ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
NGUYỄN THỊ THU HÀ
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
SINH VIÊN TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
--------o0o---------
NGUYỄN THỊ THU HÀ
HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
SINH VIÊN TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính và ngân hàng
Mã số: 60 34 20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ANH TÀI
Hà Nội - 2014
sách tín dụng đối với sinh viên. ..............................................................30
2.1.3 Chính sách tín dụngcụ thể ...............................................................35
2.2Thực trạng triển khai chính sách xã hội đối với sinh viên ....... 36
2.2.1 Quá trình triển khai thực hiện cho vay sinh viên tại Ngân hàng
Chính sách xã hội Việt Nam ....................................................................36
2.2.2. Thực trạng cho vay HSSV có hoàn cảnh khó khăn tại Ngân hàng
Chính sách xã hội Việt nam .....................................................................38
2.3 Đánh giá chung về chính sách tín dụng đối với sinh viên trong
giáo dục đại học ở Việt Nam .............................................................. 49
2.3.1 Những mặt đạt được: ....................................................................49
2.3.2 Một số mặt còn hạn chế : ...............................................................55
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế ....................................................62
CHƢƠNG 3 HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
SINH VIÊN TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM .............. 65
3.1 Định hƣớng hoạt động của nhà nƣớc về chính sách tín dụng
trong thời gian tới. ............................................................................. 65
3.2 Giải pháp hoàn thiện các chính sách tín dụng đối với sinh viên
trong giáo dục đại học ở Việt Nam .................................................... 69
3.2.1. Phối hợp giữa các cơ quan liên quan trong việc triển khai thực
hiện Quyết định 157/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tín
dụng đối với sinh viên ..............................................................................69
3.2.2 Củng cố chất lượng hoạt động của các tổ tiết kiệm và vay vốn ....70
3.2.3 Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ giao dịch lưu
động cấp xã ...............................................................................................73
3.2.4 Tăng cường phối kết hợp giữa các Bộ, Ngành, các tổ chức chính
trị xã hội, chính quyền địa phương các cấp .............................................73
3.2.5 Về tổ chức cho vay: .........................................................................75
3.2.6 Đa đạng hóa các hìnhthức thu hồi vốn ..........................................76
Giáo dục đại học
3
HĐQT
Hội đồng quản trị
4
KTXH
Kinh tế xã hội
5
NHCSXH
Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam
6
NHTM
Ngân hàng thương mại
7
NLFC
Bảng 2.3
4
Bảng 2.4
5
Bảng 2.5
6
Trang
39
Bảng dư nợ cho vay HSSV năm 2007
40
Bảng tổng hợp cho vay HSSV theo vùng kinh tế
năm 2007 - 2008
Bảng tổng hợp cho vay HSSV theo vùng kinh tế
năm 2009 - 2010
Bảng tổng hợp cho vay HSSV theo vùng kinh tế
năm 2010-2011
41
Bảng 2.6
10
Bảng 2.10
Mức độ nắm bắt thông tin về chương trình tín
dụng cho HSSV của NHCSXH
60
11
Bảng 2.11
Nguồn thông tin về chương trình tín dụng
HSSV tiếp cận
61
12
Bảng 3.1
Vai trò của chính sách tín dụng ưu đãi
đối tượng được vay vốn
82
ii
42
6
Biểu đồ 3.1
Nội dung
Quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế
với phát triển GD&ĐT
Mức cho vay HSSV từ năm 2007 – 2013
Hiệu quả tạo động lực học tập và rèn luyện cho
sinh viên của chính sách tín dụng sinh viên
Mức độ nắm bắt thông tin về chương trình tín
dụng cho HSSV của NHCSXH
Nguồn thông tin về chương trình tín dụng
HSSV tiếp cận
Vai trò của chính sách tín dụng ưu đãi
đối tượng được vay vốn
iii
Trang
12
44
51
60
61
82
dục trên khắp cả nước. Theo thời gian, con số này ngày một tăng dần lên,
Tuy nhiên, do đời sống của người dân nước ta nhiều vùng còn gặp khó khăn
nên có nhiều trường hợp các bạn học sinh dù thi đỗ hay đang theo học tai các
trường ĐH, CĐ,... cũng đành phải gác lại sự nghiệp đèn sách vì gia đình
không đủ khả năng trang trải chi phí học tập, sinh hoạt. Vì vậy, để giải quyết
vấn đề này cũng như khuyến khích tinh thần học tập của các bạn sinh viên
kém may mắn trên, Đảng và Nhà nước ta đã thông qua Ngân hàng Chính
sách xã hội (NHCSXH) thực hiện chương trình tín dụng sinh viên, hỗ trợ
sinh viên nghèo được quyền tiếp tục đi học.
Chương trình tín dụng sinh viên là một thành tựu đáng khích lệ trong
chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước ta. Nhưng hiện nay, trong quá
trình triển khai, chính sách này đã phát sinh một số bất cập cần phải được
điều chỉnh bổ sung cho phù hợp, để chương trình ngày càng phát triển hơn
nhằm thực hiện đúng mục đích mà nó đề ra ban đầu và tạo động lực học tập
mạnh mẽ hơn cho các bạn sinh viên có hoàn cảnh khó khăn. Những bất cập
đó là: thiếu đồng bộ trong cơ chế quản lí, tâm lí lợi dụng chính sách của một
bộ phận sinh viên, thông tin cho chương trình vay vốn kém hiệu quả, tiền vay
chưa được sử dụng đúng mục đích, mức vay chưa đáp ứng được nhu cầu tối
thiểu của sinh viên, thủ tục rườm rà và chưa thắt chặt ở những khâu cần thiết,
phương pháp thu hồi nợ còn nhiều bất cập, vòng quay vốn chậm, vấn đề theo
dõi, giám sát đối tượng được vay.
Xuất phát từ thực tế đó đề tài “Hoàn thiện chính sách tín dụng đối với
sinh viên trong giáo dục Đại Học ở Việt Nam” góp phần hoàn thiện các chính
sách tín dụng với giáo dục đại học, từng bước nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực đáp ứng sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
2
Ngoài ra, liên quan đến vấn đề tín dụng đối với sinh viên, trên thế giới
có rất nhiều quốc gia đã thực hiện nhiều chính sách nhằm hướng tới khắc
phục tình trạng khó khăn cho sinh viên khi học đại học. Vì vậy, khi nghiên
cứu đề tài có thể tiếp cận với thực tế các chính sách của các quốc gia trên thế
giới để học tập, nghiên cứu và ứng dụng vào chính sách của Việt Nam
Các bài viết và luận án của các tác giả đã chỉ ra những vấn đề cấp thiết
liên quan đến tín dụng của sinh viên trong giáo dục đại học. Tuy nhiên, hiệu
quả của công tác thực hiện chính sách tín dụng vẫn còn hạn chế do một số
chính sách tín dụng trong giáo dục chưa thật sự phù hợp và sát với thực tế
giáo dục đại học ở Việt Nam
Vì vậy, nghiên cứu tài: “Hoàn thiện chính sách tín dụng đối với sinh viên
trong giáo dục Đại học ở Việt Nam” có tính thực tế và thời sự rất cao
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Phân tích đánh giá những kết quả đạt được, hạn
chế và nguyên nhân tồn tại của tình hình thực hiện chính sách tín dụng sinh
viên trong giáo dục đại học ở nước ta thời gian qua.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Những vấn đề chung về tín dụng đối với sinh viên trong giáo dục Đại
học ở Việt Nam
+ Giáo dục đại học với sự phát triển kinh tế xã hội
+ Tín dụng đối với sinh viên trong giáo dục Đại học ở Việt Nam
+ Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về chính sách tín dụng đối với
sinh viên trong giáo dục Đại học
- Căn cứ vào tình hình thực tế đánh giá thực trạng các chính sách tín
dụng đối với sinh viên trong giáo dục đại học ở Việt Nam
- Trên cơ sở những phân tích trên đề ra định hướng và đề xuất các chính
sách để hoàn thiện các chính sách tín dụng, thúc đẩy phát triển giáo dục Đại
học ở Việt Nam trong thời gian tới.
5
7. Kết cấu luận văn
Tên đề tài: Hoàn thiện chính sách tín dụng đối với sinh viên trong giáo
dục đại học ở Việt Nam
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn bao gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề chung về tín dụng đối với sinh viên trong giáo
dục đại học ở Việt Nam
Chương 2: Thực trạng các chính sách tín dụng đối với sinh viên trong
giáo dục đại học ở Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện chính sách tín dụng đối với sinh viên trong giáo
dục đại học ở Việt Nam
6
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI SINH VIÊN
TRONG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
1.1. Giáo dục đại học với sự phát triển kinh tế xã hội
1.1.1 Đặc điểm Giáo dục đại học
Giáo dục và đào tạo được coi là phương tiện để trang bị kiến thức, tri
thức, trí tuệ và năng lực nghề nghiệp bảo đảm cho sự thành đạt của mỗi con
người. Giáo dục và đào tạo còn là phương tiện chủ yếu để phát triển kinh tế
và xã hội. Chính phủ các nước trên thế giới đều đánh giá cao vai trò giáo dục
và đào tạo và thống nhất quan niệm đầu tư vào giáo dục và đào tạo là đầu tư
cho tương lai; là quá trình tích luỹ vốn con người; là chìa khoá để duy trì sự
tăng trưởng kinh tế và tăng thu nhập bền vững. Điều 35 của Hiến pháp nước
Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Giáo dục và đào tạo là quốc
thông qua hoạt động giáo dục không chỉ có ích với bản thân họ, mà cón mang
lại những lợi ích thiết thực cho cả xã hội.
Tuy vậy con người không thể tự mình lĩnh hội và phát triển một cách có
hệ thống những tri thức nhân loại để hình thành, tích luỹ và phát triển phẩm
chất và năng lực nội tại của bản thân. Để giúp con người có thể lĩnh hội một
cách tốt nhất tri thức của nhân loại và phù hợp với khả năng và nhu cầu tiếp
thu kiến thức khác nhau của mỗi người, hoạt động dạy và học được tổ chức
theo các lớp học ở trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác thuộc hệ
thống giáo dục quốc dân. Do đó người học muốn hưởng thụ GDĐH thì cần
phải trả tiền cho sự hưởng thụ đó. Bằng việc thu học phí, dịch vụ giáo dục có
thể loại trừ người học. Như vậy có thể thấy rằng: GDĐH là dịch vụ vừa có
tính chất công cộng, vừa có tính chất cá nhân.
8
1.1.2 Vị trí của giáo dục đại học trong nền kinh tế quốc dân
Xuất phát từ nền tảng chế độ chính trị, điều kiện tự nhiên và trình độ
phát triển kinh tế – xã hội của đất nước mình, chính phủ các nước đều nhận
thấy sự mâu thuẫn giữa những mục tiêu kinh tế rộng lớn và những tiền đề còn
thiếu thốn về nhân lực phục vụ các mục tiêu này và coi việc gắn chiến lược
phát triển giáo dục và đào tạo với các định hướng và mục tiêu phát triển kinh
tế – xã hội trong từng giai đoạn là vấn đề có tính quyết định đối với quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhật Bản ra khỏi chiến tranh thế giới thứ hai với một nền kinh tế bị tàn
phá nặng nề và tụt hậu so với các nước công nghiệp khác. Vì vậy nước Nhật
đã quan tâm nâng cao trình độ học vấn của nhân dân, trình độ lành nghề của
người lao động. Vì thế, tuy có hạn chế tính sáng tạo, khả năng độc lập suy
nghĩ và sự năng động cá nhân, khiến cho học sinh thụ động, bắt chước, nhưng
có tác dụng nâng cao trình độ học vấn của nhân dân, tạo ra được đông đảo
Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, xây dựng kinh tế tri thức
vào giữa những năm 90 của thế kỷ XX, cải cách giáo dục đại học trở thành
khâu đột phá. Tầm nhìn của các nước lúc này là xây dựng và phát triển nền
giáo dục mở và suốt đời, cho phép mỗi cá nhân và mọi cá nhân đều bình đẳng
và dễ dàng tiếp cận giáo dục ở bất kỳ đâu và bất cứ lúc nào. Quan điểm phát
triển của các nước này là trình độ học vấn cao hơn trong dân chúng sẽ tạo
điều kiện cho nhiều người có thể học cách ứng dụng công nghệ tiên tiến tốt
hơn. Mục tiêu chính của giáo dục đại học là cung cấp với số lượng lớn cho
nền kinh tế lực lượng lao động lành nghề, nguồn nhân lực có trình độ cao. Vì
vậy, một mặt, Chính phủ các nước đều đầu tư xây mới nhiều trường đại học
và đào tạo thêm nhiều giáo viên, mặt khác, tiến hành điều chỉnh hệ thống giáo
dục, chương trình và phương pháp giáo dục nhằm xoá bỏ mọi ngăn cách trong
10
các nhà trường, cung cấp các tri thức hiện đại, đào tạo những công dân toàn
cầu của thế kỷ XXI, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao của mỗi quốc
gia, đáp ứng được yêu cầu mới phát sinh của nền kinh tế.
Công nghiệp hoá và hiện đại hoá là quá trình thay đổi sâu sắc về mọi mặt
của đất nước, đặc biệt là về kinh tế, xã hội và môi trường thiên nhiên, trong
đó con người vừa là chủ thể vừa là đối tượng của quá trình thay đổi đó. Phát
triển giáo dục và đào tạo là nhằm tạo lập nền tảng và động lực công nghiệp
hoá và hiện đại hoá đất nước. Bằng những nỗ lực nâng cao dân trí, đào tạo
nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, bổ sung và phát triển đội ngũ trí thức, hệ thống
giáo dục quốc dân đã đóng vai trò to lớn và chủ yếu trong việc phát triển
nguồn lực con người. Vì vậy, các nước trên thế giới đều đặt giáo dục và đào
tạo vào vị trí chiến lược ưu tiên phát triển. Điều này được thể hiện rõ rệt ở
chính sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Đầu tư của nhà nước cho giáo dục
là chủ yếu, chiếm phần lớn và ổn định ở mức cao, đặc biệt trong giai đoạn
giáo dục bắt buộc. Mức đầu tư cho giáo dục được thể chế hoá. Tỷ lệ chi ngân
Sơ đồ 1.1: Quan hệ giữa tăng trƣởng và phát triển kinh tế với phát triển
GD&ĐT
(Nguồn số liệu: Bộ GD&ĐT)
Sơ đồ trên thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa giáo dục với tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Hệ thống GD&ĐT giúp con người phát triển về
nghề nghiệp và nhân cách, từ đó giúp họ có thể tham gia hiệu quả vào hoạt
động KTXH, đóng góp tích cực cho sự phát triển xã hội. Kết quả của các hoạt
động KTXH, đặc biệt là các hoạt động kinh tế sẽ làm tăng khả năng đầu tư
các nguồn tài chính cho xã hội, từ đó tác động trở lại, tạo động lực cho phát
triển giáo dục.
Giáo dục đại học có vai trò quan trọng với phát triển kinh tế điều đó
12
được thể hiện ở những khía cạnh sau:
Thứ nhất, giáo dục đại học có vai trò quan trọng đối với việc đào tạo
nguồn nhân lực có chất lượng cao từ đó góp phần tăng năng suất lao động và
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nguồn nhân lực là nguồn lực con người và là một trong những nguồn lực
quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế - xã hội. Mặc dù phát triển kinh tế xã hội được dựa trên các nguồn lực như: Nhân lực (nguồn lực con người), vật
lực (nguồn lực vật chất), tài lực (nguồn lực về tài chính, tiền tệ), … song chỉ
có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho sự phát triển, những nguồn
lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con
người. Hơn nữa, tài nguyên thiên nhiên có đa dạng, phong phú đi bao nhiêu
chăng nữa thì sau quá trình khai thác, sử dụng đến lúc sẽ cạn kiệt; nguồn tài
chính có nhiều bao nhiêu đi chăng nữa cũng bị giới hạn ở một số lượng nhất
định và cũng khó có thể đáp ứng nhu cầu phát triển. Như vậy các nguồn lực
khác đều có hạn trong khi đó nguồn lực con người – năng lực trí tuệ con
người là vô hạn.
tư vào con người của Nhật Bản.
Như vậy, giáo dục đại học là nhân tố trực tiếp làm tăng năng suất lao
động của cá nhân người lao động; từ đó góp phần tăng năng suất lao động xã
hội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, giáo dục đại học có vài trò quyết định đến phát triển và làm
chủ khoa học công nghệ hiện đại – nhân tố đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế
cao và bền vững.
Khoa học công nghệ (KHCN) có vai trò quan trọng đối với sự tăng
trưởng kinh tế của các quốc gia. Đặc biệt trong thời đại ngày nay - thời đại
của toàn cầu hoá và nền kinh tế trí thức – thì sự phát triển và làm chủ KHCN
hiện đại đã thực sự trở thành nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế cao
14
và bền vững của các quốc gia.
Lester Thurow, một trong những nhà kinh tế học hàng đầu của Hoa Kỳ
cho rằng: Vũ khí cạnh tranh kinh tế quyết định trong thế kỷ XXI là giáo dục
và kỹ năng của người lao động. Chính vì vậy, bất cứ một nước đang phát triển
nào, nếu biết đề cao tri thức và thông tin, bỏ qua chiến lược phát triển tuần tự,
chuyển sang áp dụng chiến lược nhảy vọt, tập trung công nghệ cao để tiến
hành công nghiệp hoá thì hoàn toàn có thể rút ngắn được thời gian CNH –
HĐH của mình. Chính sự tận dụng và phát huy những thành quả của cuộc
cách mạng khoa học và công nghệ mới đã làm cất cánh nhiều quốc gia với
những thành tựu phát triển KTXH vượt bậc.
Như vậy có thể thấy, sự phát triển và làm chủ KHCN chịu sự chi phối
mạnh mẽ của giáo dục đại học. Bởi lẽ, giáo dục chính là con đường cơ bản để
trang bị và phát triển tri thức của con người nhằm tạo ra người lao động
không chỉ làm chủ được những tri thức KHCN mới và hiện đại, mà còn phát
minh ra những tri thức mới để ứng dụng vào nền sản xuất xã hội.
Thứ ba, giáo dục đại học góp phần quan trọng thúc đẩy việc hình thành
hay tổ chức khác với thời hạn hoàn trả cùng với lãi suất, cách thức vay mượn
và thu hồi món vay…. Như vậy, tín dụng bao hàm cả việc cho vay và đi vay.
Nó ra đời, tồn tại và phát triển cùng với nền sản xuất hàng hoá. Trong điều
kiện nền kinh tế còn tồn tại song song hàng hoá và quan hệ hàng hoá tiền tệ
thì sự tồn tại của tín dụng là một yếu tố khách quan. Như vậy, xét về bản chất,
tín dụng là quan hệ vay mượn lẫn nhau có hoàn trả cả gốc và lãi trong một
khoảng thời gian nhất định đã được thoả thuận giữa người vay và người cho
vay.
16
Tuy nhiên, nếu chỉ gắn với một chủ thể là ngân hàng mà cụ thể là
NHCSXH thì tín dụng chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay.Có thể nói
đây là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản,
tạo ra thu nhập từ lãi lớn nhất và cũng là hoạt động mang tính rủi ro cao nhất
trong mọi hoạt động của ngân hàng.
Tín dụng đối với học sinh sinh viên là việc sử dụng các nguồn lực tài
chính do Nhà nước huy động để cho các hộ có con em là học sinh sinh viên
đang trong hoàn cảnh khó khăn về tài chính để trang trải một phần cho chi phí
học tập và nghiên cứu của các em, giúp các em yên tâm hơn trong quá trình
học tập của mình,góp phần thực hiện chương trình về mục tiêu quốc gia về cải
thiện chất lượng nguồn nhân lực
Tín dụng đối với học sinh sinh viên cũng hoạt động theo nguyên tắc:
người vay phải sử dụng vốn vay đúng mục đích xin vay và có trách nhiệm
hoàn trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi. Tuy nhiên, có một số điều kiện và mục
tiêu riêng.
Mục tiêu: Tín dụng học sinh sinh viên nhằm vào việc giúp đỡ về mặt vật
chất cho các hộ gia đình có con em đi học, giúp các em yên tâm học tập phát
huy tối đa khả năng sáng tạo đóng góp cho sự phát triển lâu dài cho đất nước,