh toán, các
DNNVV đều mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại hệ thống NHTM, do có sự
chênh lệch về thời gian gửi và thời gian thanh toán nên trên tài khoản tiền gửi
của khách hàng thường có số dư và được NHTM trả lãi xuất không kỳ hạn,
ngân hàng được phép sử dụng nguồn vốn này, vì vậy đã tạo nên một nguồn vốn
rẻ cho NHTM hoạt động, làm gia tăng lợi nhuận.
1.1.4.5. Vốn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa
Vốn là một trong những nhân tố quan trọng và quyết định hoạt động của

dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu sang
người sử dụng, để sau một thời gian thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá
trị ban đầu. Như vậy khó có thể đưa ra một khái niệm cụ thể về tín dụng. Song
tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu mà ta có thể xác định nội dung của thuật ngữ
này.
Tín dụng không chỉ là hình thức vận động của vốn tiền tệ mà còn là một loại
quan hệ xã hội mà trước hết là lòng tin, sau đó là sự bảo trợ bằng pháp luật của
Nhà nước. Nhưng không phải tín dụng phản ánh mọi quan hệ xã hội mà nó chỉ
phản ánh các quan hệ xã hội biểu hiện các quan hệ vay mượn. Tín dụng biểu
hiện các quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình phân phối lọai vốn tiền tệ theo
nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
- Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ vay muợn giữa ngân hàng và các tổ chức,
doanh nghiệp và cá nhân theo nguyên tắc sử dụng vốn đúng mục đích, hoàn trả
đúng hạn cả gốc và lãi.
Các chủ thể trong nền kinh tế thị trường luôn ở một trong hai trạng thái, hoặc
là tạm thời thừa vốn, hoặc là tạm thời thiếu vốn, vì vậy để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn trong toàn xã hội, tín dụng ngân hàng là hình thức phổ biến và có vai
trò là kênh dẫn vốn hiệu quả từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn của nền kinh tế.
* Các hình thức tín dụng ngân hàng ngân hàng
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng ngân hàng rất đa dạng và
phong phú, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, tuỳ theo mục đích
nghiên cứu và quản lý, người ta có thể căn cứ vào các tiêu thức khác nhau để
phân loại.
Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được chia thành 3 loại
Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay đến 12 tháng. Tín
dụng ngắn hạn để cho vay bổ sung vốn lưu động cho các DN, cũng như nhu cầu
sản xuất, chi tiêu ngắn hạn của các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay trên 12 tháng đến 60
tháng. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status