LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG - Pdf 69

LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1. DỰ ÁN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG
1.1.1. Khái niệm và phân loại các dự án đầu tư
1.1.1.1. Khái niệm dự án :
Dự án là một tổng thể các hoạt động (quyết định và công việc) phụ thuộc
lẫn nhau nhằm tạo ra sản phẩm huặc dịch vụ duy nhất trong khoảng thời gian
xác định với sự ràng buộc về nguồn lực trong bối cảnh ko chắc chắn .
Trên phương diện phát triển , có hai cách hiểu về dự án “ tĩnh “ và động
.Cách hiểu “ tĩnh “ thì dự án là một hình tượng về một tình huống (một trạng
thái) mà ta muốn đạt tới. Theo cách hiểu thứ hai “ động” :
Dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù một nhiệm vụ cần phải được
thực hiện với phương pháp riêng , nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ
nhằm tạo ra một thực thể mới .
Từ đó ta có thể rút ra một số đặc trưng cơ bản của dự án :
- Dự án có mụch đích , kết quả xác định. Tất cả các dự án đều phải có kết
quả xác định rõ . Mỗi dự án đều có tập hợp nhiều nhiệm vụ từ đó có nhiều kết
quả , tập hợp các kết quả sao phải đảm bảo các mục tiêu và từ đó đạt được mục
đích của dự án .
- Dự án có chu kỳ phát triển riêng và thời gian tồn tại hữu hạn. Dự án là
một sự sáng tạo . Khi dự án kết thúc thì sau đó là chuyển giao cho bộ phận quản
lý vận hành .
- Sản phẩm của dự án mang tính đơn chiếc.
- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa bộ phận
quản lý chức năng với quản lý dự án. Để thực hiện thành công dự án , các nhà
quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối quan hệ với các bộ phận quản lý
khác.
- Môi trường hoạt động “ va chạm “ , không chắc chắn. Quan hệ của dự án
là quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của tổ chức. Dự án cạnh
tranh lãn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về vốn , nhân lực ,
thiết bị … Không những thế , môi trường của dự án không phải môi trường hiện
tại mà là môi trường tương lại . Thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các

- Dự án trung hạn
- Dự án dài hạn
 Căn cứ theo phân cấp quản lý :
- Dự án nhóm A
- Dự án nhóm B
- Dự án nhóm C
1.1.2. Dự Án Đầu tư xây dựng :
1.1.2.1. Khái niệm dự án đầu tư xây dựng :
Trong điều kiện hiện nay đang trong đà phát triển của đất nước, chúng
ta sẽ luôn có những dự án đầu tư và đặc biệt lĩnh vực nhiều phát sinh nhất đó là
các dự án có đầu tư xây dựng.
Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ
vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm
mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch
vụ trong một thời hạn nhất định.
Theo quy định của Luật đảm bảo tính xã hội và kinh tế của các dự án thì
cần:
Điều 35
1
. Dự án đầu tư xây dựng công trình
1. Khi đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư xây dựng công trình phải
lập dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả về kinh tế - xã hội của dự án, trừ các
trường hợp quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều này. Việc lập dự án đầu tư xây
dựng công trình phải tuân theo quy định của Luật này và các quy định khác của
pháp luật có liên quan.
2. Dự án đầu tư xây dựng công trình được phân loại theo quy mô, tính
chất và nguồn vốn đầu tư. Nội dung của dự án đầu tư xây dựng công trình được
lập phù hợp với yêu cầu của từng loại dự án.
3. Những công trình xây dựng sau đây chỉ cần lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật:
a) Công trình sử dụng cho mục đích tôn giáo;

1.2.1. Khái niệm quản lý dự án
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự biến đổi cũng như các vấn đề
luôn phát sinh, loại bỏ những phát sinh và các vấn đề là điều không thể nhưng
để phòng ngừa và hạn chế thì các nhà quản lý có thể làm được. Điều đó được
thể hiện qua quy trình quản lý dự án trong xây dựng của mỗi doanh nghiệp.
Xuất phát từ vị thể người điều hành dự án các nhà quản lý cần lường trước
những vấn đề phát sinh có thể xảy ra. Cơ sở nhìn nhận này là nền tảng hình
thành nên ý tưởng trong công tác quản lý dự án.
Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, diều phối thời gian, nguồn lực
và giám sát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành
đúng thời hạn, trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã
định về kỹ thuật và chất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và
điều kiện tốt nhất cho phép.
Mặc dù phương pháp quản lý dự án đòi hỏi sự nỗ lực, tính tập thể và yêu
cầu hợp tác nhưng tác dụng của nó rất lớn. Phương pháp quản lý dự án có
những tác dụng chủ yếu sau đây:
- Liên kết tất cả các hoạt động, các công việc của dự án
- Tạo điều kiện cho việc liên hệ thường xuyên, gắn bó nhóm quản lý dự án
với khách hàng và các nhà cung cấp đầu vào cho nhóm dự án.
- Tăng cường sự hợp tác giữa các thành viên và chỉ rõ trách nhiệm của các
thành viên tham gia dự án.
- Tạo điều kiện phát hiện sớm những khó khăn vướng mắc nảy sinh và điều
chỉnh kịp thời trước những thay đổi hoặc điều kiện không dự đoán được. Tạo
điều kiện cho việc đàm phán trực tiếp giữa cá bên liên quan để giải quyết những
bất đồng.
- Tạo ra sản phẩm và dịch vụ có chất lượng cao hơn.
Tuy nhiên phương pháp quản lý dự án cũng có mặt hạn chế của nó.
Những mâu thuẫn do cùng chia nhau một nguồn lực của đơn vị; quyền lực và
trách nhiệm của nhà quản lý dự án trong một số trường hợp không thực hiện đầy
đủ; vấn đề hậu( hay” bệnh”) của dự án là những nhược điểm cần khắc phục đối

- Phối hợp các hoạt động
-Khuyến khích động
viên
Giám sát
- Đo lường kết quả
- So sánh với mục tiêu
- Báo cáo
- Giải quyết các vấn đề
duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép. Về mặt toán học, ba mục tiêu này liên
quan đến chặt chẽ với nhau và có thể biểu hiện dưới dạng công thức sau:
C=f(P,T,S)
Trong đó: C: Chi phí
P: Mức độ hoàn thành công việc( kết quả)
T: Yếu tố thời gian
S: Phạm vi dự án
Phương trình trên cho thấy, chi phí là một hàm của các yếu tố: mức độ
hoàn thành công việc, thời gian thực hiện và phạm vi dự án. Nói chung, chi phí
của dự án tăng lên khi chất lượng hoàn thiện công việc tốt hơn, thời gian kéo dài
thêm và vi phạm dự án được mở rộng. Nếu thời gian thực hiện dự án bị kéo dài,
gặp trường hợp giá nguyên vật liệu tăng lên sẽ phát sinh tăng chi phí, dẫn đến
tình trạng làm việc kém hiệu quả do công nhân mệt mỏi, do chờ đợi và thời gian
máy chết tăng theo…làm phát sinh tăng một số khoản mục chi phí. Thời gian
thực hiện dự án kéo dài, chi phí lãi vay ngân hàng, bộ phận chi phí gián tiếp( chi
phí hoạt động của văn phòng dự án) tăng theo thời gian và nhiều trường hợp
phát sinh tăng thêm khoản tiền phạt do không hoàn thành đúng tiến độ ghi trong
hợp đồng.
Ba yếu tố: thòi gian, chi phí và mức độ hoàn thiện công việc có quan hệ
chặt chẽ với nhau. Tầm quan trọng của từng mục tiêu có thể khác nhau giữa các
dự án, giữa các thời kỳ đối với cùng một dự án, nhưng nói chung, đạt được kết
quả đối với mục tiêu này thường phải “ hi sinh” một hoặc hai mục tiêu kia.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status