Đảng với hoạt động đối ngoại của chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền nam việt nam (1969 1975) - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ LAN ANH

ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA

CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI
CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM (1969
– 1975)

LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ

Hà Nội - 2011

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ LAN ANH

ĐẢNG VỚI HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA

CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI
CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM (1969
– 1975)

Chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam
Mã số: 60 22 56

CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT
NAM TỪ NĂM 1973 ĐẾN NĂM 1975
2.1. Bối cảnh lịch sử sau khi ký kết Hiệp định Paris và chủ trƣơng của
Đảng
2.1.1. Những diễn biến mới trên trường quốc tế và trong nước
2.1.2. Chủ trương của Đảng
2.2. Đảng chỉ đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng lâm
thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
2.2.1. Chỉ đạo hoạt động đấu tranh thi hành Hiệp định Paris

3


2.2.2. Chỉ đạo đẩy mạnh hoạt động tranh thủ sự ủng hộ quốc tế
Chương 3: NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM
3.1. Một số nhận xét cơ bản
3.1.1. Chủ trương phối hợp hoạt động và phát huy ưu thế ngoại giao hai
miền là một sáng tạo độc đáo của Đảng
3.1.2. Chủ trương đối với hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được Đảng hoạch định trên cơ sở phân
tích đặc điểm tình hình và nhiệm vụ cách mạng của giai đoạn 1969 – 1975
3.1.3. Đảng đã chỉ đạo Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền
Nam Việt Nam triển khai các mũi tiến công ngoại giao khác nhau, nhằm tạo
hiệu quả ngoại giao cao nhất
3.1.4. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của Chính phủ
Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam giai đoạn 1973 – 1975 vừa
có sự thống nhất căn bản, vừa có bước phát triển nhất định so với giai đoạn
1969 – 1972
3.1.5. Quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, tồn tại

Ban Liên hợp quân sự

CHDC:

Cộng hòa dân chủ

CHND:

Cộng hòa nhân dân

CHMNVN:

Cộng hòa miền Nam Việt Nam

CNĐQ:

Chủ nghĩa đế quốc

CNTB:

Chủ nghĩa tư bản

CNTD:

Chủ nghĩa thực dân

CNXH:

Chủ nghĩa xã hội


Việt Nam Dân chủ cộng hòa
5


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thần thánh của dân tộc Việt Nam
là một bản trường ca bất hủ về tinh thần đấu tranh, lòng yêu nước và khát khao
độc lập, tự do. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước không tách
rời đường lối đúng đắn của Đảng – đó là đường lối phát huy sức mạnh của khối
đại đoàn kết dân tộc, kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của các mặt trận
quân sự, chính trị, văn hóa, ngoại giao… làm nên sức mạnh nội lực, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc
Mỹ - một đế quốc hùng mạnh, trong gần 200 năm lập quốc chưa từng nếm mùi
thất bại. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ngoại giao trở thành
một trong những mặt trận quan trọng, ở đó, Đảng đã lãnh đạo kết hợp sức mạnh
ngoại giao hai miền, lãnh đạo hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN
một cách hiệu quả từ khi Chính phủ ra đời (1969) đến khi cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước thắng lợi (1975), góp phần vào thắng lợi chung của ngoại
giao cả nước trong sự nghiệp giành độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc.
Hiện nay, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới - đưa công
cuộc đổi mới đi vào chiều sâu, đẩy mạnh hội nhập quốc tế, thì việc “ôn cố tri
tân”, nhìn lại, đánh giá một cách thấu đáo những thành tựu, hạn chế của ngoại
giao cả nước những năm tháng hào hùng chống Mỹ nói chung, của
CPCMLTCHMNVN nói riêng dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, rút ra những kinh
nghiệm cho hiện tại là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Với những lý do đó, chúng tôi chọn chủ đề “Đảng với hoạt động đối ngoại
của
Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1969 1975)” làm đề tài luận văn thạc sĩ lịch sử, chuyên ngành lịch sử ĐCSVN.


trình Đảng lãnh đạo đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris về Việt Nam
(1968 – 1973)” (tác giả Lương Viết Sang) đã cung cấp những tư liệu phong
phú, phản ánh khá rõ nét những hoạt động ngoại giao của CPCMLTCHMNVN.

7


- Các công trình mang tính chất hồi ức, hồi ký
Mặt trận dân tộc giải phóng, Chính phủ cách mạng lâm thời tại Hội
nghị Paris về Việt Nam (Hồi ức) [9]; Chung một bóng cờ [47]; Trại Davis Sài
Gòn - mùa xuân 1973 [52]; Từ Geneva đến Paris [11]…
Các tác phẩm này là hồi ký của những người trực tiếp tham gia vào tiến
trình của Hiệp định Paris và quá trình thi hành Hiệp định nên rất sống động;
nguồn thông tin phong phú, chi tiết. Qua các công trình này, có thể hình dung
một cách khá toàn diện, rõ nét diễn biến của quá trình đấu tranh ngoại giao. Tuy
nhiên, do mang tính chất hồi ký, nên một số sự kiện chưa hoàn toàn chính xác,
cần có sự xác minh, đối chiếu cẩn trọng khi sử dụng.
- Các công trình mang tính chất biên niên
Biên niên lịch sử Chính phủ 1945 – 2005 [5]; Việt Nam những sự kiện
lịch sử 1945 – 1975, tập II, 1965 – 1975 [121]; Lịch sử biên niên xứ ủy Nam
Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 - 1975) [84]…
Các cuốn sách này đã tập hợp theo thứ tự thời gian các sự kiện quan
trọng trong lịch sử Việt Nam sau khi có chính quyền. Vì là các công trình biên
niên, nên không có các bình luận, đánh giá sự kiện, song, sự tập hợp đầy đủ các
sự kiện lịch sử nói chung, ngoại giao nói riêng của các công trình này đã có
đóng góp đáng kể cho các nghiên cứu lịch sử và lịch sử ngoại giao. Các công
trình này là tư liệu tra cứu hiệu quả cho tác giả luận văn trong quá trình nghiên
cứu.



hoạt động đối ngoại của CPCMLTCHMNVN qua hai giai đoạn: 1969 – 1972;
1973 – 1975.
-

Hệ thống hóa, khái quát hóa những tư liệu đã có, bổ sung thêm những

tư liệu mới, khôi phục một cách khách quan các hoạt động đối ngoại chủ yếu
của CPCMLTCHMNVN dưới sự lãnh đạo của Đảng qua hai giai đoạn: 1969 –
1972; 1973 – 1975.
-

Nêu lên những thành tựu, hạn chế và đúc rút những kinh nghiệm lịch

sử từ quá trình Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của những năm
1969 – 1975.
4.

Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu
Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động đối ngoại của
CPCMLTCHMNVN từ năm 1969 đến năm 1975.
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những đường lối, chủ trương cơ bản của
Đảng trong quá trình chỉ đạo CPCMLTCHMNVN tiến hành các hoạt động đối
ngoại và những sự kiện chính, quan trọng, những mốc lớn trong hoạt động đối
11


ngoại của CPCMLTCHMNVN trong phạm vi thời gian từ năm 1969 (thời điểm

Đề tài có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu về quan hệ quốc tế, về đối

ngoại của Đảng và Nhà nước VNDCCH và của CPCMLTCHMNVN; đồng
thời, phục vụ công tác giảng dạy lịch sử và những môn học có liên quan.

12


-

Nguồn tài liệu tham khảo mà luận văn sưu tầm, khai thác và giới thiệu

là nguồn tư liệu có giá trị, có thể sử dụng phục vụ việc nghiên cứu về ngoại
giao, về quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
7.

Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết:
Chương 1. Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1972
Trong chương 1, luận văn tập trung làm rõ những yêu cầu lịch sử đối với
việc thành lập CPCMLTCHMNVN trong giai đoạn lịch sử mới; đồng thời đi
sâu phân tích những hoạt động đấu tranh ngoại giao của CPCMLTCHMNVN
dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN trên ba nội dung chính: 1). Tranh thủ sự công
nhận quốc tế; 2). Đấu tranh trên bàn đàm phán Hội nghị Paris; 3). Đấu tranh tố
cáo tội ác của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn bên ngoài bàn đàm phán.
Chương 2. Đảng lãnh đạo hoạt động đối ngoại của Chính phủ Cách
mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam từ năm 1973 đến năm 1975

đường lối và chỉ đạo thực hiện của ĐCSVN đối với hoạt động đối ngoại của
CPCMLTCHMNVN. Trong quá trình đó, bên cạnh những thành tựu nổi bật,
vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Những nhận xét đó là cơ sở để luận
văn đúc rút một số kinh nghiệm chủ yếu vận dụng vào thời kỳ hiện tại.

13


Chƣơng 1
ĐẢNG LÃNH ĐẠO HOẠT ĐỘNG ĐỐI NGOẠI CỦA CHÍNH
PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA MIỀN NAM VIỆT NAM
TỪ NĂM 1969 ĐẾN NĂM 1972

1.1. SỰ RA ĐỜI CỦA CHÍNH PHỦ CÁCH MẠNG LÂM THỜI CỘNG HÒA
MIỀN NAM VIỆT NAM

1.1.1. Yêu cầu lịch sử đối với việc thành lập Chính phủ Cách mạng
lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam
Từ giữa những năm 60 (XX), các nước XHCN đã đạt được nhiều thành
tựu trong xây dựng kinh tế, phát triển khoa học – kỹ thuật và tăng cường khả
năng quốc phòng. Tính đến năm 1967, hệ thống các nước XHCN đã chiếm hơn
1/3 sản lượng công nghiệp thế giới [31, tr. 188-189]. Tốc độ phát triển của các
nước XHCN thuộc Hội đồng Tương trợ kinh tế (SEV) tăng trung bình cao hơn
so với các nước TBCN trong Tổ chức các nước kinh tế phát triển. Điều đó đã
giúp cho các nước XHCN đương đầu với sự bao vây, phá hoại về kinh tế của
CNĐQ và là cơ sở để giúp đỡ các nước mới giành độc lập bảo vệ những thành
quả cách mạng của mình. Cho đến thời điểm cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn ác liệt, thì phe XHCN đã hình
thành và “trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người” [36,
tr. 94]. Điều đó có tác dụng cân bằng tương quan so sánh lực lượng có lợi cho

Xô tuyên bố ủng hộ Chính phủ VNDCCH, ủng hộ Chính sách 10 điểm của
MTDTGP, coi đó là “những đề nghị chính đáng và hợp lý” và “kiên quyết ủng
hộ những đề nghị đó” [12, tr. 217]. Dù không tán thành việc chúng ta đàm phán
với Mỹ, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ
của nhân dân ta, sau này, đến giữa những năm 60 (XX), chuyển dần sang ủng
hộ chủ trương vừa đánh, vừa đàm của Việt Nam.
Bên cạnh đó, nội bộ phe ĐQCN cũng có sự biến đổi lớn trong lực lượng
so sánh giữa đế quốc Mỹ và các đế quốc khác.
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mỹ trở thành đế quốc giàu có nhất,
chiếm ưu thế tuyệt đối về mọi mặt trong thế giới tư bản, tuy nhiên, khi Mỹ
15


tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên và sau đó sa lầy trong chiến tranh Việt
Nam thì các nước tư bản khác đã tranh thủ cơ hội vươn lên xây dựng kinh tế,
thoát khỏi tình trạng lệ thuộc vào Mỹ, thậm chí nhiều nước trở thành những
địch thủ nguy hiểm của Mỹ trên mặt trận kinh tế (Pháp, Anh, Nhật Bản), mà sự
ly tâm đầu tiên trong thế giới tư bản chính là thuộc về nước Pháp. Pháp đã thể
hiện sự độc lập trong quan hệ của mình mà không bận tâm đến thái độ của Mỹ
bằng việc công nhận CHND Trung Hoa (năm 1964), sau đó cắt đứt quan hệ
ngoại giao với Đài Loan do Mỹ ủng hộ, quyết định rút quân ra khỏi các lực
lượng quân sự nhất thể hóa trong NATO, không chấp nhận trụ sở NATO đóng
trên đất Pháp, đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược ở Việt Nam, củng cố
quan hệ với Liên Xô và các nước XHCN khác. Với những hành động đó, Pháp
được coi là “kẻ ương ngạnh” trong liên minh quân sự do Mỹ đứng đầu. Tương
tự Pháp, từ năm 1965, CHLB Đức đã đẩy mạnh quan hệ với các nước XHCN.
Tháng 8 – 1970, Hiệp ước Liên Xô – CHLB Đức được ký kết, khẳng định
chính sách hòa bình, thừa nhận các đường biên giới hiện tại ở châu Âu và
không dùng quân sự làm thay đổi tình hình châu Âu. Như vậy, Mỹ đã không
còn khống chế được hai nước Tây Âu lớn là Pháp và Đức như trước nữa.

nên phức tạp hơn khi Pháp và Tây Đức cũng đấu tranh đòi Mỹ chia sẻ quyền
lực; các đồng minh khác cũng đòi độc lập hơn với Mỹ. Bên cạnh đó, các cuộc
khủng hoảng tiền tệ trong thế giới tư bản và các cuộc “chiến tranh kinh tế”
ngày một gay gắt. Sau thất bại quân sự năm 1968 và trước xu thế Mỹ phải
xuống thang chiến tranh ở Việt Nam, quan hệ giữa Mỹ và các nước chư hầu có
quân tham chiến ở Việt Nam cũng bớt gắn bó.
Tại các nước tư bản, cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động vì các quyền dân sinh, dân chủ và hòa bình cũng phát triển với quy
mô rộng lớn. Tình hình suy thoái kinh tế, lạm phát và thất nghiệp đã đẩy quần
chúng lao động vào cảnh nghèo khổ, làm nảy sinh các cuộc bãi công đòi dân
sinh, dân chủ. Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào Việt Nam và thất bại buộc phải
xuống thang chiến tranh, thì một nội dung nổi bật của phong trào đấu tranh tại
các nước tư bản là chống chiến tranh Việt Nam. Nội dung này đã thu hút được
sự quan tâm của đông đảo các tầng lớp nhân dân như Đảng nhận định: “Ngay
những vấn đề thiết thân đối với nhân dân các nước tư bản cũng không tập hợp
được quần chúng đông đảo như vấn đề Việt Nam” [36, tr. 84].

17


Trong nội bộ nước Mỹ, những mâu thuẫn cũng ngày một phát triển sâu
sắc sau những thất bại của Mỹ trên chiến trường Đông Dương. Những khó
khăn chưa có chính sách giải quyết trong vấn đề tài chính do các cuộc khủng
hoảng kinh tế 1960 – 1961, 1964 – 1965, 1969 – 1970, trong vấn đề người da
đen, da đỏ - hậu quả của nạn phân biệt chủng tộc, vấn đề đô thị, tình trạng thất
nghiệp, lạm phát trầm trọng, khiến niềm tin của nhân dân vào chính quyền bị
suy giảm. Đặc biệt, phong trào phản chiến ở Mỹ dâng lên mạnh mẽ và có bước
phát triển về chất so với các giai đoạn trước. Ý thức chống chiến tranh Việt
Nam đã thâm nhập sâu hơn trong các tầng lớp nhân dân, trong xã hội Mỹ, khiến
vấn đề Việt Nam trở thành một trong những vấn đề mấu chốt gây mất ổn định

nhiệm” với Mỹ để chống lại phong trào cách mạng thế giới, ổn định tình hình
nội bộ, duy trì lực lượng quốc phòng, giữ thế cân bằng và răn đe, khai thác, lợi
dụng mâu thuẫn các nước XHCN, chia rẽ, lôi kéo các nước lớn, mua chuộc, uy
hiếp các nước nhỏ.


Việt Nam, Tổng thống R. Nixon buộc phải xuống thang chiến tranh,

thực hiện “phi Mỹ hóa chiến tranh” - thực chất là thực hiện chiến lược “Việt
Nam hóa chiến tranh” ở miền Nam, mở rộng chiến tranh sang Campuchia, tiến
đánh lực lượng giải phóng quân ở Lào, thực hiện âm mưu “Đông Dương hóa
chiến tranh”, “dùng người châu Á đánh người châu Á”, biến Đông Dương
thành một chiến trường. Kế hoạch của Mỹ là thực hiện chiến lược chiến tranh
tổng lực, đầu tư mạnh, hy vọng vực dậy quân đội Sài Gòn có đủ sức đảm nhiệm
dần các công việc trước khi lính Mỹ và quân chư hầu “rút lui trong danh dự”
nhờ vào cố gắng đàm phán ngoại giao – như Mỹ tính toán. Với chiến lược này,
Mỹ đã sử dụng tối đa sức mạnh quân sự kết hợp với những thủ đoạn chính trị,
ngoại giao, hòng giành thế mạnh, cô lập và bóp nghẹt cuộc kháng chiến của
nhân dân ta. Bằng cách tuyên bố về các đợt rút quân nhỏ giọt, Tổng thống R.
Nixon hy vọng vừa có thời gian để xây dựng ngụy quân, ngụy quyền đủ mạnh,
xoa dịu phong trào phản chiến đang lên cao trong lòng nước Mỹ và trên thế
giới, vừa có thể chuyển được sức ép dư luận sang phía VNDCCH, tạo lợi thế
trên bàn đàm phán. Trên lĩnh vực đối ngoại, chính quyền Mỹ thực hiện chính
sách “tiến công hòa bình” với quy mô chưa từng có trong hoạt động ngoại giao
19


của nước Mỹ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mục đích của chính sách ngoại
giao này là lôi kéo sự tham gia của các nước Tây Âu, Bắc Âu, châu Phi, châu
Á, một số nước XHCN, các nước Không liên kết… làm trung gian trong vấn đề

quốc Mỹ đặt mục tiêu phá vỡ khối đoàn kết thống nhất của dân tộc Việt Nam,
khối đoàn kết ba dân tộc Đông Dương; ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc đối
với miền Nam; cản trở sự ủng hộ của Mặt trận nhân dân thế giới đối với cuộc
kháng chiến của nhân dân ta.
Bên cạnh việc tăng cường hoạt động quân sự, đẩy mạnh bình định nông
thôn, đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn ra sức lôi kéo, tập hợp các phe phái
tay sai, nhất là lực lượng phản động trong các tôn giáo, các đảng phái để tạo
chỗ dựa. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã dùng mọi thủ đoạn để mua chuộc
lãnh tụ các đảng phái chính trị với lời kêu gọi tập hợp xung quanh chính phủ,
đoàn kết các phe phái để chống lại cộng sản. Chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
lôi kéo các phe phái chính trị và tôn giáo (như Đại Việt cách mạng, Việt Nam
dân chủ xã hội Đảng, Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam nhân xã Đảng) đứng
dưới lá cờ Mặt trận quốc gia xã hội dân chủ mới được thành lập.
Trước tình hình đó, Hội nghị BCHTƯ Đảng lần thứ 16 (5 – 1969), Hội
nghị BCT (5 – 1969) đã phân tích tình hình miền Nam khẳng định những thắng
lợi to lớn; đồng thời, cũng chỉ ra những thiếu sót của ta. Các Hội nghị cũng xác
định các mũi tiến công chiến lược trong thời kỳ mới, trong đó, tiến công quân
sự là rất cơ bản, giữ vị trí ngày càng quan trọng; tiến công chính trị cũng rất cơ
bản và đang có khả năng rất to lớn; tiến công ngoại giao có ý nghĩa chiến lược
quan trọng. Phải nắm vững thời cơ, phối hợp tiến công quân sự với tiến công
chính trị, tiến công liên tục, sắc bén, kiên trì nguyên tắc, khéo vận dụng sách
lược, vừa kiên quyết vừa linh hoạt, buộc Mỹ phải rút quân và nhận một giải
pháp chính trị đáp ứng yêu cầu cơ bản của ta.
Từ khi ra đời, MTDTGPMN đã trở thành người đại diện chân chính duy
nhất của nhân dân miền Nam Việt Nam. Mặt trận đã “đoàn kết tất cả các tầng
lớp nhân dân, các giai cấp, các dân tộc, các đảng phái, các đoàn thể, các tôn
giáo, các nhân sĩ yêu nước ở miền Nam Việt Nam, không phân biệt xu hướng
chính trị để đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tập đoàn tay sai
21


tổ chức bầu cử được thì lập Hội đồng quân dân xã.
22


Chủ trương của Trung ương Cục và Ủy ban Trung ương MTDTGPMN
được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt. Chỉ sau 6 tháng thực hiện các chỉ thị trên,
chính quyền cách mạng ở các cấp được xây dựng rộng rãi. Theo số liệu chưa
đầy đủ, đã có tới 516/1800 xã được xây dựng chính quyền; chính quyền cấp
huyện được xây dựng trong 21/170 huyện; 3/44 tỉnh (Cà Mau, Gia Lai, Mỹ
Tho) đã có chính quyền [47, tr. 412]. “Chính quyền cách mạng được thành lập
một cách dân chủ dưới bom đạn ác liệt của quân thù” và “thật sự đem lại cho
đồng bào quyền dân chủ, dân sinh, quyền sống tự do, bình đẳng, quyền được
thương yêu đùm bọc lẫn nhau, sống với nhau đầy tình người” [47, tr. 412].
Chính quyền cách mạng được hình thành, đã góp phần to lớn cho việc củng cố
và mở rộng khối đoàn kết dân tộc ở miền Nam.
Đứng trước những diễn biến mang tính bước ngoặt của tình hình trong
và ngoài nước, trước sự ngoan cố, liều lĩnh của quân đội Sài Gòn dưới sự hỗ trợ
của Mỹ và yêu cầu của cách mạng là phải đoàn kết hơn nữa mọi lực lượng cho
cuộc kháng chiến, trong đó không loại trừ lực lượng trung lập, trong và ngoài,
làm cho cán cân chính trị miền Nam nghiêng hẳn về phía cách mạng, cách
mạng miền Nam phải có những bước đi chiến lược, sách lược phù hợp với đòi
hỏi thực tiễn, giải quyết tốt những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Đặc biệt, để đoàn
kết được mọi tầng lớp nhân dân miền Nam, tranh thủ cao nhất sự ủng hộ của
mọi lực lượng yêu chuộng hòa bình trong nước và quốc tế, không phân biệt chế
độ chính trị, cần phải thành lập một chính phủ yêu chuộng hòa bình, trung lập.
Lúc này, vấn đề thành lập chính quyền trung ương trở thành yêu cầu cấp bách
cả về đối nội lẫn đối ngoại và trên thực tế đã có những điều kiện để thành lập
một chính quyền như vậy - đó là ở miền Nam đã có vùng giải phóng rộng lớn,
có lực lượng vũ trang cách mạng lớn mạnh, có lực lượng chính trị hùng hậu
thống nhất trong mặt trận đoàn kết dân tộc rộng rãi. Yêu cầu lịch sử đặt ra cho

ngày 11 – 2 – 1969, BCT đã gửi thư chỉ đạo cho các đồng chí Trung ương Cục
về đẩy mạnh phong trào đấu tranh tiến tới thành lập Mặt trận thứ ba gồm những
lực lượng đứng giữa các xu hướng yêu nước chân chính chống bọn phản động
cực đoan tay sai của đế quốc Mỹ. Trong thư, BCT đã gợi ý một số ý kiến:
“Trong quá trình vận động thành lập Mặt trận thứ ba, ta nên tổ chức hiệp
24


thương giữa Mặt trận dân tộc giải phóng và Liên minh để thảo luận việc lập
chính phủ liên hiệp lâm thời và đề ra cương lĩnh hành động của chính phủ đó”
[84, tr. 716]. BCT đề cao ý nghĩa của việc thành lập Chính phủ liên hiệp lâm
thời, coi “chủ trương này là một mũi tiến công sách lược lớn của ta, nó có mặt
lợi là góp phần triệt để phân hóa địch, đẩy mạnh phong trào quần chúng ở các
thành thị miền Nam, thúc đẩy việc hình thành và sớm lập được Mặt trận thứ ba
làm cho Mỹ càng thêm lúng túng, bị động, đối với thế giới thì làm sáng tỏ thiện
chí của ta” [84, tr. 717].
Sau một thời gian chuẩn bị kỹ càng, được sự chỉ đạo trực tiếp của BCT,
ngày 23 – 5 – 1969, đoàn đại biểu Ủy ban Trung ương MTDTGP và đoàn đại
biểu Ủy ban Trung ương Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình
Việt Nam đã họp Hội nghị hiệp thương, bàn bạc những vấn đề trọng yếu về
kháng chiến và xây dựng đất nước, đã nhất trí triệu tập Đại hội đại biểu quốc
dân miền Nam để cử ra CPCMLTCHMNVN. Từ ngày 6 – 6 đến ngày 8 – 6 –
1969, Đại hội đại biểu quốc dân toàn miền Nam đã khai mạc trọng thể tại vùng
Tà Nốt (Tây Ninh). Thành phần tham gia Đại hội gồm 72 khách mời, 88 đại
biểu, đại diện cho các chính đảng, dân tộc, tôn giáo, các tầng lớp nhân dân và
lực lượng vũ trang cách mạng trên toàn miền Nam. “Tất cả các đoàn đại biểu,
các vị khách họp lại thành một đội ngũ thống nhất trong không khí đoàn kết
chiến đấu vì tiền đồ và tương lai tươi sáng của dân tộc, thể hiện truyền thống
bất khuất quyết đánh thắng ngoại xâm của hội nghị Diên Hồng, của Đại hội
Tân Trào lịch sử, tiêu biểu cho ý chí nguyện vọng của 14 triệu nhân dân miền


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status