Nâng cao năng lực đội ngũ công chức các phòng ban chuyên môn thuộc UBND huyện bắc mê tỉnh hà giang - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
----------O0O---------Triệu Trung Hiệp

NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
CÁC PHÕNG BAN CHUYÊN MÔN THUỘC UBND
HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
Mã số: 60340410

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: GS – TS Phan Huy Đƣờng

Hà Nội- năm 2015


1


PHỤ LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
Chƣơng1 : TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN
VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN , THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC
CỦA ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CÁC PHÕNG, BAN CHUYÊN MÔN THUỘC
UBND HUYỆN
1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực đội ngũ công chức các
phòng ban chuyên môn cấp huyện
1.2.1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao năng lực đội ngũ công chức cấp
Huyện. .

3.3.6. Điểm yếu về kỹ năng của công chức các phòng, ban chuyên môn thuộc
UBND Huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang
3.3.7. Nguyên nhân hạn chế về công chức các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND
Huyện Bắc Mê.
4.1. Định hƣớng và mục tiêu nâng cao năng lực đội ngũ công chức các phòng, ban
chuyên môn thuộc UBND huyện Bắc mê tỉnh Hà Giang
4.2. Một số giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ công chức các phòng ban chuyên
môn thuộc UBND huyện Bắc Mê
4.2.1. Nhóm giải pháp nâng cao trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ
công chức các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND Huyện
4.2.2. Nhóm giải pháp về tuyển dụng và sử dụng công chức tại UBND Huyện
4.2.3. Nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao năng lực đội ngũ công chức
các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND Huyện.
4.2.4. Giải pháp cải thiện tiền lƣơng, thu nhập và nâng cao đạo đức công vụ của
công chức các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND Huyện.
4.3. Điều kiện để thực hiện thành công các giải
LIỆU THAM KHẢO

3


DANH MỤC CHŨ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

1

UBND


TTHC

4


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ PHỤ LỤC
STT
1

2
3
4

5

6

7

8

9

10

11


12

hội, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có

6


đủ phẩm chất, năng lực và trình độ, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân và sự
phát triển của đất nƣớc‖ thì việc quan tâm đến năng lực để nâng cao chất
lƣợng đội ngũ công chức là việc làm rất cần thiết.
Mục tiêu đó thể hiện rõ quyết tấm của Chính phủ trong công cuộc cải
cách nền hành chính nhà nƣớc nói chung và xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức trong bộ máy quản lý nhà nƣớc từ trung ƣơng tới địa phƣơng
nói riêng. Để thực hiện thành công chiến lƣợc này, yếu tố quan trọng và quyết
định sự thành công đó là nhân tố con ngƣời, đặc biệt là độ ngũ công chức –
nguồn lực chủ yếu của hệ thống quản lý hành chính để vận hành, thực hiện và
hoàn thành chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao. Công chức thuộc các phòng, ban
chuyên môn UBND cấp huyện hay còn gọi là công chức hành chính nhà nƣớc
cấp huyện là những ngƣời trực tiếp tham mƣu thực hiện các quy định của nhà
nƣớc về chuyên môn, nghiệp vụ theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị. Vì vậy,
nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các phong, ban chuyên
môn thuộc UBND huyện có ý nghĩa quyết định tới chất lƣợng và hiệu quả
hoạt động của cơ quan quản lý nhà nƣớc cấp huyện.
Tuy nhiên, cho đến nay tại tỉnh Hà Giang chƣa có một đề tài nào
nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của đội ngũ
công chức các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND cấp huyện cũng nhƣ
đánh giá năng lực hiện tại của các công chức này, từ đó đề xuất giải pháp
nâng cao năng lực thực thi công vụ cho đội ngũ công chức này trong hệ thống
cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc .
Từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài: ―Nâng cao năng lực đội ngũ
công chức các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND huyện Bắc Mê tỉnh
Hà Giang” làm đề tài nghiên cứu trong luận văn tốt nghiệp của mình.

ban chuyên môn thuộc UBND huyện nhằm đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc đến năm

2020.
-

Đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức các

phòng, ban chuyên môn thuộc UBND Huyện Bắc Mê để phát hiện khoảng cách,

thiếu hụt giữa năng lực yêu cầu và năng lực hiện tại của cán bộ công chức.
-

Đề xuất giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công

chức các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND Huyện Bắc Mê nhằm đáp ứng các

8


mục tiêu quản lý nhà nƣớc trên các lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội, an ninh
quốc phòng trên địa bàn Huyện.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
-

Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là nâng cao năng lực đội ngũ công chức

đang làm việc tại các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND huyên Bắc Mê
tỉnh Hà Giang.
+


Đề xuất một số giải pháp cơ bản có khả năng ứng dụng trong thực tiễn

nhằm nâng cao năng lực của đội ngũ công chức các phòng, ban chuyên môn

9


thuộc UBND huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang đáp ứng những điều kiện hiện nay
trong bối cảnh đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế.
5.2. Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể áp dụng vào
thực tiễn công tác nâng cao năng lực của đội ngũ công chức các phòng, ban
chuyên môn thuộc UBND huyện Bắc Mê tỉnh Hà Giang và một số Huyện
trong tỉnh Hà Giang cũng nhƣ của cả nƣớc.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan nghiên cứu các công trình có liên quan và một
số vấn đề lý luận,thực tiễn về nâng cao năng lực đội ngũ công chức cấp
Huyện
Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài luận văn
Chƣơng 3: Thực trạng năng lực đội ngũ công chức các phòng, ban
chuyên môn thuộc UBND Huyện Bắc Mê.
Chƣơng 4: Định hƣớng và giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ công
chức các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND Huyện Bắc Mê.

10


Chƣơng1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CÁC CÔNG TRÌNH CÓ CÓ LIÊN
QUAN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN ,THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO

tâm trong các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ, cử nhân dƣới nhiều góc độ
khác nhau nhƣ Luận án tiến sỹ luật học ―Trách nhiệm pháp lý của công chức
trong điều kiện xây dựng nhà nƣớc pháp quyền hiện nay‖ của tác giả Ngô Hải
Phan (2004); Luận văn thạc sỹ luật học ―Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán
bộ, công chức chính quyền các xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang hiện nay‖ của tác giả Lê Đình Vỹ (2005); Đề tài khoa học cấp
tỉnh ―Nghiên cứu các giải pháp về đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực
chất lƣợng cao tỉnh Phú Thọ‖ của ThS. Nguyễn Quang Hậu (2008-2009);
Luận văn thạc sỹ luật học ―Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính
nhà nƣớc theo yêu cầu cải cách hành chính của tỉnh Bình Phƣớc hiện nay‖
của tác giả Giang Thị Phƣơng Hạnh (2009)…
Tác giả Tô Tử Hạ cũng có nhiều công trình nghiên cứu về công chức
hành chính nhà nƣớc và đã đƣợc sử dụng để giảng dạy cho đội ngũ công
chức hành chính nhà nƣớc hiện nay. Qua một số công trình nghiên cứu, tác
giả đã tập trung phân tích, lý giải và làm rõ khái niệm cán bộ, công chức nhà
nƣớc; vai trò của cán bộ công chức trong việc xây dựng nền hành chính quốc
gia và định hƣớng trong xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nƣớc
nhƣ: Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nƣớc; Công chức và
vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức; Cẩm nang cán bộ làm công tác tổ
chức nhà nƣớc...
Ban chỉ đạo cải cách hành chính của Chính phủ đã có Báo cáo tổng hợp đề
tài ―Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính Nhà nƣớc: thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp‖. Đề tài này tập trung vào nghiên cứu về hiệu lực quản
lý hành chính nhà nƣớc, trong đó đã đặt công chức hành chính nhà nƣớc

12


trong mối quan hệ với việc nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý hành chính
nhà nƣớc. Đề tài đã phân tích đánh giá về đội ngũ công chức hành chính nhà

Việt Nam. Trong cuộc hội thảo này, các nhà khoa học và quản lý đã đi đến
nhất trí rằng công tác quản trị nguồn nhân lực trong các cơ quan hành chính
còn yếu kém và trong đó điểm mấu chốt là chƣa tiến hành đƣợc nội dung
phân tích công việc trong các cơ quan hành chính nhà nƣớc. Do chƣa thực
hiện tốt công tác phân tích công việc nên các chính sách của quản trị nguồn
nhân lực công chƣa phát huy đƣợc hiệu quả (nhƣ chính sách tuyển dụng, đào
tạo và phát triển nhân lực, thù lao lao động…) và làm cho hiệu lực của quản
lý nguồn nhân lực chƣa cao.
Trong các hội thảo ở trong nƣớc và quốc tế tại Việt Nam, các tạp chí
chuyên ngành có nhiều bài viết trao đổi về cán bộ, công chức, đã có những
đánh giá về chất lƣợng và số lƣợng công chức nói chung và công chức quản
lý nhà nƣớc nói riêng, đƣa ra nhiều giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức
trong đó chủ yếu bàn luận tới các biện pháp về tuyển dụng và đào tạo công
chức, về chế độ chính sách tiền lƣơng đối với công chức. Cũng có nhiều bài
viết trao đổi về Pháp lệnh công chức, bàn luận về những điều chƣa hợp lý
trong Pháp lệnh cán bộ công chức (1998 và sửa đổi bổ sung năm 2000, năm
2003) và kiến nghị xây dựng Luật về công chức ở Việt Nam.
-

Đào Thanh Hải, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong

thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc, NXB Lao động xã hội, Hà Nội.

Công trình nghiên cứu khoa học này này đề cập đến một số vấn đề về xây
dựng và phát triển đội ngũ cán bộ công chức trong thời kỳ công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nƣớc khẳng định rằng, để phát triển kinh tế - xã hộ trƣớc hết
cần phải xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức trong khu vực nhà
nƣớc chính quy, giỏi vầ chuyên môn nghiệp vụ.

14

Việt Nam, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 1994). Đề tài
nghiên cứu sâu sắc quan điểm của Đảng và việc tổ chức thực hiện quan điểm
đó ở giai đoạn cả nƣớc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nó là cơ sở để Đảng
ta rút ra những bài học cho giai đoạn tiếp theo, giai đoạn đổi mới đất nƣớc,
thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Đề tài cũng thể hiện quan điểm nhất
quán về tầm quan trọng của công tác cán bộ nói chung và cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở nói riêng, đề ra những giải pháp để đảm bảo và tăng cƣờng hiệu quả
hoạt động của đội ngũ cán bộ quan trọng này.

15


-

Nghiên cứu về đội ngũ cán bộ bí thƣ Đảng uỷ xã ở một số tỉnh có

nghiên cứu của Nguyễn Văn Phích: ―Xây dựng đội ngũ bí thư Đảng uỷ xã ở
Kiên Giang trong giai đoạn hiện nay‖. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây
dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, 2000. Luận
văn đi sâu nghiên cứu những quan điểm, giải pháp để xây dựng đội ngũ thƣ
Đảng uỷ xã ở một tỉnh phía Nam... Và nhiều bài đăng trên các báo, tạp chí xây
dựng Đảng, tạp chí Cộng Sản.
Ngoài ra còn có hệ thống văn bản pháp luật: Chính phủ (2011), Nghị
quyết 30c của Chính phủ ban hành chƣơng trình tổng thể cải cách hành chính
Nhà nƣớc giai đoạn 2011 – 2020. Chính phủ (2008), Nghị định số
14/2008/NĐ-CP quy định về các phòng, ban chuyên môn thuộc UBND các
quận, huyện.
Nguyễn Minh Nga (2011), Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán
bộ quản lý kho quỹ cấp tỉnh tại hệ thống kho bạc nhà nƣớc. Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI.

hoặc đội ngũ công chức các phòng, ban chuyên môn trên địa bàn một huyện
cụ thể.
-

Các công trình nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mặt phƣơng pháp

luận là chủ yếu, hoặc chỉ tập trung nghiên cứu trên phạm vi khá rộng (toàn bộ
đội ngũ cán bộ, công chức; đội ngũ công chức nói chung...); hoặc chỉ nghiên
cứu một số khâu của công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức. Đến nay,
chƣa có một đề tài nào nghiên cứu cụ thể về nâng cao năng lực đội ngũ công
chức ở huyện Bắc Mê. Chƣa có tài liệu nào nghiên cứu đánh giá một cách
tổng quát hay tập trung phân tích vấn đề hoặc đƣa ra các giải pháp nâng cao
năng lực thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức các phòng ban
chuyên môn thuộc Huyện. Do vậy, cần có đề tài nghiên cứu về nâng cao chất
lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức ở huyện. Đây là công trình đầu tiên nghiên
cứu việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức các phòng ban
chuyên môn ở huyện Bắc Mê hứa hẹn khả năng áp dụng cụ thể, hiệu quả cho
địa phƣơng trong việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức các phòng ban
chuyên môn của Huyện.
Luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu đánh giá, đề xuất những giải
pháp nhằm góp phần nâng năng lực đội ngũ công chức các phòng, ban chuyên

17


môn của cấp huyện phù hợp với tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay.
Luận văn này là kết quả nghiên cứu của tác giả trên cơ sở vận dụng những
kiến thức khoa học đƣợc học trong Nhà trƣờng kết hợp với kinh nghiệm thực
tiễn công tác của tác giả trong những năm vừa qua.
1.2. Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao năng lực đội ngũ

không phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào.
Qua phân tích ở trên ta có thể thấy năng lực phụ thuộc vào bối cảnh và
mục đích sử dụng những năng lực đó. Năng lực còn là những đòi hỏi của các
công việc, các nhiệm vụ và các vai trò. Vì vậy, năng lực đƣợc xem nhƣ là
những phẩm chất tiềm tang của một cá nhân và những đòi hỏi của công việc.
Có rất nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu về năng lực, các nhà nghiên cứu
trên thế giới đã sử dụng những mô hình năng lực khác nhau trong tiếp cận của
mình:
-

Những mô hình dựa trên cơ sở tính cách và hành vi cá nhân của cá

nhân theo đuổi cách xác định ―con ngƣời cần phải nhƣ thế nào để thực hiện
đƣợc các vai trò của mình‖.
-

Những mô hình dựa trên cơ sở các kết quả và tiêu chuẩn đầu ra theo

đuổi việc xác định con ngƣời ―cần phải đạt đƣợc những gì ở nơi làm việc‖.
Mô hình tiếp cận với sản phẩm đầu ra đƣợ các nhà nghiên cứu và thực hành
trên thế giới ủng hộ rất nhiều.
Theo MaLagan(1989), thì năng lực đƣợc hiểu là một tập hợp các kiến
thức, thái độ và kỹ năng hoặc cách chiến lƣợc tƣ duy mà tập hợp này là cốt
lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng.
Theo Bernard Wyne và David Stringer (1997), thì năng lực là kỹ năng,
hiểu biết, hành vi, thái độ đƣợc tích lũy mà một ngƣời sử dụng để đạt đƣợc
kết quả công việc mong muốn của họ.
Từ các nhận định trên, ta có thể mô tả năng lực theo công thức:

19

1.2.1.2. Công chức và năng lực đội ngũ công chức các phòng ban
chuyên môn thuộc UBND huyện.


Khái niệm công chức
Công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc

gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển vào làm việc thƣờng
xuyên trong cơ quan nhà nƣớc, do ngân sách nhà nƣớc trả lƣơng.

20


Rất khó có một khái niệm chung về công chức cho tất cả các quốc gia,
thậm trí, ngay trong một quốc gia, ở từng thời kì phát triển khác nhau, thuật
ngữ này cũng mang những nội dung khác nhau. Một số nƣớc chỉ giới hạn
công chức trong phạm vi những ngƣời giam gia các hoạt động quản lý nhà
nƣớc. Một số nƣớc khác có quan niệm rộng hơn, cho rằng công chức không
chỉ bao gồm những ngƣời trực tiếp thực hiện các hoạt động quản lý nhà nƣớc
mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan dịch vụ công.
Khái niệm công chức gắn liền với sự ra đời công chức ở các nƣớc tƣ bản
phƣơng Tây. Từ nửa cuối thế kỷ XIX, tại nhiều nƣớc đã thực hiện chế độ
công chức thời gian tƣơng đối lâu, công chức đƣợc hiều là những công dân
đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công
sở của Nhà nƣớc ở trung ƣơng hay ở địa phƣơng, ỏ trong nƣớc hay ở ngoài
nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc.
Trên thực tế mỗi quốc gia cũng có quan niệm và định nghĩa khác nhau về
công chức.
Khái niệm về công chức ở Cộng hòa Pháp đƣợc định nghĩa: ―Công
chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc trong các công

Ở Việt Nam, khái niệm công chức đƣợc gắn với sự phát triển của nền
hành chính nhà nƣớc; Ngày 20/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số
76/SL về Quy chế công chức, tại Điều I, mục 1 công chức đƣợc định nghĩa là:
―Những công dân Việt Nam, đƣợc chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ
một vị trí thƣờng xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài
nƣớc‖. Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng bộ trƣởng quy định
nhƣ sau: ―Công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ
thƣờng xuyên trong một công sở của nhà nƣớc ở trung ƣơng hay địa phƣơng, ở
trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân
sách nhà nƣớc cấp gọi là công chức ―. Ngày 26/12/1998 Ủy Ban Thƣờng vụ
Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức, gồm 7 chƣơng, 48 điều và
Pháp lệnh cán bộ công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 đã nêu các đối tƣợng cán
bộ công chức, gồm: cán bộ công chức hành chính, cán bộ viên chức sự nghiệp,
cán bộ công chức xã phƣờng thị trấn và công chức dự bị. Trên cơ sở đó, nghị
định 117/2003/NĐ-CP quy định: ―Công chức là những ngƣời đƣợc nhà nƣớc
tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc đƣợc giao nhiệm vụ thƣờng

22


xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị xã hội ở trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, hoặc trong cơ quan, đơn vị thuộc
quân đội nhân dân hay công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, đƣợc phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn,
đƣợc xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế và hƣơng lƣơng từ ngan
sách nhà nƣớc‖.
Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì khái niệm công chức đƣợc
định nghĩa nhƣ sau: ―Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status