Một số biện pháp dạy từ vựng tiếng anh cho học sinh tiểu học - Pdf 68

1. Phần mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
Nhằm bắt kịp với xu thế hội nhập toàn cầu, ngành giáo dục Việt Nam
đang ngày một hội nhập cùng thế giới. Hiểu rõ tầm quan trọng của ngành
giáo dục hiện đại là đào tạo ra những con người có thể bắt kịp xu thế hội
nhập toàn cầu. Làm thế nào để chuẩn bị tốt kiến thức ngoại ngữ thì có lẽ đa
số học sinh phải chuẩn bị tiếng Anh ngay từ khi ở bậc tiểu học. Việc cải
tiến phương pháp dạy học theo hướng tích cực, phát huy tính chủ động
sáng tạo và năng lực tự học của học sinh là giải pháp cơ bản để nâng cao
chất lượng giáo dục.Bên cạnh việc nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên
giảng dạy, việc thiết kế chương trình giảng dạy cũng phải phù hợp cho từng
đối tượng học sinh của từng bậc học. Tạo được khả năng tư duy và phát
triển khả năng học tập một cách độc lập, tạo niềm say mê, thích thú cho cả
thầy và trò trong quá trình giảng dạy và học tập môn tiếng Anh. Trong quá
trình học ngoại ngữ, từ vựng có thể xem là phần quan trọng nhất vì nó là
phương tiện dùng để diễn đạt ý tưởng đồng thời đó cũng là cầu nối giữa các
kĩ năng nghe, nói, đọc và viết. Tuy nhiên, việc dạy từ vựng lại không đơn
giản chút nào, nhất là dạy cho trẻ đang ở ngưỡng bắt đầu học ngoại ngữ.
Dạy tiếng Anh nói chung và dạy từ vựng nói riêng cho trẻ đòi hỏi ở người
giáo viên không chỉ có khả năng ngôn ngữ mà còn là cách làm thế nào để
khiến học sinh tham gia vào bài học. Để làm được điều đó, giáo viên buộc
phải tạo ra sự đa dạng trong các hoạt động trong giờ học. Hơn nữa việc
giao tiếp của trẻ ở những vùng nông thôn vẫn còn nhiều hạn chế. Muốn
giao tiếp được bằng tiếng Anh đòi hỏi học sinh song song với việc rèn
luyện các kỹ năng là học từ vựng và có vốn từ vựng nhất định. Đó là lí do
tại sao giáo viên cần lựa chọn và phối hợp các phương pháp và kỹ thuật dạy
từ một cách linh hoạt và uyển chuyển để duy trì khả năng tập trung vốn
kém ở học sinh tiểu học. Làm thế nào để các em có được vốn từ vựng cần
thiết và có thể sử dụng một cách hiệu quả nhất.Đó là lý do tôi chọn đề tài:
Một số biện pháp dạy từ vựng tiếng Anh cho học sinh tiểu học. Với hy
vọng góp phần nhỏ bé vào việc nâng cao chất lượng học tập bộ môn Tiếng

2.2. Thực trạng
2.2.1. Thuận lợi
- Chương trình sách giáo khoa có nội dung, kiến thức phù hợp với
thực tế cuộc sống của học sinh và có nhiều tranh ảnh đẹp, dễ bắt mắt, tạo
hứng thú cho học sinh.
- Giáo viên tự sưu tầm, làm thêm đồ dùng dạy học để thực hiện tốt
việc dạy từ vựng, gây hứng thú, óc tò mò và phát huy tính chủ động của
học sinh.
- Một số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em
mình.
- Sự phát triển của công nghệ thông tin giúp giáo viên có được nguồn
tài liệu phong phú.
- Giáo viên nhiệt tình, có trách nhiệm trong công tác giảng dạy môn
Tiếng Anh.
2.2.2. Khó khăn


Qua thực tế giảng dạy môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học trong những năm
qua, tôi nhận thấy một số nguyên nhân của việc hạn chế như sau:
- Tiếng Anh vẫn là một môn học tự chọn nên động cơ và ý thức học
tập của học sinh chưa cao.
- Học sinh tiểu học rất hiếu động , dễ mất tập trung nên việc dạy ngôn
ngữ mới cho các em gặp không ít khó khăn.
- Đa số các em còn thụ động trong tư duy, khả năng phán đoán nghĩa
của từ còn hạn chế.Nhiều học sinh còn nhút nhát, thiếu tự tin, ngại phát âm,
thực hành giao tiếp.
- Các em chưa nắm được phương pháp tự học ở nhà.
- Trang thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế.
- Cơ hội thực hành tiếng Anh ít.
- Hạn chế về thời gian và các hình thức trò chơi.

giúp đỡ của giáo viên và các bạn. Để làm được điều đó ngành giáo dục phải
tạo ra môi trường thuận lợi cũng như cung cấp những nguồn thông tin hữu
ích, những giáo trình đã được chọn lựa cẩn thận và điều chỉnh phù hợp với
lứa tuổi cũng như cơ hội luyện tập thích hợp.
Về phía giáo viên cần xác định được những vấn đề sau đây nhằm nâng
cao hiệu quả dạy từ vựng cho học sinh Tiểu học:
- Nguyên tắc dạy tiếng Anh cho học sinh tiểu học.
- Lựa chọn từ để dạy.
- Các biện pháp dạy từ vựng.
- Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới.
- Các thủ thuật kiểm tra từ vựng và biện pháp chống quên từ.
2.4.1. Nguyên tắc dạy tiếng Anh cho học sinh tiểu học
Học sinh tiểu học thời gian tập trung ít và còn ham chơi. Để học sinh
tập trung vào bài học, giáo viên cần tuân theo những nguyên tắc dạy học
sau:
* Chơi hơn dạy
Đây là phương pháp “ Dạy mà không dạy”, trong đó giáo viên tạo
hứng thú học tập cho học sinh, tạo sân chơi đa dạng, nhiều màu sắc bằng
tiếng Anh cho học sinh, học sinh làm chủ sân chơi và từng bước bổ sung
vào các hoạt động khác nhau.
* Hoạt động, hình ảnh hơn lý thuyết
Hình ảnh, trò chơi, nhạc họa, diễn kịch ……. là các hoạt động nhằm
giúp học sinh tham gia vào môi trường sử dụng tiếng Anh một cách tự
nhiên, không gượng ép. Các hoạt động đa dạng sẽ giúp học sinh từng bước
hình thành phong cách riêng trong học tập.
* Học cụ hơn giáo trình
Dạy tiếng Anh cho học sinh tiểu học cần chú ý những học cụ ( kể cả
bài hát, trò chơi, chant……) bình thường dễ kiếm để làm tăng hoạt động
của các em.
* Nghe- Nói nhiều hơn Đọc- Viết

+ Use
Đối với từ chủ động ta chỉ cho học sinh biết chữ viết và dịch nghĩa
như từ điển thì chưa đủ, để cho học sinh biết cách dùng chúng trong giao
tiếp, giáo viên cần cho học sinh biết cách phát âm, không chỉ từ riêng lẻ,
mà còn biết phát âm đúng những từ đó trong chuỗi lời nói, đặc biệt là biết
nghĩa của từ.


- Số lượng từ cần dạy trong bài tùy thuộc vào nội dung bài và trình độ
của học sinh. Không bao giờ dạy tất cả các từ mới vì sẽ không có đủ thời
gian thực hiện các hoạt động khác. Tuy nhiên, trong một tiết học ở tiểu học
theo tôi chỉ nên dạy tối đa là 6 từ. Trong khi lựa chọn từ để dạy, tôi xem xét
đến hai điều kiện sau:
+ Từ cần thiết cho việc hiểu văn bản không?
+ Từ đó có khó so với trình độ của học sinh không?
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản và phù hợp với trình độ
của học sinh, thì nó thuộc nhóm từ tích cực, do đó ta phải dạy cho học sinh.
- Nếu từ đó cần thiết cho việc hiểu văn bản nhưng khó so với trình độ
của học sinh, thì nó không thuộc nhóm từ tích cực, do đó ta nên giải thích
rõ cho học sinh hiểu nghĩa của từ đó ngay.
- Nếu từ đó không cần thiết cho việc hiểu văn bản và cũng không khó
lắm thì nên yêu cầu học sinh đoán.
2.4.3. Các biện pháp dạy từ vựng
Giáo viên có thể dùng một số thủ thuật gợi mở, giới thiệu từ vựng
giúp các em học sinh tiếp thu từ một cách chủ động.
* Visual( trực quan)
Đồ vật thật trên lớp, tranh, ảnh, hình vẽ phác họa có tác dụng mạnh
mẽ đến hứng thú học tập của học sinh và giúp học sinh ghi nhớ nhanh hơn,
lâu hơn. Phần lớn những hình ảnh trong sách giáo khoa đều có thể sử dụng
để giới thiệu từ.

* Synonym/ Antonym( từ đồng nghĩa/ từ trái nghĩa)
Ta sử dụng từ đồng nghĩa hoặc trái nghĩa để làm rõ nghĩa của một từ
khi học sinh đã biết nghĩa của một từ trong cặp từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
Ví dụ:
Tall # short
New # old
Thin # fat……
nice- beatiful
bookstore- boookshop…..
* Situation/ Explanation( tình huống/ giải thích)
Giáo viên thiết lập tình huống đơn giản, dễ hiểu bằng tiếng Anh, học
sinh đoán nghĩa qua tình huống, có thể bắt chước sử dụng từ vào ngữ cảnh
giao tiếp và rèn kỹ năng nghe.
Ví dụ: My school is small. There are ten classrooms.
Lan’s school is big. There are nineteen classrooms.
* Example( ví dụ)
Giáo viên đưa ra các ví dụ cụ thể liên quan đến từ sắp học tạo sự tò
mò và hấp dẫn học sinh.

Bananas, apples, pears, grapes are fruit.
* Translation( Dịch)
Giáo viên dùng những từ tương đương trong tiếng Việt để giảng nghĩa
từ trong tiếng Anh. Giáo viên chỉ sử dụng thủ thuật này khi không còn cách
nào khác, thủ thuật này thường được dùng để dạy từ trừu tượng, hoặc để
giải quyết một số lượng từ nhiều nhưng thời gian không cho phép, giáo
viên gợi ý cho học sinh tự dịch từ đó. Cần lưu ý nếu giáo viên thường
xuyên sủ dụng thủ thật này sẽ gây cho học sinh cảm giác đơn điệu, nhàm
chán, không phát huy được tính tư duy, sáng tạo của các em.
* Dựa vào các quy tắc hình thành từ, tạo từ



Trên đây là những biện pháp dạy từ vựng cho học sinh, tuy nhiên
trong quá trình giới thiệu từ mới giáo viên nên phối hợp các kỹ thuật với
nhau. Chẳng hạn giáo viên thiết lập tình huống bằng tiếng Anh, học sinh sẽ
cố gắng nghe và đoán từ trong ngữ cảnh, kết hợp thể hiện bằng động tác,
điệu bộ và yêu cầu học sinh đặt câu sử dụng từ đó.
Ví dụ: Sự phối hợp giữa các kỹ thuật để dạy từ “ jump”.
- Cho học sinh xem tranh
- Giáo viên thực hiện động tác
- Học sinh bắt chước động tác
- Đưa ra ví dụ
- Dịch sang tiếng Việt
Ví dụ: T: Look: She can jump.
T: Now, look at me. I can jump.( giáo viên thực hiện động tác)
T: He can jump( gọi một học sinh nhảy)
T: Jump, jump
Ss: Jump
T: What does it mean in Vietnamese?
Ss: nhảy ( học sinh dịch sang tiếng Việt)
2.4.4. Tăng cường sự tham gia của học sinh ở bước giới thiệu từ mới
Như đã đề cập điểm nổi bật của phương pháp dạy học mới là tạo cho
học sinh được tham gia vào quá trình học tập. Vậy tăng cường sự tham gia
của học sinh ở bước giới thiệu từ mới là cần thiết. Nếu giáo viên tạo điều
kiện cho học sinh tham gia vào quá trình dạy từ mới thì kết quả tiếp thu bài
của học sinh sẽ tốt hơn nhiều, các em sẽ ghi nhớ từ tại lớp và vận dụng vào
ngũ cảnh một cách dễ dàng. Để làm được điều đó, giáo viên cần tìm kiếm
và sử dụng những thủ thuật phát huy sự chủ động, suy đoán, tự phát hiện
của học sinh.
2.4.5. Các thủ thuật kiểm tra từ vựng và biện pháp chống quên từ
Sau khi từ vựng đã được dạy, giáo viên cần tổ chức cho học sinh thực

sao.
* What and Where
Giáo viên viết một số từ lên bảng không theo một trật tự nhất định và
khoanh tròn chúng.
- Xóa một từ nhưng không xóa vòng tròn bên ngoài.
- Cho học sinh đọc các từ kể cả các từ bị xóa.
- Xóa từ khác tiếp tục cho đến khi xóa hết tất cả các từ còn lại.
- Học sinh lên bảng viết lại các từ vào đúng chỗ cũ.


* Bingo
Sử dụng trò chơi này nhằm tăng cường năng lực ghi nhớ và nghe hiểu
của học sinh. Trò chơi này thích hợp để củng cố các từ về chủ đề như: số
đếm, bảng chữ cái, từ chỉ nghề nghiệp, màu sắc, quả, con vật, trang
phục……..
- Giáo viên hco một số từ đã học.
- Mỗi học sinh chọn từ trong số các từ đó và viết vào vở.
- Giáo viên đọc các từ không theo trật tự.
- Học sinh đánh dấu vào từ đã chọn khi nghe giáo viên đọc từ đó.
- Học sinh nào đánh dấu được 3,4 hoặc 5 ô vuông theo hàng ngang,
hoặc trên xuống hoặc theo đường chéo thì nói “ Bingo” và học sinh đó
thắng cuộc.
* Crossword
Để kiểm tra vốn từ vựng của các em tôi cũng thường xuyên cho các
em chơi trò chơi ô chữ, thông qua hình ảnh gợi ý, các em đoán các chữ cần
tìm, nếu đội nào đoán được nhiều ô chữ đúng sẽ thắng cuộc.


* Matching
Đây cũng là một hoạt động rất phổ biến trong tiết dạy từ vựng.Học

viết vào bảng con.


2.4.5.2.Ôn từ vựng qua các bài hát, các bài chant
Giáo viên luôn phải giới thiệu và cho luyện tập từ vựng trong một ngữ
cảnh cụ thể để làm rõ hơn và để những trải nghiệm trở nên đáng nhớ hơn.
Các bài hội thoại, bài hát, bài chant đều là những cách hữu hiệu nhằm ngữ
cảnh hóa ngôn ngữ để chúng ta dễ hiểu và dễ nhớ hơn.
Trong lớp học tiếng Anh, từ vựng được ghi nhớ hiệu quả nhất qua
các bài hát có nhiều đoạn lặp lại với nhịp điệu khoẻ và giai điệu dễ nhớ.
Thực ra, giáo viên có thể tự sáng tạo ra một giai điệu đều đều cho hầu hết
các cấu trúc hay chuỗi từ định dạy. Miễn là đảm bảo nhấn đúng trọng âm,
thì việc hát những cụm từ ngắn, hay thậm chí cả những câu hỏi và câu trả
lời đơn giản sẽ kích thích học sinh phát âm và lưu ngôn ngữ vào bộ nhớ.
Ví dụ: Sing a song “Are you happy?”
Are you

?

Yes, I am. Yes, I am.
Are you

?

No, I’m not. No, I’m not.
Are you

?

Yes, I am.

với bản thân.
- Ôn lại từ mới vừa học một cách thường xuyên.
Tuy nhiên, không có phương pháp nào là tốt nhất trong số những
phương pháp đã nêu vì mỗi phương pháp lại giúp học sinh học từ vựng
theo một cách khác nhau. Khi học từ vựng, học sinh thường phải sử dụng
rất nhiều phương pháp khác nhau mà có khi chính các em cũng không nhận
thấy. Hiệu quả của việc tự học từ vựng phụ thuộc rất nhiều vào việc học
sinh kết hợp những phương pháp học đơn lẻ như thế nào. Nhiệm vụ của
giáo viên trong trường hợp này là tạo ra được nhiệm vụ học tập để giúp học
sinh làm giàu vốn từ vựng và nắm vững phương pháp tự học từ vựng.
2.4.5.4. Dạy học sinh cách ghi chép bài
Giúp học sinh sắp xếp những ghi chép trên lớp sao cho thật khoa học,
hiệu quả và hữu ích. Hướng dẫn những cách khác nhau để trình bày cuốn
sổ từ vựng và để học sinh tự mình quyết định xem cách nào hiệu quả nhất
đối với các em. Đừng quên chỉ ra cho học sinh ích lợi của việc ghi lại ví dụ
minh họa.
Ví dụ: Dùng family tree để ghi chép tên các thành viên trong gia đình:


2.4.5.5. Dạy học sinh cách liên tưởng
Ngôn ngữ liên hệ thường dễ nhớ hơn là ngôn ngữ không có kết nối
gì. Đó là lý do tại sao phương pháp tốt nhất là dạy từ vựng theo chủ điểm
hoặc theo chuỗi các từ vựng có chung gốc.
Lập ra các nhóm từ vựng theo chủ đề bằng cách vẽ sơ đồ tư duy:
+ Học sinh làm việc theo nhóm, tìm những thông tin về chủ điểm đã
cho, sau đó so sánh với các nhóm.
+ Giáo viên tập hợp các thông tin phản hồi từ học sinh.
+ Thưởng cho nhóm liệt kê được đúng và nhiều từ thuộc chủ đề, và
hoàn thành trước nhất.


hoạt động, làm việc tích cực hơn.Các em học sinh yếu kém có thể sử dụng
được từ vựng vào những câu dơn giản. Giáo viên cũng sẽ cảm thấy yêu
nghề hơn, tự thấy mình phải có trách nhiệm hơn, nghiêm túc hơn, nhiệt tình
hơn trước ánh mắt khát khoa kiến thức mới của học sinh. Qua khảo sát chất
lượng sau khi áp dụng đề tài này tôi nhận ra rằng học sinh có chuyển biến
rõ rệt. Nhìn chung học sinh yêu thích môn học hơn.Hiểu bài và nắm bài tốt.
Việc rèn luyện bốn kỹ năng ở mức độ khá tốt. Khả năng vận dụng ngôn
ngữ khá.
Năm học 2018- 2019 tôi được phân công giảng dạy Tiếng Anh khối 5
& khối 4B
Lớp

Số học sinh

Điểm 5-6

Điểm 7-8

Điểm 9-10

5A

32

6

14

12



3. Phần kết luận
3.1. Ý nghĩa của đề tài
Trên đây là phương pháp dạy học cùng với thực tế giảng dạy của bản
thân tôi. Thành công của việc dạy từ vựng phụ thuộc trước hết vào bầu
không khí giao tiếp lời nói cần thiết mà giáo viên tạo ra trong lớp học.
Ngoài ra, giáo viên phải có phương pháp để tất cả học sinh có thể nhớ từ
một cách hiệu quả. Giáo viên cần cố gắng áp dụng các phương pháp một
cách linh hoạt sao cho phù hợp với nội dung bài và phù hợp với đối tượng
học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần khéo léo sử dụng các thủ thuật
nhằm kích thích hứng thú học tập của học sinh và giúp cho các em học tập
có kết quả.
Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh trong học
tập thì chúng ta cần tổ chức quá trình dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt
động của người học.Bản thân giáo viên luôn luôn học tập, làm cho học sinh
bất ngờ về khả năng làm mới phong cách dạy của mình là thành công lớn
của thầy cô trong việc thu hút học sinh học môn tiếng Anh.Tùy từng hoàn
cảnh, thời gian, địa điểm và điều kiện vật chất, tinh thần cụ thể mà giáo
viên có thể sáng tạo ra cách giảng dạy từ vựng mới.
Giáo viên hạn chế giao bài tập về nhà cho học sinh, động viên học
sinh hoàn thành bài tập tại lớp.
Để hưởng ứng phong trào đổi mới phương pháp dạy học và soạn bài
theo hình thức VNEN ở trường tiểu học với tư cách là một giáo viên dạy bộ
môn ngoại ngữ tôi rất mong muốn góp một phần nhỏ bé của mình cùng các
thầy cô và đồng nghiệp xây dựng phương pháp dạy học mới ngày càng
chuẩn mực, có hiệu quả hơn giúp cho các em học sinh ngày càng thích học
ngoại ngữ, có thể học tập chủ động, giao tiếp bằng chính khả năng của
mình.
Với việc áp dụng chương trình mới như hiện nay, đặc biệt là phong
trào thi Olympic Tiếng Anh qua mạng đang được đề cao thì việc áp dụng đề

cuộc sống. Thương xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
cũng như khen ngợi, động viên nhắc nhở kịp thời. Ngoài ra giáo viên cũng
nên thường xuyên đi dự giờ đồng nghiệp trên cơ sở đó để góp ý và học hỏi
kinh nghiệm lẫn nhau.
Đối với học sinh, yêu cầu các em luôn luôn có thói quen ôn tập để
khắc sâu kiến thức cũ, khuyến khích học sinh học tập và sử dụng từ vựng
tiếng Anh trong giao tiếp. Có ý thức tự học để tự mình nâng cao kiến thức.
Đây là những biện pháp dạy từ vựng tiếng Anh cho học sinh tiểu học
mà tôi đưa ra. Rất mong được sự đón nhận những ý kiến đóng góp của các
thầy, cô để trau dồi chuyên môn trong quá trình giảng dạy.
XÁC NHẬN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC HUYỆN
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................
..................................................................................................................................


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phan Hà, "Bí quyết học từ vựng tiếng Anh", NXB Giáo dục
(2003).
2. Hoàng Tất Trường, ''Từ vựng học tiếng Anh cơ bản", Trường
ĐHSP Ngoại Ngữ Hà Nội.
3.Phạm Phương Luyện- Hoàng xuân Hoa, "Bồi dưỡng phương pháp
dạy tiếng Anh", NXB Giáo dục (1999).
4. ''Sổ tay người dạy tiếng Anh'', NXB giáo dục
5. Barry Sesnan, " How to teach English'', Oxford University Press
(2001).
6. Các tạp chí về giáo dục.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status