ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THUÝ HÀ
NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC QUẢN LÝ
HÀ NỘI, 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THUÝ HÀ
NHẬN DIỆN NHỮNG RÀO CẢN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2010 ĐẾN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC QUẢN LÝ
MÃ SỐ: Đào tạo thí điểm
1.1.3. Khái quát chun
n
th n n n
v h n
th n m i
th n m i.................................6
tr nh
9
d n
1.2. Tính tất yếu phải ây dựng nông thôn mới ở nƣớc ta hiện nay 16
1.2.1. t
uv
inh t................................................................................. 16
1.2.2. t
uv
h i................................................................................. 18
1.2.3. t
2.2. Tình hình triển khai
hic
hu ện................................... 42
ây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Ba Vì................................................................................................43
2.2.1. X d n hệ th n văn bản chỉ đạo từ hu ện đ n c sở.......................43
2.2.2. K t quả
d n
2.3. M t số rào cản trong
n th n m i i i đoạn 2010 đ n n.......................46
ây dựng Nông thôn mới ở huyện Ba Vì t
năm 2010 đến nay...................................................................................... 59
2.3.1. Rào cản v c ch chính sách............................................................. 59
2.3.2. Rào cản tronquá tr nh tri n h i th c hiện....................................... 63
2.3.3. Rào cản từ bản th n phí đị
71
ph.................................................n
2.4. Nguyên nhân của những rào cản trên trong quá trình ây dựng
nông thôn mới............................................................................................ 72
n c th c
hu ện........................................................ 74
3.2. M t số giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục những rào cản trong
ây dựng nông thôn mới ở huyện Ba Vì hiện nay...................................75
3.2.1. h m iải pháp h c ph c rào cản v c ch chính sách...................75
3.2.2.
h m iải pháp
h c ph c rào cản tron
quá tr nh tri n
h i
th c hiện.......................................................................................................... 78
3.2.3. h m iải pháp h c ph c rào cản từ phí đị ph
n........................86
* Tiểu kết chƣơng 3.............................................................................90
KẾT LUẬN.................................................................................. 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................92
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn toàn thể các thầy cô giáo khoa Khoa học
các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh
công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu
bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được
bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng
cường”.
Xây dựng nông thôn mới là mục tiêu quốc gia, là vấn đề lớn nhằm tạo
ra sự chuyển biến về mọi mặt trong sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn
và nâng cao chất lượng sống của người dân, đồng thời cũng là để rút ngắn
khoảng cách giữa nông thôn và thành thị. Trong quá trình đó, thực hiện chủ
trương của Đảng về phát triển nông thôn, Bộ nông nghiệp và phát triển nông
thôn đã phối hợp với các địa phương tiến hành xây dựng thí điểm một số mô
hình nông thôn mới ở xã, thôn, ấp, bản. Nhưng do nhận thức chưa thống nhất,
chỉ đạo, đầu tư còn phân tán nên kết quả đạt được còn hạn chế. Đối chiếu với
yêu cầu, mục tiêu xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa theo chủ trương của Đảng và Nhà nước ta thì thực tế
xây dựng nông thôn mới hiện nay còn rất nhiều vấn đề đang đặt ra đòi h i phải
sớm được giải quyết.
1
Ba Vì là một huyện đặc thù của Thành phố Hà Nội, bao gồm cả vùng
trung du, miền núi và đồng bằng, người dân sống chủ yếu bằng nghề nông,
nhìn chung đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, từ xuất phát điểm
thấp đó, để thực hiện được thành công chương trình mục tiêu quốc gia về xây
dựng nông thôn mới, Ba Vì cần sự nỗ lực cố gắng của người dân và phía
chính quyền. Xuất phát từ lý do đó, tôi chọn “ hận diện nhữn rào cản
tron
d n
Hà
đầu cũng như những vấn đề đặt ra cần được giải quyết về phát triển kinh tế 2
xã hội nói chung và phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã cung cấp
những thông tin có giá trị tham khảo cho Việt Nam. Đặc biệt trong công trình
này tác giả cảnh báo những thách thức, những khó khăn trong phát triển kinh
tế đặc biệt là phát triển nông nghiệp, nông thôn trước và sau khi Trung Quốc
ra nhập WTO. Tác phẩm “Vai trò của Nhà nước trong phát trển Nông nghiệp
của Thái Lan” của các tác giả GS,TS Nguyễn Thế Nhã và TS Hoàng Văn
Hoan do NXB Nông nghiệp ấn hành năm 1995. Trong công trình này, tác giả
đã đi sâu phân tích quá trình hoạch định và chỉ đạo thực hiện chính sách nông
nghiệp của Thái Lan từng thời kỳ. Công trình “Phát triển Nông thôn” do GS.
Phạm Xuân Nam, NXB khoa học xã hội ấn hành năm 1997, là công trình
nghiên cứu chuyên sâu về nông thôn. Công trình “Kinh nghiệm tổ chức quản
lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử” do GS. Phan Đại Doãn và GS. Nguyễn
Quang Ngọc chủ biên, NXB Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1994, là công
trình nghiên cứu những vấn đề lịch sử trong các thời kỳ về quản lý làng xã và
xây dựng thiết chế chính trị - xã hội nông thôn nước ta. Công trình nghiên
cứu: “Nông nghiệp, nông thôn Việt nam thời kỳ đổi mới” của PGS, TS Nguyễn
Sinh Cúc, NXB Thống kê, năm 2003. “Xây dựng Nông thôn mới ở Tuyên
Quang, kết quả bước đầu”, Việt Khoa (2011). “Một số khó khăn khi xây dựng
Nông thôn mới và giải pháp khắc phục” của Bùi Hải Thắng. “Năm kinh
nghiệm quý báu trong quá trình xây dựng Nông thôn mới của tỉnh Triết
Giang” của Từ Tinh Minh và cộng sự (năm 2010, tạp chí Nông nghiệp và
nông thôn, số tháng 7/2011). “Kinh nghiệm xây dựng Nông thôn mới ở Hàn
Quốc”, Edward P.Reed, Hội thảo về xây dựng Nông thôn mới tại Hàn Quốc,
10/2011. “Kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới hiện đại tại thôn Hoa Tây,
tỉnh Giang Tô”, Quản Hải Yến và cộng sự (tạp chí Nông nghiệp và phát triển
nông thôn số tháng 7/2011).
Những công trình nghiên cứu trên đã cung cấp những luận cứ, luận
-
Về thời gian: Nghiên cứu tình hình xây dựng nông thôn mới trong 4
năm 2010 - 2013 và đưa ra giải pháp đến năm 2020.
-
Về không gian: Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
5. Mẫu khảo sát
-
Tình hình triển khai thực hiện xây dựng nông thôn mới ở 02 xã điểm:
Xã Cổ Đô, Thuần Mỹ - huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
-
Khảo sát một số xã khác của huyện Ba Vì (Ba Trại, Ba Vì, Cam
Thượng, Thuỵ An, Minh Châu, Phú Phương, Yên Bài) về thực hiện chủ
trương xây dựng nông thôn mới.
6. Câu hỏi nghiên cứu
-
Yếu tố nào là rào cản trong xây dựng Nông thôn mới ở huyện Ba Vì,
thành phố Hà Nội?
4
sách; đổi mới công tác tuyên giáo, dân vận; đào tạo trong thực tiễn công việc
đối với đội ngũ cán bộ; kết hợp xây dựng nông thôn mới với các chương trình
quốc gia về nông dân, nông thôn như về xóa đói giảm nghèo, về giáo dục, tận
dụng thế mạnh của địa phương ...;
8.
Phƣơng pháp nghiên cứu
-
Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu.
-
Phương pháp điền dã, quan sát thực tế, đánh giá nhanh nông thôn.
-
Phương pháp ph ng vấn bán cấu trúc.
9. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, mục lục, danh mục các bảng
biểu và phụ lục, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng Nông thôn mới.
Chương 2: Rào cản trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Ba Vì hiện
nay.
Chương 3: Giải pháp để hạn chế các rào cản xây dựng mô hình nông
thôn mới ở huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội.
5
1.1.2.1. Khái niệm về nông dân
Theo Bách khoa tri thức toàn thư Việt Nam: Nông dân là những người
lao động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống
chủ yếu bằng làm ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất
chính là đất đai. Tùy từng quốc gia, tùy từng thời kỳ lịch sử, người nông dân
có quyền sử hữu khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông
dân, có vị trí vai trò nhất định trong xã hội.
Theo Từ điển cộng sản chủ nghĩa khoa học (NXB Tiến bộ Matxcơva,
Sự thật, Hà Nội, 1996): Nông dân là giai cấp chuyên sản xuất các sản phẩm
nông nghiệp trên cơ sở tư hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản
xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình.
Theo Nghị quyết Trung ương 7 Khoá X, Đảng Cộng sản Việt Nam:
Nông dân là khái niệm chỉ về thân phận hay nghề nghiệp của một nhóm dân
cư trong xã hội phân biệt với công nhân, tri thức. Nông dân theo khái niệm
6
này, có hai tiêu chí phân biệt: Một là, nghề nghiệp chính là trồng trọt và chăn
nuôi, hai là, sinh sống ở nông thôn.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung, nông dân là những người sống lâu đời
ở
nông thôn (làng, bản, ấp) lấy sản xuất nông nghiệp là nguồn sống chính
dưới hình thức tư hữu nh . Nông dân là lực lượng quan trọng trong các cuộc
đấu tranh chống lại các thế lực áp bức, bóc lột trong lịch sử.
Nông dân ở nước ta là những người lao động sống ở nông thôn, nghề
nghiệp chính là sản xuất nông nghiệp và nguồn sống chủ yếu dựa vào các sản
phẩm lao động trong nông nghiệp.
Theo số liệu của Hội nông dân Việt Nam, hiện nay nước ta có khoảng
cấu và chức năng mới.
Ngày 04/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 800 –
QĐ/TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 – 2020. Tại Quyết định này mục tiêu chung của Chương
trình được xác định là: “Xây dựng Nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất
hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát
triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định,
giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật
tự được giữ vững; đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được
nâng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Như vậy, nông thôn mới là nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội
hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, xã hội dân
chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, đời sống vật chất tinh thần được
nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, an ninh trật tự được giữ vững.
Đặc trưng của nông thôn mới:
Theo cuốn “Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới” (Nhà xuất bản
Lao động 2010), đặc trưng của nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hoá, hiện
đại hoá giai đoạn 2010 - 2020, bao gồm: Kinh tế phát triển, đời sống vật chất
và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao; nông thôn phát triển theo
8
quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái
được bảo vệ; dân trí được nâng cao, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và
phát huy; an ninh tốt, quản lý dân chủ; chất lượng hệ thống chính trị được
nâng cao...
1.1.3. Khái quát chun v
h
Kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia, chương
trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa
bàn nông thôn.
Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới phải gắn với kế
hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương, có quy hoạch và cơ chế đảm
bảo thực hiện các quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp có thẩm
quyền xây dựng.
Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực; tăng cường
phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,
dự án của chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của
người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở trong quá trình lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá.
Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn
xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chủ đạo, điều hành quá trình
xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện. Mặt trận tổ quốc
và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai
trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới.
1.1.3.3. Nội dung xây dựng nông thôn mới
B tiêu chí quốc gia về ây dựng nông thôn mới
Quyết đinh số 491/QĐ – TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng
Chính phủ quy định bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới như sau:
(1)
Quy hoạch và thực hiện quy hoạch: Quy hoạch sử dụng đất và hạ
tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hóa, công nghiệp,
tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội môi trường theo chuẩn mới; quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh
trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn
của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch.
(7)
Chợ nông thôn: Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng.
(8)
Bưu điện: Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông; có Internet đến
(9)
Nhà ở dân cư: Tỷ lệ hộ có nhà ở đạt tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng.
(10)
Thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người trên năm so với mức
thôn.
bình quân chung của tỉnh.
(11)
Hộ nghèo: Tỷ lệ hộ nghèo.
(12)
Cơ cấu lao động : Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh
vực nông, lâm, ngư nghiệp.
hoạch; chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định.
(18)
Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh: Cán bộ xã đạt
chuẩn; có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định; đảng
bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn “trong sạch, vững mạnh”; các tổ chức đoàn
thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên.
(19)
An ninh, trật tự xã hội được giữ vững.
N i dung ây dựng nông thôn mới
Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4 tháng 6 năm 2010 của Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn
mới giai đoạn 2010 – 2020 gồm 11 nội dung sau:
(1)
Quy hoạch xây dựng nông thôn mới: Quy hoạch sử dụng đất và hạ
tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp và dịch vụ; quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội –
môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện
có trên địa bàn xã.
Mục tiêu của nội dung này là đạt yêu cầu tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí
quốc gia nông thôn mới. Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng
nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm
cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011
– 2010.
(2)
sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp; cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau
thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; bảo tồn và phát triển làng
nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển
ngành nghề theo thế mạnh của địa phương; đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao
động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm
và chuyển dịch nhanh cơ cấu nông thôn.
Mục tiêu của nội dung này là đạt các tiêu chí 11, 12 Bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới, đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến năm 2020 có 50%
số xã đạt.
(4)
Giảm nghèo về an sinh xã hội
Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững
cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ
13
tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; tiếp tục triển khai Chương trình quốc gia
về giảm nghèo; thực hiện các chương trình an sinh xã hội.
Mục tiêu của nội dung này là đạt yêu cầu tiêu chí 11 Bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới.
Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở
(5)
nông thôn
Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã; phát triển doanh nghiệp vừa
và nh ở nông thôn; xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa
các loại hình kinh tế ở nông thôn.
Mục tiêu của nội dung này là đạt yêu cầu tiêu chí số 6, 16 của Bộ tiêu
chí quốc gia nông thôn mới. Đến năm 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã,
thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm Internet đạt chuẩn. Đến năm 2020 có
75% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet
đạt chuẩn.
(9)
Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn; xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông
thôn trên địa bàn xã, thôn theo quy hoạch, gồm: cải tạo, nâng cấp hệ thống
tiêu, thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở
các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái
trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng.
Mục tiêu của nội dung này là đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu
chí quốc gia nông thôn mới, đảm bảo cung cấp đủ nước sạch sinh hoạt và hợp
vệ sinh cho dân cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công
cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên
địa bàn xã. Đến năm 2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến năm 2020 có 80%
số xã đạt chuẩn.
(10)
-
Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị
xã hội trên địa bàn
Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp
uv
inh t
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói "Nông nghiệp là nguồn cung cấp lương
thực và nguyên liệu, đồng thời là nguồn xuất khẩu quan trọng. Nông thôn là
thị trường tiêu thụ to lớn nhất hiện nay cho nên cần cải tạo và phát triển nông
nghiệp thì mới có cơ sở để phát triển các ngành kinh tế khác" (29, 14), "nông
thôn giàu có sẽ mua nhiều hàng hóa của công nghiệp sản xuất ra, đồng thời
sẽ cung cấp đầy đủ lương thực nguyên liệu cho công nghiệp và thành thị, như
thế là nông thôn giàu có giúp công nghiệp phát triển. Công nghiệp phát triển
lại thúc đẩy nông nghiệp phát triển mạnh hơn nữa." (29, 405). Với quan điểm
đó, trong Di chúc, Bác còn đề nghị miễn thuế cho nông dân.
Với khoảng 70% dân số là nông dân, Việt Nam luôn coi trọng những
vấn đề liên quan đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn. Nền kinh tế Việt
Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua (1986 – 2008) đã đạt được nhiều
thành tựu phát triển khả quan. Trong lĩnh vực nông nghiệp, sản lượng các loại
nông sản đều tăng, nổi bật nhất là sản lượng lương thực đều tăng với tốc độ
cao từ năm 1989 đến nay. Năm 1989 là năm đầu tiên sản lượng lương thực
vượt qua con số 20 triệu tấn, xuất khẩu 1,4 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 310
triệu USD. Đến năm 2007, sản lượng lương thực đã đạt đến con số kỷ lục 39
triệu tấn và đã xuất khẩu 4,7 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 1,7 USD.
16
Từ một nước thường xuyên thiếu và đói, hàng năm phải nhập hàng triệu
tấn lương thực của nước ngoài, hơn thập niên qua, Việt Nam đã trở thành
nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới. GDP trong lĩnh vực nông nghiệp
bình quân hàng năm tăng 3,3%; thu nhập và đời sống nhân dân ngày càng cải