1
1
BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN VĂN HÙNG
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
Hà Nội - 2019
2
2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN VĂN HÙNG
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ CÁC YẾU TỐ
LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM NĂM 2019
CLCS
Chất lượng cuộc sống
CSVC
Cơ sở vật chất
ĐD
Điều dưỡng
ĐHYD
Đại học Y Dược
ĐLC
Độ lệch chuẩn
KKTC
Khó khăn tài chính
KTC 95%
Khoảng tin cậy 95%
LVCN
SKTQ
Sức khỏe tổng quát
TB
Trung bình
TPHCM
Thành phố Hồ Chí Minh
K
Ung thư
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
5
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG
VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ
ĐANG ĐƯỢC ĐIỀU TRỊ TẠI CÁC KHOA LÂM SÀNG
BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM NĂM 2019
Học viên: Trần Văn Hùng
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. BS. Nguyễn Duy Phong
ThS. Trần Thị Thu Thủy
chỉnh thông qua nghiên cứu pilot.
Kết quả: Điểm trung bình CLCS chung của NB ung thư 49,2 ± 6.5 điểm (nhỏ nhất
là 20 điểm cao nhất là 60,9 điểm). Lĩnh vực triệu chứng có điểm trung bình thấp nhất là
40,1 ± 24.4 điểm và lĩnh vực chức năng cao nhất với 54,8 ± 26.1 điểm. Có sự khác biệt
giữa điểm CLCS chung ở NB với yếu tố nhân viên BV đối xử tử tế và Bác sĩ tư vấn để lựa
chọn phương pháp điều trị thích hợp, tôn trọng NB (p
giá và hỗ trợ NB. Vì vậy, học viên tiến hành nghiêu cứu “Chất lượng cuộc sống và
các yếu tố liên quan của người bệnh ung thư đang được điều trị tại các khoa lâm
sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019”. Kết quả
nghiên cứu sẽ cung cấp thêm những minh chứng khoa học cho việc hoạch định kế
hoạch và tổ chức các chương trình hỗ trợ NB ung thư trong tương lai tại Bệnh viện
Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh.
9
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.
Mô tả CLCS của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y
Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019.
2. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố quản lý bệnh viện đến CLCS của NB
ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí
3.
Minh năm 2019.
Xác định mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu, tình trạng bệnh và điều trị,
sự hỗ trợ của gia đình đến CLCS của NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh
viện Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh năm 2019.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Chất lượng cuộc sống
Tổ chức Y tế Thế giới (1995) định nghĩa chất lượng cuộc sống (CLCS) là
những cảm nhận chủ quan của từng cá nhân về cuộc sống của chính họ, được đặt
loại bệnh tật gây ra gánh nặng kinh tế và tỉ lệ tử vong cao. Kết quả thống kê từ tổ
chức GLOBOCAN (2012) cho thấy 14,1 triệu chẩn đoán ung thư mới và hơn 8,2
triệu trường hợp tử vong do ung thư trong năm 2012. Các chẩn đoán phổ biến cũng
trong thống kê GLOBOCAN (2012) bao gồm: ung thử phổi (1,82 triệu), ung thư vú
(1,67 triệu) và đại trực tràng (1,36 triệu); Các bệnh dễ gây tử vong nhất gồm: ung
thư phổi (1,6 triệu), ung thư gan (745.000) và ung thư dạ dày (723.000) [30]. Đến
năm 2018, GLOBOLCAN thống kê rằng ước tính sẽ có khoảng 18,1 triệu ca ung
thư mới và 9,6 triệu ca tử vong do ung thư. Trong cả hai giới kết hợp, ung thư phổi
được chẩn đoán phổ biến nhất (11,6% tổng số trường hợp) và là nguyên nhân thuộc
nhóm gây tử vong nhiều nhất (18,4% tổng số ca tử vong do ung thư), theo sau là
ung thư vú đặc trưng ở nữ (11,6%), ung thư tuyến tiền liệt (7,1%) và ung thư đại
trực tràng (6,1%), dạ dày (8,2%) và gan (8,2%) [22].
Tại Việt Nam, các loại ung thư hàng đầu trong nước là: Phổi, gan, dạ dày,
ruột - trực tràng và mũi họng thường gặp ở nam giới; Và vú, cổ tử cung, dạ dày,
gan, ruột kết-trực tràng và phổi thường gặp ở nữ giới [71].
11
1.2. Chất lượng cuộc sống ở người bệnh ung thư
1.2.1. Trên thế giới
Tác giả Malathi G Nayak và các cộng sự (2017) đã tiến hành một cuộc khảo
sát trên 768 NB ung thư được lựa chọn bằng kỹ thuật lấy mẫu thuận tiện. Dữ liệu
trong NC được thu thập bằng kỹ thuật phỏng vấn bộ câu hỏi. Kết quả chỉ ra NB ung
thư trong NC có 30,2% thuộc nhóm 51 đến 60 tuổi, phần lớn mắc ung thư đầu và cổ
(chiếm 40,1%) và 57,7% mắc bệnh khi vào giai đoạn III. NC tìm thấy 82,3% NB
ung thư có điểm CLCS thấp. NB ung thư trải qua nhiều triệu chứng ảnh hưởng đến
CLCS của họ. Cần phải phát triển các biện pháp giúp NB cải thiện CLCS [56].
Với nhiều loại ung thư, tác giả tìm thấy nhiều NC quan tâm đến CLCS ở
những NB ung thư vú và chủ yếu sử dụng thang đo EORTC QLQ-C30 kết hợp với
CLCS ở NB ung thư tại các nước đang phát triển đã và đang được chú trọng.
NC của Mohan đánh giá CLCS trên 76 NB ung thư phổi, bằng cách sử dụng bảng
câu hỏi CLCS WHOQoL-Bref phiên bản tiếng Hindi của WHO. Trong NC kể trên
nam giới chiếm 87%, tuổi TB là 55 tuổi (SD = 10). Ho, khó thở, đau ngực và xuất
huyết lần lượt có mặt ở 83%, 72%, 66% và 43% NB. TB thời gian của các triệu
chứng là 5,9 tháng (khoảng 1-13), 89% bị ung thư phổi không phải tế bào nhỏ. Số
năm TB hút thuốc là 23 (khoảng 0,5-88). Hầu hết NB (chiếm 53%) có chỉ số
Karnofsky (KPS) ở mức 70% là “Mất khả năng làm việc, hoạt động bình thường
nhưng còn tự phục vụ” và 83% NB ở giai đoạn III, IV [53]. Kết quả NC cho thấy
NB bị ung thư phổi ở một nước đang phát triển như Ấn Độ có CLCS không đạt yêu
cầu [53].
Năm 2009, tác giả Ozturk A thực hiện đánh giá CLCS và chức năng phổi
của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều
trị bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật. Với mục đích mô tả CLCS, đánh giá
chức năng phổi và so sánh các đặc điểm nhân khẩu học và lâm sàng với CLCS ở
những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều trị
bằng xạ trị triệt để hoặc sau phẫu thuật. Hai mươi tám NB đã được tuyển dụng vào
NC được theo dõi TB 46 tháng (khoảng: 25-125 tháng). Kết quả thấy là CLCS của
NB sống còn sau 2 năm xạ trị là tốt. Từ đó khuyến nghị cần có những NC sâu hơn
để hiểu rõ hơn về CLCS trước điều trị của NB ung thư [58].
Một NC tổng hợp các bài báo về CLCS của 8 quốc gia Trung Đông của tác
giả Haddou Rahou B và cộng sự, năm 2016 về CLCS ở phụ nữ Ả Rập bị ung thư
13
vú. Việc tìm kiếm được tiến hành bằng cách sử dụng các tiêu chí bao gồm và loại
trừ và phù hợp với các mục báo cáo ưu tiên cho các tổng quan hệ thống/phân tích
tổng hợp (PRISMA). Các cơ sở dữ liệu được tư vấn là PubMed, Science Direct,
Index Medicus cho Wordl Health Organisation Đông Địa Trung Hải, Tạp chí Châu
58.6 ± 30.3 và triệu chứng nặng nề nhất là mệt mỏi (72.5 ± 21.2. TB SKTQ là 29.3
± 31.6 và KKTC là 33 ± 33.5 [37].
1.2.2. Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, do tình trạng gia tăng tỉ lệ ung thư nhanh chóng, CLCS của
NB ngày càng được quan tâm và cải thiện.
Một NC về triệu chứng đau và CLCS của NB ung thư giai đoạn tiến xa tại
Bệnh viện Ung Bướu TPHCM” thực hiện trong năm 2009 và 2010 của tác giả Vũ
Văn Vũ. Với thiết kế là NC cắt ngang trên 256 NB được thu thập dữ kiện qua 2
thang đo. Một thang đo về tình trạng đau và thang đo thứ 2 đo lường về CLCS của
EPRTC QLQ-30. Kết quả thấy rằng 73,3% NB đang có triệu chứng đau, trong đó có
63% NB đang chịu “đau ít” hoặc “không đau” (dưới 5 điểm). Trong số NB ung thư
tham gia NC, điểm SKTQ đạt mức TB 53,7 điểm. Đau làm suy giảm CLCS của NB
ở các LVCN như hoạt động thể chất (p
viện mới với tất cả các phòng đều là phòng đơn. Mặc dù chính sách hiện tại khuyến
nghị sử dụng phòng một giường, NC này cho thấy sự cần thiết phải kết hợp giữa các
phòng nhiều giường và phòng đơn liên quan đến tác động của môi trường đến
CLCS của NB [70]. NC trên cũng cho thấy tất cả NB đều cảm thấy môi trường
16
chăm sóc có ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần của họ. Một số tiêu chí về cơ sở vật
chất mà NB cho rằng quan trọng đến CLCS của mình bao gồm: sự sạch sẽ, tầm nhìn
ra bên ngoài, ánh sáng và môi trường thoáng mát [36]. NC của tác giả Manandhar S
(2014) thấy rằng những NB được hỗ trợ xã hội tốt được tìm thấy có CLCS chung tốt
[49].
Bên cạnh đó, ung thư là một tình trạng sức khỏe mạn tính dù là sau điều trị
và để lại nhiều tác động lớn về mặt kinh tế cho NB. CancerCare –mạng lưới hỗ trợ
cho NB ung thư đã nhận thấy tỉ lệ lần lượt là 18% và 11% NB ung thư đã bỏ qua
các loại thuốc hoặc hủy một cuộc hẹn y tế trong 3 tháng qua vì vấn đề tài chính.
Một số tình trạng kinh tế mà NB phải đối mặt như: phá sản, bán nhà và vay tiền họ
hàng ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe tinh thần ở NB [36]. Do đó việc thông báo
chi phí ngay từ đầu bao gồm chi phí điều trị, chi phí các dịch vụ kèm theo là cần
thiết nhằm giúp NB có hoạch định kinh tế tốt hơn.
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, một kết quả NC thấy là: để có hiệu quả, việc điều trị cần
phải được chấp nhận, dễ hiểu và được mô tả rõ ràng phù hợp với các ưu tiên cuộc
sống của NB. Sự chấp nhận điều trị phụ thuộc vào khả năng của điều dưỡng và của
các bác sĩ lâm sàng khác trong việc kết nối với NB để có thể chuẩn bị tốt cho họ về
trải nghiệm điều trị theo ý nghĩa của cuộc sống của họ. Bên cạnh đó, việc giải thích
cụ thể, minh bạch, rõ ràng về phác đồ điều trị, cũng như duy trì mức độ CLCS của
NB trong toàn bộ quá trình điều trị [26].
Tác giả Ozturk A (2009) tiến hành NC đánh giá CLCS và chức năng phổi
của những người sống sót lâu dài của ung thư phổi không phải tế bào nhỏ được điều
đến CLCS nói chung. Ví dụ như một NC trên những NB ung thư vú cho thấy sự
khác biệt giữa nhóm dân số gốc Á Châu so với nhóm da trắng trong việc sử dụng y
học cổ truyền như chữa bệnh từ thảo dược, cây cỏ và châm cứu có ảnh hưởng đến
sự khác biệt về CLCS [25, 40]. Saleha S B và các cộng sự, 2010 cho thấy ở những
NB nữ giới, NB trẻ tuổi tìm thấy có điểm CLCS tốt hơn so với những NB lớn tuổi
(46,62 so với 42,30 điểm, p 0,05). Các bà nội trợ có sức khỏe thể chất và CLCS xã
hội thấp hơn các nhóm khác được NC (p
không có sự khác biệt có ý nghĩa [27]. Đang điều trị (so với kết thúc điều trị), hóa
trị liệu liên quan đến tình trạng sức khỏe thể lý và tinh thần kém [46, 74].
NC tại Ấn Độ của tác giả Mohan A và cộng sự năm 2006, cho thấy CLCS
không tương quan với sự hiện diện hoặc thời gian của các triệu chứng, loại mô học,
giai đoạn bệnh hoặc mức độ hút thuốc. Các lĩnh vực vật lý và tâm lý của CLCS
tương quan đáng kể với điểm chỉ số KPS. NB có chỉ số KPS ở mức 80% có thể chất
tốt hơn (p
điểm CLCS thấp hơn đáng kể. Bệnh lý tâm thần có ảnh hưởng đáng kể đến điểm
CLCS của NB trải qua xạ trị. Đo lường điểm CLCS riêng lẻ xuất hiện như một đánh
giá nhu cầu thích nghi và giúp nhà trị liệu tâm lý tập trung vào các vấn đề và mong
muốn của NB. Hơn nữa, điểm CLCS của NB là mục tiêu chính trong việc cung cấp
hoặc lập kế hoạch chăm sóc sức khỏe tâm thần trong các dịch vụ điều trị ung thư
[31].
Trong một NC tổng quan hệ thống của tác giả Jasper K W Gerritsen và
Arnaud J P E Vincent, năm 2016 cho thấy can thiệp tập thể dục rất khác nhau về nội
dung, tần suất, thời lượng và cường độ đã cải thiện đáng kể CLCS ở NB ung thư so
với chăm sóc thông thường (chênh lệch TB 5,55 điểm, KTC 95% (3,19 đến 7,90),
p
23
1.4.3. Độ tin cậy và tính giá trị của thang đo EORTC QLQ-C30
Thang đo CLCS EORTC QLQ-C30 được phát triển từ năm 1986. Tính thống
nhất nội bộ của chỉ số này đạt yêu cầu và đã được khẳng định qua nhiều NC trên thế
giới [38] [15] [24].
EORTC QLQ-C30 được dịch và chuẩn hoá thành 81 ngôn ngữ, được sử dụng
tại hơn 3000 NC trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, NC trên NB ung thư ở TPHCM
cho thấy hệ số Cronbach’s alpha của thang đo này là 0,93, từ đó khẳng định tính tin
cậy nội bộ của thang đo này [11].
Thang đo EORTC QLQ-C30 chứa 30 câu, dùng để đo lường trong 4 lĩnh
vực: 2 câu về SKTQ (câu 29,30), 15 câu về LVCN (câu 1-7, 20-27), 12 câu về
LVTC (câu 8-19), 1 câu về KKTC (câu 28). Câu 29,30 gồm thang điểm từ 1 đến 7,
những câu còn lại được đo lường bởi thang đo gồm 4 giá trị từ 1,2,3,4 tương ứng
với các mức 1 = không có, 2= ít, 3 = nhiều, 4 = rất nhiều. Điểm số của thang đo này
dao động từ 0 tới 100 và có ý nghĩa như sau: Vấn đề SKTQ, LVCN: điểm số càng
cao, chức năng càng tốt. Vấn đề về LVTC, KKTC: điểm số càng cao tương ứng
triệu chứng càng nặng, khó khăn về tài chính càng nhiều.
1.5. Giới thiệu Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM
Bệnh viện Đại học Y Dược TPHCM là bệnh viện công lập, trực thuộc
ĐHYD TPHCM. Đây là một cơ sở khám, chữa bệnh và bên cạnh đó cũng là cơ sở
đào tạo thực hành lâm sàng của trường Đại học. Bệnh viện có trụ sở làm việc tại
TPHCM, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, hạch toán độc lập và được mở tài
khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng theo quy định của pháp luật. Bên cạnh
chức năng khám, chữa bệnh, Bệnh viện còn có chức năng nghiên cứu khoa học, ứng
dụng các công nghệ kỹ thuật cao trong chẩn đoán, điều trị, chăm sóc sức khỏe nhân
dân; tham gia đào tạo, đào tạo liên tục và là cơ sở thực hành lâm sàng đào tạo nguồn
nhân lực y tế theo các quy định của pháp luật.Vì vậy, nhằm đáp ứng nhu cầu khám,
- Nghề nghiệp
- Tình trạng kinh tế của bản thân
- Tình trạng kinh tế của gia đình
Yếu
tố quản lý
- Về CSVC: tình trạng nhà vệ sinh, tình hình an ninh,
Yếu tố
về vụ
tình
trạng
điều
trị bệnh viện.
dịch
khác,
yênbệnh
tĩnh,và
cảnh
quan
-- Loại
bệnh,
thời
gian
bệnh
Về tinh
thần
thái
độmắc
phục
vụ của NVYT: thái độ giao
- Mức
ung thư
25
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang
2.2. Đối tượng nghiên cứu
NB ung thư tại các khoa lâm sàng, Bệnh viện Đại học Y Dược thành phố Hồ
Chí Minh năm 2019.
Tiêu chuẩn chọn vào:
NB đang điều trị ung thư tại BV;
NB tỉnh táo, có khả năng hiểu, trả lời phỏng vấn viên về các nội dung;
NB có sự phản hồi đồng ý tham gia NC.
− Tiêu chuẩn loại ra:
NB ung thư tại các khoa lâm sàng tại Bệnh viện có thở máy, đang nằm
−
tại ICU, cấp cứu.
NB ung thư giai đoạn IV tại các khoa lâm sàng.
2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
−
−
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2019 đến 6/2019.
Địa điểm nghiên cứu: tại 7 khoa lâm sàng có NB ung thư tại Bệnh viện Đại
học Y Dược TPHCM.