1
Luận văn tốt nghiệp
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH
BẮC NINH
I. PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU ĐẶT RA CHO
CÔNG TÁC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG VÀ QUẢN LÝ XUẤT KHẨU
LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC NINH TRONG THỜi GIAN TỚI.
1.1. Mục tiêu của công tác xuất khẩu lao động trong các năm tới.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động mang tính chiến lược của nước ta nói
chung và của Bắc Ninh nói riêng trong thời gian tới. Chính vì thế, Đảng và
chính quyền tỉnh Bắc Ninh xác định nhiệm vụ trước mắt của tỉnh là năm 2007
phấn đấu đưa được từ 3000 đến 4000 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài.
1.2. Một số triển vọng cho công tác xuất khẩu lao động.
Đối với các thị trường truyền thống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan,
Malaysia trong thời gian tới vẫn có nhu cầu tương đối lớn về lao động, ngoại
trừ Malaysia các thị trường còn lại đều được dự báo sẽ tăng lượng xuất khẩu
lao động trong năm 2007 và vài năm tới.
Đối với các thị trường mới như các nước Qatar, Saudi Arabia, các tiểu
vương quốc Ả Rập,… trong năm 2007 có thể thu hút hàng chục nghìn lao
động.
II. MỘT SỐ GIẢi PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN
CÔNG TÁC QUẢN LÝ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG CỦA TỈNH BẮC
NINH.
2.1. Giải pháp cho các cơ quan quản lý nhà nước về công tác xuất khẩu
lao động.
Có rất nhiều giải pháp trong trường hợp này mà chủ yếu là nhằm nâng cao
vai trò và hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với hoạt động xuất khẩu lao
động.
2.2. Giải pháp từ phía các doanh nghiệp.
1
1 Điều 1- Nghị định số 152/1999/NĐ – CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
2
3
Luận văn tốt nghiệp
Khái niệm thứ hai về xuất khẩu lao động được ghi trong chỉ thị số 41 –
CT/TW ngày 29/9/1998 của Bộ chính trị như sau:
Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt động kinh tế- xã hội góp phần
phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, tạo thu nhập và nâng cao trình
độ tay nghề cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước và tăng cường
quan hệ hợp tác quốc tế giữa nước ta với các nước.
Một khái niệm nữa của xuất khẩu lao động là:
Xuất khẩu lao động là một hình thức đặc thù của xuất khẩu nói chung và là
một bộ phận của kinh tế đối ngoại, hàng hoá đem xuất khẩu là sức lao động
của con người, còn khách mua là chủ thể người nước ngoài. Nói cách khác
xuất khẩu lao động là một hoạt động kinh tế dưới dạng dịch vụ cung ứng lao
động cho người nước ngoài, mà đối tượng của nó là con người.
2
Như vậy xuất khẩu lao động là một hoạt động xuất khẩu đặc biệt trong đó
hàng hoá được giao bán là sức lao động của con người, chính vì vậy nhà nước,
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng như chính bản thân người lao động
cần phải hết sức chú ý tới hoạt động này, nó không chỉ mang lại thu nhập cao
cho người lao động mà còn đóng một vai trò rất lớn trong sự phát triển của
mỗi quốc gia.
1.2. Vai trò của xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình
phát triển của mỗi quốc gia đặc biệt là những nước có nền kinh tế chậm và
đang phát triển như Việt Nam.
Trước hết, xuất khẩu lao động có một vai trò đặc biệt trong việc giải quyết
nghèo của đất nước nhờ có khoản thu nhập cao hơn rất nhiều so với mức
lương ở trong nước điển hình như thu nhập bình quân của lao động tại
Malaysia là 2 – 3 triệu đồng / 1 tháng, tại Đài Loan là 300 – 500 USD/tháng,
tại Hàn Quốc là 900 – 1.000 USD/ tháng.
(Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ Lao động Thương binh & Xã hội.)
Với mức thu nhập như vậy, hàng tháng ngoài chi phí cho ăn ở người lao
động cũng tiết kiệm và gửi về cho gia đình một khoản thu nhập kha khá, đó sẽ
là nguồn thu nhập giúp họ cải thiện cuộc sống của gia đình và bản thân. Hơn
thế nữa, một số lao động sau khi trở về nước lại trở thành những ông chủ,
những nhà đầu tư nhờ có nguồn vốn tiết kiệm được từ khoản thu nhập ở nước
ngoài. Điều này không chỉ góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
trong nước mà còn tạo ra một khối lượng việc làm đáng kể cho những người
khác.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
4
5
Luận văn tốt nghiệp
Với con số ngoại tệ gửi về nước mỗi năm lên đến 1,5 tỷ USD xuất khẩu lao
động ở Việt Nam đã trở thành một trong những ngành nghề mang lại nguồn
thu ngoại tệ cao cho quốc gia. Không dừng lại ở đó, xuất khẩu lao động còn
góp phần làm tăng thu ngân sách nhà nước nhờ có những khoản thuế thu từ
hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động và từ khoản ngoại tệ lao
động gửi về nước.Như vậy, xuất khẩu lao động vừa trực tiếp lẫn gián tiếp góp
phần thúc đẩy sự phát triển và ổn định xã hội.
Xuất khẩu lao động còn là một trong những công cụ hữu hiệu cho việc
chuyển giao công nghệ tiên tiến hiện đại của nước ngoài thông qua quá trình
đào tạo và làm việc ở nước ngoài của người lao động.Thông qua đó quốc gia
có lao động đi xuất khẩu sẽ có được một đội ngũ lao động có tay nghề trình độ
cao, có tác phong công nghiệp và ý thức kỷ luật cao.
Hoạt động xuất khẩu lao động cũng là cầu nối để quốc gia tăng cường quan
nhập khẩu là một hoạt động mang tính chất hết sức quan trọng, nhờ có xuất
nhập khẩu mà hàng hóa và dịch vụ trên toàn thế giới được lưu thông, trao đổ.
Xuất khẩu lao động cũng là một hoạt động như thế, vậy nó cũng là một hoạt
động xuất nhập khẩu song là một hoạt động xuất nhập khẩu đặc biệt. Điểm
đặc biệt là ở chỗ thay vì xuất nhập khẩu các loại thực phẩm hàng hóa tiêu
dùng... như bình thường thì “hàng hóa” được xuất nhập khẩu ở đây là sức lao
động của người lao động.
Trong hoạt động xuất khẩu lao động, người lao động sẽ đem “bán” sức lao
động của mình cho chủ sử dụng lao động ở nước ngoài và nhận về khoản tiền
công là tiền lương được trả. Chính vì sức lao động là một loại hàng hóa đặc
biệt nên tính chất của xuất khẩu lao động không chỉ đơn thuần như hoạt động
xuất nhập khẩu hàng hóa thông thường, tranh chấp về hàng hoá giữa các nước
đã là một việc khó giải quyết bao nhiêu thì tranh chấp và những vi phạm trong
việc xuất khẩu lao động giữa các nước lại càng khó giải quyết và xử lý hơn rất
nhiều.Bởi đó mà đòi hỏi phải có sự quản lý và quan tâm đặc biệt của Nhà
nước.
Xuất khẩu lao động mang tính lợi ích cao.
Xuất khẩu lao động trước hết mang lại lợi ích cho nước đưa lao động đi
xuất khẩu cả về phía nhà nước, doanh nghiệp và bản thân người lao động.
Đối với quốc gia hoạt động xuất khẩu lao động mang lại một khoản thu cho
ngân sách nhà nước nhờ khoản thuế thu từ hoạt động của các công ty, doanh
nghiệp xuất khẩu lao động và khoản ngoại tệ người lao động gửi về nước.
Hơn nữa, đối với quốc gia xuất khẩu lao động còn giúp giải quyết việc làm,
giảm thiểu thất nghiệp, thông qua xuất nhập khẩu đẩy nhanh được tiến trình
phát triển đất nước và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.
Đối với các doanh nghiệp, công ty xuất khẩu lao động: hoạt động xuất khẩu
lao động mang lại lợi nhuận trước hết cho các nhân viên của doanh nghiệp
nhờ vào các khoản thu từ chi phí đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
như: phí môi giới, phí đào tạo,...sau đó là mang lại lợi ích cho chủ doanh
nghiệp nhờ khoản lợi nhuận thu được từ hoạt đông của doanh nghiệp.
tiếp nhận và nơi lao động được đưa đi.
Xuất khẩu lao động cũng góp phần cải thiện đời sống của nhân dân thông
qua khoản thu nhập mà người lao động gửi về cho gia đình và người thân.
Đây cũng là một trong những biện pháp hiệu quả để thực hiện chương trình
xoá đói giảm nghèo cho nhân dân.
Xuất khẩu lao động cũng có tính cạnh tranh.
Cũng giống như mọi hoạt động kinh tế khác, hoạt động xuất khẩu lao động
cũng được đặt trong một môi trường cạnh tranh gay gắt. Sự cạnh tranh đến
trước hết là từ phía những người lao động với nhau. Bởi số lượng lao động
được chọn đi xuất khẩu lao động sang các nước là có hạn mà dân số đông,
nguồn lao động dư thừa lớn nên họ phải cạnh tranh nhau trên con đường đi
đến việc có được một xuất đi lao động nước ngoài.
Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa những người lao động mà còn giữa
các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Họ phải cạnh tranh nhau khi cùng xuất
khẩu vào một thị trường, khi cùng hoạt động trên một địa bàn...
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
7
8
Luận văn tốt nghiệp
Sự cạnh tranh cũng không chỉ diễn ra trên lãnh thổ của một quốc gia mà
còn vượt ra trên toàn thế giới khi mà có rất nhiều quốc gia cùng cố gắng thúc
đẩy hoạt động xuất khẩu lao động đó là những quốc gia còn đang gặp khó
khăn và cùng sử dụng biện pháp xuất khẩu lao động làm bàn đạp cho sự phát
triển của nền kinh tế. Ta có thể đơn cử ngay như trong khu vực Đông Nam Á,
không chỉ có Việt Nam mà còn nhiều nước cũng hoạt động xuất khẩu lao động
như: Inđônêxia, Philippin,...
Xuất khẩu lao động là hoạt động có tính rộng rãi trên toàn thế giới.
Nghe nói đến xuất khẩu lao động có thể người ta chỉ nghĩ rằng việc làm đó
chỉ dành cho các quốc gia đang và kém phát triển, nơi mà nguồn lao động dồi
dào dẫn đến dư thừa, còn các quốc gia phát triển sẽ chỉ là nước tiếp nhận lao
đã được sửa đổi, bổ xung năm 2002,2006 thì các hình thức đưa lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài gồm có:
1- Cung ứng lao động theo các hợp đồng ký với bên nước ngoài;
2- Đưa lao động đi làm việc theo hợp đồng nhận thầu, khoán công trình ở
nước ngoài;
3- Đưa lao động đi làm việc theo các dự án đầu tư ở nước ngoài;
4- Các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài những quy định của nhà nước về những hình thức chủ yếu của xuất
khẩu lao động, các hình thức xuất khẩu lao động còn được chia theo biên giới
quốc gia bao gồm 2 hình thức:
− Xuất khẩu lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
Theo đó hình thức này bao gồm tất cả các hoạt động đưa người Việt Nam sang
nước ngoài làm việc có thời hạn bao gồm: Đưa lao động đi theo Hiệp định ký
kết giữa chính phủ Việt Nam với chính phủ các nước; hợp tác giữa các nước
về lao động và chuyên gia; thông qua các doanh nghiệp xuất khẩu lao động;...
− Xuất khẩu lao động tại chỗ: là hình thức các tổ chức kinh tế
của Việt nam cung ứng lao động cho các tổ chức kinh tế nước ngoài làm việc
tai Việt Nam như: Các công ty nước ngoài có văn phòng đại diện ở Việt Nam,
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp liên doanh, các
khu chế xuất, các cơ quan ngoại giao của nước ngoài đặt tại Việt Nam,...Theo
đó trong hình thức này người lao động không phải rời khỏi lãnh thổ Việt Nam
mà làm việc ngay trong nước.
Một cách phân loại khác nữa là phân loại theo loại hình công việc. Với cách
phân loại này hoạt động xuất khẩu lao động được chia làm nhiều loại khác
nhau, trong đó có những hình thức công việc chủ yếu sau: Thợ xây dựng, công
nhân nhà máy, lao động làm việc trên biển ( thuyền viên hoặc thuỷ thủ), lao
động giúp việc gia đình (với các công việc như trông trẻ, ôsin,..), khán hộ
công gia đình,...Ta cũng có thể phân loại các hình thức xuất khẩu lao động
theo thị trường xuất khẩu với: xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc,
Đài Loan, Malaysia, Trung Đông,...và nhiều cách phân loại khác tuy nhiên tuỳ
Một điều có tính chất đương nhiên là khi xuất khẩu lao động sang một quốc
gia nào đó thì việc cần làm đó là tìm hiểu kỹ về luật pháp của nước đó xem họ
có chính sách đối xử như thế nào với lao động nước ngoài làm việc tại đất
nước họ, xem họ cần những thủ tục pháp lý như thế nào khi tiếp nhận lao
động của ta,..Và cũng cần xem xét kỹ luật pháp của họ để khi lao động của ta
sang nước họ làm việc không bị vi phạm điều gì trong pháp luật của nước sở
tại. Việc xem xét và đảm bảo đúng những quy định của luật pháp quốc tế về
việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng giữ vai trò quan trong trong
công tác xuất khẩu lao động vì chỉ cần vi phạm một điều nào đó trong luật
pháp quốc tế cũng sẽ khiến cho hoạt động xuất khẩu lao động bị đình trệ thậm
chí thất bại.
Yếu tố thuộc về các doanh nghiệp hoạt động xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động đem lại lợi ích rất lớn bởi thế mà hiện
nay số lượng những doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu lao động
ngày càng tăng lên. Những doanh nghiệp này có ảnh hưởng quyết định đến
hoạt động xuất khẩu lao động bởi nếu họ hoạt động tốt thì sẽ đưa được nhiều
lao động đi, mở rộng được thị trường xuất khẩu lao động nhưng ngược lại nếu
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
10
11
Luận văn tốt nghiệp
họ hoạt động kém không những người lao động chịu thiệt thòi mà hoạt động
xuất khẩu lao động cũng bị hạn chế.
Quyền hạn và nghĩa vụ của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động đã được
quy định rõ trong pháp luật của nhà nước ta. Tuy nhiên, tuỳ theo uy tín và khả
năng hoạt động của mỗi doanh nghiệp mà chất lượng dịch vụ xuất khẩu lao
động của họ tốt hơn hay kém hơn, những doanh nghiệp có uy tín, có khả năng
lớn thì sẽ tìm được nhiều thị trường hơn, sẽ thu hút được nhiều lao động
hơn,...Chất lượng của quá trình đào tạo, của hoạt động marketing của doanh
nghiệp cũng sẽ thúc đẩy hoạt động xuất khẩu lao động phát triển hay bị hạn
Luận văn tốt nghiệp
Ngoài những yếu tố trên còn có rất nhiều yếu tố khác có ảnh hưởng ít nhiều
đến hoạt động xuất khẩu lao động ví dụ như:
− Các yếu tố thuộc về văn hoá như tôn giáo, tín ngưỡng, lối sống, phong
tục tập quán, ...
− Các yếu tố thuộc về kinh tế như cơ sở hạ tầng, thu nhập bình quân, giá
cả thị trường,...
− Các yếu tố mang tính chất cạnh tranh từ các nước khác,..v..v.
1.6. Hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam.
1.6.1.Sự cần thiết của hoạt động xuất khẩu lao động ở Việt Nam.
Như đã phân tích ở trên hoạt động xuất khẩu lao động có tính tất yếu khách
quan, chính vì vậy mà Việt Nam cũng giống như các nước đang phát triển
khác trên thế giới không thể không triển khai hoạt động xuất khẩu lao động.
Với dân số trên 80 triệu người đứng thứ 13 trên thế giới, Việt Nam được
xếp vào hàng ngũ những quốc gia đông dân nhất thế giới. Trong đó có khoảng
43 triệu người thuộc độ tuổi lao động ( nữ chiếm 48,7%), mỗi năm tăng thêm
bình quân trên 1 triệu người, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề khoảng 20%, tỷ
lệ thất nghiệp ở thành thị là 5% nhưng con số thiếu việc làm ở nông thôn thì
còn cao hơn rất nhiều, số việc làm được tạo ra mới chỉ đáp ứng được khoảng
trên dưới 40% số lao động.Những con số trên cho thấy tình trạng thất nghiệp
thiếu việc làm đang là một trong những vấn đề nổi cộm của nền kinh tế Việt
Nam, những biện pháp thu hút đẩy mạnh đầu tư luôn được khuyến khích song
chỉ giải quyết được một phần nào tình trạng thiếu việc làm, do đó xuất khẩu
lao động là lựa chọn hữu hiệu và cần thiết cho Việt Nam trong giai đoạn hiện
nay không chỉ là vì giải quyết được phần nào lao động dư thừa mà còn vì
những lợi ích to lớn mà hoạt động này mang lại cho quốc gia.
1.6.2. Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động xuất khẩu lao động
ở Việt Nam.
Hoạt động xuất khẩu lao động của Việt Nam bắt đầu diễn ra từ năm
1980.Trong suốt thời gian này cùng với sự biến đổi của đất nước hoạt động
Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan, Trung Đông,...Xuất khẩu lao động cũng
trở thành một kênh đem lại nguồn thu nhập quan trong cho đất nước. Theo
tính toán, trung bình mỗi năm số lao động gửi về nước khoảng 1,5 tỷ USD,
bình quân mỗi tháng họ gửi về cho gia đình khoảng 302,5USD. Trong thời
gian tới, nước ta chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động của công tác xuất
khẩu lao động. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu lao động của ta còn gặp nhiều
hạn chế do trình độ và chất lượng của lao động xuất khẩu chưa cao, chưa tìm
được đường vào cho những thị trường lớn, có thu nhập cao như EU, Hoa
Kỳ,...
Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, những thành tựu mà hoạt động
xuất khẩu lao động mang lại cho Việt Nam là rất đáng kể, bởi vậy Đảng và
Nhà nước ta cần phải tập trung, quân tâm hơn nữa đến công tác này để trong
thời gian tới tiếp tục phát triển hoạt động xuất khẩu lao động hơn nữa nhằm
đưa hoạt động này cùng với những hoạt động kinh tế mũi nhọn khác thực sự
trở thành bàn đạp đưa nền kinh tế nước ta trở thành một nền kinh tế phát triển,
hoàn thành mục tiêu trở thành một nước công nghiệp vào năm 2020.
1.6.3. Một số quy định của Nhà nước về hoạt động xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một vấn đề được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm
nên vấn đề này được quy định trong rất nhiều văn bản pháp luật.Trước hết là
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
13
14
Luận văn tốt nghiệp
trong Bộ luật lao động của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đã
được sửa đổi, bổ xung năm 2002, 2006) quy định:
(Xem phụ lục 1)
Dựa vào những quy định của Bộ Luật Lao động, Chính phủ cũng quy định
cụ thể về việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn
ở nước ngoài trong Nghị định số 152/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ,
ngoài những quy định cụ thể hơn về hình thức xuất khẩu lao động, quyền và
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
14
15
Luận văn tốt nghiệp
hoặc những quy định ràng buộc về mặt vật chất, pháp lý,... để tiến hành quản
lý.
Quá trình quản lý có thể diễn ra dưới nhiều hình thức từ quản lý trong nước
cho đến quản lý ở nước ngoài, từ quản lý trực tiếp cho đến việc gián tiếp quản
lý...Nhưng dù sử dụng cách thức quản lý nào thì mục đích của hoạt động quản
lý đều là nhằm làm cho hoạt động xuất khẩu thực sự hiệu quả, mang lại lợi ích
cho cả quốc gia, doanh nghiệp lẫn người lao động.Từ đây ta có thể thấy rằng
quản lý xuất khẩu lao động là quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có hướng
đích của các chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý là hoạt động xuất khẩu
lao động và các khách thể quản lý là người lao động, các doanh nghiệp
chuyên doanh xuất khẩu lao động cùng các đối tượng có liên quan khác nhằm
mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu lao động.
Một khái niệm khác gần tương tự của quản lý xuất khẩu lao động là:
Quản lý xuất khẩu lao động là sự tác động thống nhất dựa trên các chính
sách để nhằm điều chỉnh các công tác tuyển mộ tuyển chọn, đào tạo – giáo
dục định hướng, quan hệ lao động, thanh lý hợp đồng trong hoạt động xuất
khẩu lao động nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này.
4
2.2. Sự cần thiết phải quản lý xuất khẩu lao động.
Xuất khẩu lao động là một hoạt động có vài trò hết sức to lớn trong tiến
trình phát triển của các quốc gia do vậy nó đòi hỏi phải có sự quan tâm và
quản lý của nhà nước và toàn xã hội. Quản lý xuất khẩu lao động là rất cần
thiết bởi các nguyên nhân sau:
Thứ nhất là do hoạt động này đem lại lợi ích rất lớn cho quốc gia và toàn xã
hội. Như đã phân tích ở trên xuất khẩu lao động không chỉ mang lại lợi ích
được rất nhiều những vi phạm và tranh chấp trong hoạt động xuất khẩu lao
động.
Đưa lao động đi xuất khẩu sẽ là đem đến quốc gia đó một khối lượng dân
cư khác biệt họ về môi trường sống, khí hậu, ngôn ngữ, tôn giáo,... do vậy sẽ
tạo ra một sự xáo trộn lớn cho xã hội của nước tiếp nhận lao động do đó yêu
cầu các nước này phải có sự quản lý chặt chẽ đối với hoạt động quản lý lao
động này. Hơn nữa khi số lao động này trở về nước thì vấn đề phức tạp nhất là
giải quyết việc làm cho họ do đó cần phải có hệ thống quản lý chặt chẽ từ các
cơ quan Nhà nước.
Xuất khẩu lao động như đã phân tích ở trên mang tính xã hội rất cao do đó
vấn đề do nó gây ra cho xã hội là rất phức tạp yêu cầu cần phải có sự quản lý
của các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động này. Khi có xuất khẩu lao động
thu nhập của một số lượng dân cư tăng lên, những người thân của lao động đi
xuất khẩu ở trong nước không vất vả gì mà có được một khoản tiền lớn, đây là
nguyên nhân gây ra một số hiện tượng xã hội phức tạp như đua đòi, ăn tiêu
chác táng,…tạo ra những mâu thuẫn trong xã hội. Chính điều này làm cho
việc quản lý đối với hoạt động xuất khẩu lao động trở lên rất quan trọng đối
với các nước có lao động đi xuất khẩu.
Còn rất nhiều nguyên nhân khác nữa khiến cho việc quản lý xuất khẩu lao
động trở lên cần thiết, trên đây chỉ là một vài những nguyên nhân chủ yếu mà
người viết muốn nêu lên.Quản lý lao động là cần thiết đối với các quốc gia có
lao động đi xuất khẩu và càng cần thiết hơn nữa đối với một đất nước mà trình
độ quản lý còn hạn chế như Việt Nam.
2.3. Những nội dung của quản lý xuất khẩu lao động.
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
16
17
Luận văn tốt nghiệp
2.3.1. Lập kế hoạch xuất khẩu lao động.
Lập kế hoạch là một loại ra quyết định đặc thù để xác định một tương lai cụ
sự hiệu quả.
Bước 3- Phát triển các tiền đề.
Từ các dự báo, các nghiên cứu đã thu thập được từ bước một chúng ta sẽ
phát triển lên thành các tiền đề. Tiền đề lập kế hoạch có thể coi như là các giả
5 Đoàn thị Thu Hà + Nguyễn thị Ngọc Huyền – Khoa Khoa Học Quản Lý – ĐH KTQD – Giáo trình Khoa
Học Quản Lý – tr333 – HN, 2004
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
17
18
Luận văn tốt nghiệp
thiết cho việc thực hiện kế hoạch. Đối với hoạt động quản lý xuất khẩu lao
động thì các tiền đề lập kế hoạch có thể là địa bàn tuyển dụng, địa bàn xuất
khẩu, mức lương bình quân, loại công việc, các chi phí cần thiết,…Tuy nhiên,
không phải bất cứ một vấn đề gì có liên quan đều trở thành tiền đề cho quá
trình lập kế hoạch được mà đòi hỏi phải có sự chắt lọc sao cho phù hợp, đó
phải là các giả thiết có tính cấp thiết, chiến lược cho việc lập ra một kế hoạch
cụ thể.
Bước 4 - Xây dựng các phương án.
Để quá trình quản lý đạt hiệu quả cao thì việc lập ra một kế hoạch xuất
khẩu lao động tốt là điều kiện cần thiết song để có được một kế hoạch hoàn
hảo thì cần phải đưa ra các phương án hành động để phân tích, so sánh, đánh
giá và lựa chọn. Các phương án phải có triển vọng và mang tính khả thi chứ
không thể là một phương án chung chung, xa vời, khó có thể thực hiện.
Bước 5 - Đánh giá các phương án.
Đây là bước quan trọng quyết định đến sự thành công hay thất bại của một
kế hoạch được lập ra. Các phương án đã được đưa ra phải được đem ra so
sánh, cân nhắc một cách kỹ lưỡng và khoa học. Tiêu chuẩn để đánh giá phải
dựa vào các mục tiêu và các tiền đề của kế hoạch đã được xác định từ các
bước trước để từ đó tìm ra được những phương án tối ưu nhất.
Bước 6 - Lựa chọn phương án và ra quyết định.
các đối tượng thuộc diện ưu tiên.
- Không được tuyển lao động Việt Nam đi làm những ngành nghề mà pháp
luật Việt Nam cấm.
-Việc tuyển chọn phải được thông báo công khai trên các phương tiện thông
tin đại chúng, các vấn đề liên quan như: ngày giờ nhận hồ sơ, ngày giờ tuyển
dụng, các tiêu chuẩn đặt ra,…cần phải được thông báo công khai cho người
lao động nắm được.Công khai thông báo kết quả sau chậm nhất là 5 ngày.
-Đơn vị đưa lao động đi xuất khẩu phải kết hợp với bệnh viện tiến hành
kiểm tra sức khỏe cho người lao động và chỉ được phép tyển chọn những lao
động có đủ sức khoẻ.
Hồ sơ tuyển chọn bao gồm: Đơn tự nguyện đi làm việc có thời hạn ở nước
ngoài (bao gồm cả bản cam kết của cá nhân và gia đình); sơ yếu lý lịch có xác
nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi lao động cư trú hoặc đơn vị, cơ quan
làm việc của người lao động; giấy chứng nhận sức khoẻ.Các giấy tờ khác theo
yêu cầu của bên nước ngoài.
Đối tượng tuyển chọn gồm các Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi trở lên có đủ
các điều kiện dưới đây:
- Có năng lực pháp lý và năng lực hành vi, chấp hành pháp luật một cách
đầy đủ, hoàn toàn tự nguyện đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài.
- Đảm bảo đầy đủ các yêu cầu về sức khoẻ, trình độ văn hoá, nghề
nghiệp, ngoại ngữ của bên nước ngoài.
- Không thuộc các đối tượng không được phép đi lao động tại nước ngoài
theo quy định của pháp luật.
Sau khi đã có được những thông tin về các quy định của nhà nước đối với
công tác tuyển mộ, tuyển chọn lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng như
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
19
20
Luận văn tốt nghiệp
những đặc điểm của nguồn lao động tại địa bàn tuyển chọn, đơn vị xuất khẩu
về công việc, luật pháp cũng như yêu cầu của bên nước ngoài đối với họ từ đó
nâng cao được chất lượng, uy tín của đội ngũ lao động Việt Nam.Chính vì vậy
việc đào tạo và giáo dục định hướng cho người lao động phải dành được sự
quan tâm và quản lý chặt chẽ không chỉ của các đơn vị, doanh nghiệp xuất
khẩu lao động mà còn của cả các cơ sở đào tạo, Cục quản lý lao động ngoài
nước, Tổng cục dạy nghề, các Bộ, ngành, địa phương,…Trách nhiệm cụ thể
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
20
21
Luận văn tốt nghiệp
của từng cơ quan đơn vị trên đều được quy định rõ trong Quy chế đào tạo và
giáo dục định hướng cho người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở
nước ngoài ngày 13 tháng 12 ngày 1999 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội. Đơn vị, doanh nghiệp đưa lao động đi xuất khẩu lao động phải
ký kết một hợp đồng đào tạo giáo dục định hướng cho người lao động Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài với cơ sở đào tạo theo mẫu ban hành kèm theo
Quy chế này. Cuối khoá học, cơ sở đào tạo phải tổ chức cho lao động thi sát
hạch, những người đạt sẽ được cấp chứng chỉ theo mẫu ban hành kèm theo
Quy chế đào tạo và giáo dục định hướng như sau: (Xem phụ lục 4)
2.3.4. Quản lý lao động đã xuất khẩu.
2.3.4.1. Quản lý ở trong nước.
a) Quản lý hợp đồng lao động.
Để quản lý lao động xuất khẩu việc đầu tiên cần làm là quản lý hợp đồng
lao động bởi đây là căn cứ pháp lý quan trọng điều chỉnh quan hệ lao động
trong hoạt động xuất khẩu lao động. Trong họat động xuất khẩu lao động có
ba loại hợp đồng:
Thứ nhất là hợp đồng cung ứng lao động ký kết giữa bên doanh nghiệp xuất
khẩu lao động Việt Nam với bên sử dụng lao động nước ngoài. Mẫu hợp đồng
được Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định, tuỳ theo từng loại hình
lao động và nước tiếp nhận lao động mà hợp đồng có thêm những điều khoản
nghiệp cũng phải có trách nhiệm xác nhận những vấn đề như: quá trình làm
việc, tiền lương, thời gian đóng bảo hiểm xã hội, …của người lao động trong
thời gian đi làm việc ở nước ngoài theo đúng quy định của pháp luật hiện
hành. Trường hợp người lao động đi làm việc nước ngoài theo hợp đồng cá
nhân ký kết trực tiếp với bên nước ngoài thì việc cấp sổ lao động và sổ bảo
hiểm xã hội thuộc về trách nhiệm của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội.
c) Quản lý việc thanh lý hợp đồng.
Khi người lao động hết hợp đồng trở về nước, doanh nghiệp đưa họ đi xuất
khẩu sẽ phải chịu trách nhiệm thanh lý hợp đồng với họ. Nội dung thanh lý
gồm: Trả lại sổ lao động và sổ bảo hiểm xã hội đã có xác nhận đầy đủ; thanh
toán nốt những khoản tiền cần thiết còn lại; làm đầy đủ các giấy tờ, thủ tục
cần thiết để trả lao động về nơi ở trước khi đi làm việc ở nước ngoài. Đối với
người lao động đi theo hợp đồng ký trực tiếp với bên nước ngoài thì khi về
nước sẽ tiến hành làm thủ tục thanh lý hợp đồng tại Sở Lao động – Thương
binh và Xã hội nơi đăng ký hợp đồng.
2.3.4.2. Quản lý ở nước ngoài.
Với hình thức đi xuất khẩu lao động theo doanh nghiệp xuất khẩu lao động
thì việc quản lý lao động thuộc về trách nhiệm của chính doanh nghiệp đó.
Trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều lao động làm việc tại một nước nào
đó thì họ có quyền mở văn phòng đại diện hoặc cử cán bộ sang làm công tác
quản lý lao động một cách trực tiếp. Người được doanh nghiệp cử đi quản lý
lao động ở nước ngoài phải được bảo đảm các yêu cầu: về phẩm chất đạo đức,
trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ để có đủ năng lực theo dõi, giám sát
việc thực hiện các vụ tranh chấp và những vấn đề nảy sinh liên quan đến
người lao động. Khi người lao động đã hoàn thành hợp đồng, người quản lý
phải có trách nhiệm đưa họ trở về nước. Việc cử cán bộ đi quản lý lao động ở
nước ngoài của doanh nghiệp phải báo cáo với Cục quản lý lao động ngoài
nước và cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước đó bằng văn bản (có kèm
Nguyễn Thị Hoan QLKT45B
22
Luận văn tốt nghiệp
Tốc độ tăng trưởng trong những năm gần đây đều là rất cao, riêng năm
2006 GDP tăng 15,3% trong đó: công nghiệp – xây dựng tăng 20,28%; nông
nghiệp tăng 3 % và dịch vụ tăng 47,79%; cơ cấu kinh tế: công nghiệp – xây
dựng 47,79%; dịch vụ 28,61%; nông nghiệp 23,6%; giá trị sản xuất công
nghiệp đạt 8.504 tỷ đồng (giá cố định năm 1994), thu ngân sách đạt 1.270,8 tỷ
đồng, kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 171,6 triệu USD, nhập khẩu đạt 245 triệu
USD, tạo việc làm mới cho 19.075 lao động. Toàn tỉnh có 1.789 doanh nghiệp
hoạt động với tổng số vốn điều kiện là 6.279 tỷ đồng. Năm 2006 tỉnh đã cấp
phép cho 48 dự án đầu tư mới và cấp phép điều chỉnh cho 28 dự án. Tổng
cộng cho đến năm 2006 tỉnh đã thu hút được 61 dự án FDI và 13 chi nhánh
văn phòng đại diện với tổng số vốn đăng ký là 557 triệu USD với nhiều dự án
tập trung vào các khu công nghiệp như khu công nghiệp Quế Võ, khu công
nghiệp Tiên Sơn…
(Nguồn tham khảo: http:// www.moi.gov.vn -ngày 04/04/2007)
Trong 10 năm vừa qua, nhịp độ tăng trưởng của tỉnh luôn giữ ở mức độ cao,
bình quân mỗi năm GDP tăng 13,5% với khu vực nông nghiệp tăng 6%, khu
vực công nghiệp – xây dựng cơ bản tăng 22%, khu vực dịch vụ tăng 12,5%
mỗi năm; cơ cấu kinh tế đang trên đà chuyển dịch theo chiều hướng tích cực:
tỷ trọng công nghiệp tăng nhanh từ 23,7% năm 1997 lên 47,8% năm 2006
tăng 24,1%, tỷ trọng nông nghiệp giảm từ 45% năm 1997 xuống còn 23,6%
năm 2006 giảm 21,4% so với năm 1997. Năm 2006, giá trị sản xuất nông
nghiệp là 2.238 tỷ đồng (bằng 1,83 lần so với năm 1997), giá trị sản xuất công
nghiệp là 8.504 tỷ đồng (bằng 14.9 lần so với năm 1997). Cụ thể:
Biểu 2.1.1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 10 năm(1997-2006) của
tỉnh Bắc Ninh.
STT Chỉ tiêu Đơn vị
tính
Năm
1997
52,8%
195,1%
92,9%
3. Giá trị sản xuất
-Nông nghiệp
-Công nghiệp
Tỷ đồng
Tỷ đồng
1.218
569
2.238
8.504
1,83 lần
14,9 lần
(Nguồn: http:// www.bacninh.gov.vn - Thứ 2, ngày 22/01/2007)
Từ sự phát triển vượt bậc của kinh tế tỉnh Bắc Ninh đã giúp cho thu nhập
của người dân tăng lên rất nhiều so với trước, đời sống được cải thiện hơn.
Tuy nhiên, cùng với các khu công nghiệp, khu đô thị mọc lên ngày càng nhiều
là việc người nông dân bị mất đất nông nghiệp sản xuất do bị thu hồi cũng
ngày càng gia tăng. Điều này khiến cho một bộ phận lao động ở nông thôn
không có việc làm, đây sẽ là nguồn lao động chủ yếu cho hoạt động xuất khẩu
lao động.
Về mặt xã hội, sau 10 năm Bắc Ninh cũng đã có bộ mặt khác cả về công tác
giáo dục đào tạo, công tác y tế lẫn các công tác xã hội. Đời sống của nhân dân
được cải thiện do đó họ cũng tập trung đầu tư rất nhiều cho công tác giáo dục
– đào tạo con em mình cũng như chế độ dinh dưỡng, chăm sóc sức khoẻ. Nhìn
chung, trình độ học vấn của người dân đã được nâng lên rất nhiều, số người bị
mù chữ chỉ còn là con số ít. Hầu hết các xã, phường, thị trấn đều có trạm y tế
riêng, các tuyến tỉnh - huyện đều tập trung nâng cấp cơ sở hạ tầng cũng như
trình độ cho các y – bác sỹ để làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân