BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
----------------------
LÂM QUANG LỘC
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO
CỦA NGƯỜI KHMER TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
----------------------
LÂM QUANG LỘC
NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÌNH TRẠNG NGHÈO
CỦA NGƯỜI KHMER TẠI ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Ngành: Chính sách công
Mã ngành: 60340402
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
và cô vì những chia sẻ vô cùng quý báu về công việc và cuộc sống.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các anh chị và các bạn tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế
Fulbright, đã giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện luận văn này.
Lâm Quang Lộc
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 06 năm 2014
iii
TÓM TẮT
Trong những năm vừa qua, các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long đã thực hiện thành công việc
thúc đẩy phát triển kinh tế đi kèm với xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên đồng bào dân tộc Khmer đến
nay vẫn có tỷ lệ nghèo cao hơn người dân thuộc các dân tộc khác nơi đây. Một trong những lý do dẫn
đến tình trạng này là người ta chỉ biết được nhân tố ảnh hưởng đến nghèo của người dân
ở Đồng bằng Sông Cửu Long nói chung, chứ chưa nắm được nhân tố riêng ảnh hưởng đến nghèo
ở người Khmer.
Nghiên cứu này sử dụng cả phương pháp định lượng và phương pháp định tính để tìm ra những
nhân tố ảnh hưởng đến nghèo ở người Khmer. Trước hết, nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu điều tra
mức sống hộ gia đình VHLSS 2010 để ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo. Sau đó tác
giả tiến hành phỏng vấn một số chuyên gia để kiểm tra về sự phù hợp của kết quả nghiên cứu
định lượng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của người Khmer tại
Đồng bằng Sông Cửu Long là: giáo dục, khoản tín dụng nhận được, diện tích đất bình quân, việc
hộ tham gia kinh doanh và dịch vụ, hộ ở khu vực nông thôn hay thành thị, hộ ở địa bàn có chợ
liên xã, hộ ở xã thuộc chương trình 135, hộ ở Trà Vinh hay không, giới tính chủ hộ, quy mô hộ,
tỷ lệ phụ thuộc và văn hóa của người Khmer.
Trong những nhân tố kể trên, thì hầu hết các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo ở người Khmer đều
giống với những dân tộc khác ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Riêng yếu tố văn hóa là một nhân tố
đặc trưng ảnh hưởng đến nghèo ở người Khmer mà nghiên cứu tìm ra. Ở người Khmer phổ biến
Mục tiêu nghiên cứu..........................................................................................................2
1.3
Câu hỏi nghiên cứu........................................................................................................... 2
1.4
Phương pháp nghiên cứu:..................................................................................................2
1.5
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................................................3
1.6
Cấu trúc của đề tài.............................................................................................................3
1.7
Tóm tắt chương 1..............................................................................................................3
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT.................................................................................................4
2.1
Khái niệm về nghèo...........................................................................................................4
2.2
Xác định ngưỡng nghèo....................................................................................................5
3.1
Nghiên cứu định lượng....................................................................................................16
v
3.1.1 Chọn lựa mô hình ước lư
3.1.2 Mô hình ước lượng ........
3.1.3 Mô tả biến ......................
3.2Nghiên cứu định tính .......................................................................
3.3Dữ liệu trong nghiên cứu..................................................................
3.4Tóm tắt chương 3 ............................................................................
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ...................................................................................
4.1Phân tích thống kê mô tả .................................................................
4.2Phân tích tương quan .......................................................................
4.3Kết quả ước lượng những nhân tố tác động đến tình trạng nghèo c
Đồng bằng Sông Cửu Long .............................................................
4.4Kết quả nghiên cứu định tính ..........................................................
4.4.1 Phỏng vấn chuyên gia ....
vii
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2-1: Khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo....................................................... 6
Hình 2-2: Khung phân tích tổng hợp những nhân tố ảnh hưởng đến nghèo...................................8
Hình 2-3: Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết..............................................................12
Hình 4-1: Mô phỏng tác động biên của từng yếu tố lên xác suất nghèo ở hộ Khmer...................32
Hình 4-2: Mô phỏng tác động biên của từng yếu tố lên xác suất nghèo ở hộ không thuộc dân tộc
Khmer............................................................................................................................................ 33
ĐBSCL
GSO
HĐND
UBND
USD
1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Chương 1 nêu ra vấn đề nghiên cứu, ý nghĩa của nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu.
Trong chương này cũng nêu ra đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cấu trúc của đề tài. Những
nội dung được đề cập trong chương 1 mang ý nghĩa định hướng cho những công việc sẽ được
thực hiện trong các chương sau.
1.1 Vấn đề nghiên cứu và ý nghĩa nghiên cứu
Hiện nay tại ĐBSCL có rất nhiều đồng bào dân tộc Khmer sinh sống. Người Khmer sống rải
rác ở khắp các tỉnh thuộc ĐBSCL, trong đó tập trung nhiều nhất ở các tỉnh Sóc Trăng
(31.5%), Trà Vinh (25.2%), Kiên Giang (16.7%) (Tổng cục thống kê, 2013). Cuộc sống của
người Khmer nơi đây nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn. Họ có mức thu nhập thấp, hạn chế
trong chính sách giảm nghèo cho người Khmer. Việc giảm nghèo và nâng cao đời sống của
người dân tộc Khmer không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn góp phần ổn định tình hình chính
trị, an ninh xã hội tại khu vực này.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm tìm ra những nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động của chúng đến tình
trạng nghèo của người Khmer tại ĐBSCL. Nghiên cứu cũng hướng đến việc đưa ra gợi ý
chính sách nhằm giảm nghèo một cách hiệu quả cho đồng bào người Khmer tại khu vực này.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm trả lời những câu hỏi sau đây:
Câu hỏi 1: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của người Khmer tại Đồng bằng
Sông Cửu Long và mức độ tác động của những nhân tố đó ra sao?
Câu hỏi 2: Cần đưa ra những chính sách nào để giảm nghèo một cách hiệu quả cho người
Khmer tại Đồng bằng Sông Cửu Long?
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu được thực hiện bằng cả phương pháp định lượng và phương pháp định tính.
Trước hết, nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu điều tra mức sống hộ gia đình VHLSS 2010 để ước
lượng các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo của người Khmer tại Đồng bằng Sông
Cửu Long. Sau đó tác giả tiến hành phỏng vấn một số chuyên gia để kiểm tra lại kết quả
nghiên cứu định lượng, đồng thời tìm hiểu về giải pháp giảm nghèo cho người Khmer.
3
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình trạng nghèo của người Khmer. Phạm vi nghiên cứu
của đề tài là vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.
1.6 Cấu trúc của đề tài
Đề tài này bao gồm năm chương. Chương 1 là phần giới thiệu về bối cảnh và ý nghĩa của
nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi
nghiên cứu. Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết và mô hình đề xuất. Chương 3 trình bày
phương pháp nghiên cứu. Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu. Chương 5 trình bày phần
Ngân hàng Thế giới đã không ngừng chỉnh sửa, bổ sung những cách tiếp cận khác nhau về
nghèo trong những báo cáo của mình. Trong Báo cáo phát triển Việt Nam năm 1990, Ngân
hàng Thế giới cho rằng nghèo là tình trạng thiếu thốn các sản phẩm và dịch vụ thiết yếu như
giáo dục, y tế, dinh dưỡng. Đến giai đoạn 2000 - 2001, Ngân hàng Thế giới bổ sung vào khái
niệm về nghèo những nét mới như tình trạng bị gạt ra bên lề xã hội hay tình trạng dễ bị tổn
thương. Tổ chức này cho rằng người nghèo dễ bị tổn thương trước những sự kiện bất thường
mà họ không có khả năng kiểm soát và thường bị các thể chế của nhà nước và xã hội đối xử
tệ, và họ bị gạt ra bên lề xã hội (Nguyễn Đỗ Trường Sơn, 2012).
5
2.2 Xác định ngưỡng nghèo
Nghèo có thể được đo lường cả bằng cách tuyệt đối lẫn bằng cách tương đối. Nếu đo lường
theo cách tuyệt đối, thì nghèo được xác định như là thu nhập hay tiêu dùng dưới một mức tối
thiểu cần thiết cho nhu cầu vật chất. Theo Ngân hàng Thế giới, mức thu nhập 1 USD mỗi
ngày là tiêu chuẩn để xác định ngưỡng nghèo cùng cực, dựa vào nhu cầu dinh dưỡng tối
thiểu. Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì ngưỡng nghèo được xác định dựa trên nhu cầu
calorie mà một người cần hấp thụ để có sức khỏe tốt. Rổ hàng hóa để đáp ứng nhu cầu dinh
dưỡng tối thiểu đó được xây dựng dựa trên các loại thực phẩm phổ biến ở địa phương, và
được quy đổi thành giá trị tiền tệ. Sau đó, chi phí cho những nhu cầu cơ bản khác như nhà ở,
y tế, vệ sinh được thêm vào, theo một tỷ lệ so với nhu cầu dinh dưỡng (Pincus, 2013).
Nếu đo lường theo cách tương đối, thì nghèo được xác định bằng việc đo lường thu nhập và
chi tiêu của hộ gia đình so với thu nhập và chi tiêu của cộng đồng. So sánh với thước đo
nghèo tuyệt đối, thì thước đo nghèo tương đối có một lợi thế là được tự động nâng lên khi thu
nhập của toàn xã hội gia tăng. Bên cạnh đó, nó cũng đỡ nhạy cảm hơn đối với sự thay đổi về
giá của một số loại hàng hóa nhất định. Ví dụ, ở Việt Nam, ngưỡng nghèo được xác định
bằng con số tuyệt đối, nên khi giá gạo tăng lên sẽ làm cho nhiều hộ gia đình rơi vào tình
trạng nghèo hơn. Tuy nhiên, trong thực tế, những hộ này có thể sử dụng những loại ngũ cốc
khác thay thế cho gạo, ví dụ như khoai, bắp. Vì vậy, những hộ đó chưa hẳn đã nghèo hơn so
với trước đây. Điều này làm cho tỷ lệ nghèo trong thực tế không thay đổi nhiều lắm. Ngưỡng
Yếu tố môi trường:
Thể chế, chính sách, cạnh tranh, cơ sở hạ tầng
Yếu tố sả n xuất:
Lao động, vốn con người,
vốn vật chất, đất đai, kỹ thuật
Chi tiêu bình quân thực của hộ gia đình
Nguồn: Andersson và các tác giả (2006)
7
Khung phân tích trên đã khái quát các nhóm nhân tố đặc trưng, và sự ảnh hưởng qua lại của
các nhóm nhân tố này đến chi tiêu bình quân của hộ gia đình, từ đó tác động đến đến việc rơi
vào tình trạng nghèo của hộ. Trong phần lõi của mô hình là những nhân tố liên quan đến khả
năng sản xuất của hộ gia đình bao gồm: lao động, vốn con người, vốn vật chất, đất đai, kỹ
thuật. Khả năng hộ gia đình phát huy những nhân tố sản xuất đó phụ thuộc vào các yếu tố về
môi trường, bao gồm: thể chế, chính sách, sự cạnh tranh, cơ sở hạ tầng. Cuối cùng, khả năng
phát huy tối đa hiệu quả của hai nhóm nhân tố kể trên lại chịu ảnh hưởng của các nhân tố về
đặc tính nhân khẩu của hộ gia đình là: quy mô hộ gia đình, tỷ lệ phụ thuộc. Sự cộng gộp của
cả ba nhóm yếu tố gồm yếu tố sản xuất, yếu tố môi trường và yếu tố liên quan đến đặc điểm
hộ gia đình sẽ góp phần quan trọng nhất ảnh hưởng đến chi tiêu bình quân của hộ. Bên cạnh
đó, yếu tố dân tộc có sự tác động tổng hợp đến cả ba nhóm yếu tố đặc điểm hộ gia đình, yếu
tố môi trường, và yếu tố sản xuất.
Bảng 2-1: Những nhân tố ảnh hưởng đến nghèo
Phân theo đặc tính
Đặc điểm ở cấp độ vùng
Yếu tố sản xuất
Giáo dục
Diện tích đất
bình quân
Tiếp cận tín
dụng
Tham gia
kinh doanh
dịch vụ
9
Dựa vào khung phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến nghèo nói trên, ta tìm hiểu về
khuynh hướng tác động của từng nhân tố.
2.3.1 Nhóm 1: Các yếu tố sản xuất
Trình độ giáo dục
Todaro (1997) chỉ ra rằng trình độ học vấn của một người tỷ lệ thuận với mức thu nhập
của người đó. Những người có trình độ học vấn cao thường tìm được những công việc ổn
định và có mức thu nhập cao. Những người có trình độ học vấn thấp thường phải chấp
nhận những công việc bấp bênh với mức thu nhập thấp.
Nghiên cứu của Trương Bích Phương (2010) chỉ ra rằng nghèo và trình độ học vấn có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Người nghèo chủ yếu là người không có bằng cấp hoặc
chỉ tốt nghiệp tiểu học. Người có trình độ học vấn cao hơn thường có mức thu nhập cao
hơn. Người có trình độ học vấn thấp thường có kỹ năng lao động kém, không đáp ứng
đói là một hiện trạng đặc thù của nông thôn. Nghiên cứu của Bird, Hulme, Moore và
Shepherd (2002) cho rằng những hộ dân sống ở khu vực nông thôn có xu hướng nghèo
cao hơn những hộ dân sống ở khu vực thành thị.
Chợ
Chợ là một trong những tiêu chí dùng để đo lường khả năng tiếp cận của hộ gia đình đối
với thị trường và thông tin thị trường. Khả năng tiếp cận này càng cao thì khả năng nghèo
của hộ càng giảm đi. Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Trường Sơn (2012) cho thấy rằng hộ
sinh sống trong địa bàn có chợ thì xác suất nghèo giảm xuống so với hộ sinh sống trong
địa bàn không có chợ.
Đường giao thông
Walle và Cratty (2002) cho rằng cải tạo đường nông thôn có thể giúp giảm tình trạng
nghèo của người dân một cách tích cực. Dự án diễn đàn miền núi Ford (2004) cho rằng
phần lớn các hộ sống trong những xã không có đường ô tô đi qua có nhiều khả năng rơi
vào tình trạng nghèo hơn các hộ sống trong những xã có đường ô tô đi qua.
11
Địa bàn cư trú
Mukherjee và Benson (2003) chỉ ra một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của
người dân là địa bàn cư trú của hộ. Địa bàn cư trú có ảnh hưởng quan trọng đến tình trạng
nghèo của hộ gia đình vì những đặc điểm của địa bàn cư trú như cơ sở hạ tầng kỹ thuật,
trình độ quản lý của chính quyền địa phương, các chính sách được ban hành, sự tập trung
của các cơ sở sản xuất kinh doanh góp phần quan trọng trong việc ảnh hưởng đến tình
trạng nghèo của người dân trong địa bàn. Trong điều kiện Việt Nam, địa bàn cư trú bao
gồm hộ có ở xã thuộc vùng sâu vùng xa hay không, hộ có ở xã thuộc diện 135 hay không,
hộ có ở tỉnh Trà Vinh hay không.
2.3.3 Nhóm 3: Các yếu tố liên quan đến đặc điểm của hộ gia đình
Tuổi chủ hộ
Tokunbo và Osinubi (2003) chỉ ra rằng tuổi chủ hộ là một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng nghèo của hộ gia đình. Owuor, Ngigi, Ouma và Birachi (2007) cho rằng
2.4 Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
Từ việc xem xét những nghiên cứu đã có trước đây, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu
với những giả thuyết như sau:
Hình 2-3: Mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết
Nghèo
Yếu tố sản xuất
H1
Giáo dục
(-)
H2
Diện tích đất bình
(-)
H3
(-)
quân
Khoản tín dụng
H4
Tham gia kinh
dấu âm (làm cho xác suất nghèo của hộ Khmer giảm đi), và ngược lại. Ví dụ: Biến “Quy
mô hộ” mang dấu dương nghĩa là khi quy mô hộ càng tăng thì làm cho xác suất nghèo
của hộ càng tăng, nhưng với người Khmer thì khi hoàn cảnh khó khăn, họ sẽ cố gắng
nhiều hơn nên biến tương tác “Khmer * Quy mô hộ” sẽ mang dấu âm.